Chi tiết tin tức

Vài cảm nhận về truyện ngắn dự thi viết về đề tài người lính và chiến tranh cách mạng

18/11/2013

ĐOÀN MINH TÂM

Như thường lệ, đến hẹn lại lên, vào đầu năm 2013, Tạp chí Văn nghệ Quân đội (VNQĐ) mở cuộc thi truyện ngắn – “đặc sản” làm nên thương hiệu của Tạp chí và nhiều nhà văn. Cuộc thi lần này được tổ chức nhằm chào mừng 70 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam và 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ nên càng có ý nghĩa đặc biệt. Là một người lính, hâm mộ tạp chí trong nhiều năm, tôi không bỏ sót một truyện ngắn dự thi nào, đặc biệt là các truyện viết về đồng chí, đồng đội mình.

Tính từ số Tạp chí đăng truyện ngắn dự thi đầu tiên (VNQĐ 768) cho đến VNQĐ số 781 tôi cầm trên tay đã có đến 13 truyện ngắn viết về đề tài người lính và chiến tranh cách mạng. Như vậy trung bình mỗi số Tạp chí đều có một truyện ngắn dự thi thuộc mảng đề tài này. Điều này chứng tỏ người lính và chiến tranh cách mạng vẫn luôn là đề tài “ruột” của tạp chí và thu hút được sự tham gia của đông đảo người viết.

Ở mảng đề tài chiến tranh cách mạng, đáng chú ý có sự xuất hiện của ba truyện ngắn Âm thanh của ký ức (VNQĐ 774) của Doãn Dũng, Hoài niệm U Đôm Xay (VNQĐ 769) của Lê Mạnh Thường và Vì sao tuổi thơ (VNQĐ 773) của Phùng Kim Trọng. Ba truyện ngắn này đều không lấy cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc để làm “phông nền” cho sự phát triển của tác phẩm như các truyện ngắn cùng đề tài khác mà lựa chọn những chiến trường “ít được nhắc đến hơn” để khắc họa hình ảnh người lính Cụ Hồ.

Hoài niệm U Đôm Xay  của Lê Mạnh Thường là câu chuyện tình cảm động giữa người lính Việt Nam với cô gái nước bạn Lào xinh đẹp. Trong thời gian thực hiện nhiệm vụ ở nước bạn, hai người lính trẻ Việt Nam cùng yêu một cô gái. Và cô gái đã chọn chàng trai không phải đẹp trai nhất, hào hoa nhất mà là người chân tình nhất, dũng cảm vượt qua mọi khó khăn để đến với tình yêu nhất. Truyện có cái cốt nhẹ nhàng, giản dị, nồng ấm đúng với tính chất “hoài niệm”. Một câu chuyện tô thắm thêm tình hữu nghị giữa người dân hai nước Việt – Lào anh em.

Đối lập với những chi tiết nhẹ nhàng, mang âm hưởng lãng mạn của Hoài niệm U Đôm Xay, Vì sao tuổi thơ của Phùng Kim Trọng lại có nhiều chi tiết “nghẹt thở” đầy kịch tính lột tả một cách chân thực những hiểm nguy mà quân tình nguyện Việt Nam phải đối mặt khi sang giúp nước bạn Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng như cô gái Avi cài mìn vào giày hòng sát hại trung đội trưởng Nhân, chỉ điểm vị trí đóng quân của quân tình nguyện cho tàn quân Pôn Pốt dội đạn cối vào… Có thể nói Vì sao tuổi thơ là một truyện ngắn đáng đọc viết về quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia.

Viết về cuộc chiến đấu của bộ đội ta trong chiến tranh biên giới, Doãn Dũng đã tạo ấn tượng mạnh với Âm thanh của ký ức. Truyện ngắn được tác giả dụng công đến từng chi tiết nhỏ theo thủ pháp điện ảnh. Nổi bật lên trong truyện là hình ảnh đại đội trưởng Toại. Doãn Dũng đã xây dựng nhân vật này trên cảm hứng mỹ học về cái bi. Cái bi trong  Âm thanh của ký ức được tạo nên bởi sự hòa quyện giữa ba xúc cảm mỹ học gắn với ba mối quan hệ của đại đội trưởng Toại. Với gia đình, cái bi gắn với cái cảm. Con thơ dại, bố mẹ mất sớm, vợ bỏ vì không thể chịu được cuộc sống vừa nghèo khổ về vật chất vừa thiếu thốn về tình cảm “có chồng cũng như không”, đại đội trưởng Toại là người không hạnh phúc trong cuộc sống gia đình. Với đồng đội, cái bi hòa cùng cái nghĩa. Biết Hanh tự làm mình bị thương để trốn khỏi trận đánh ác liệt đang ở phía trước nhưng Toại vẫn giả bộ không biết. Anh để cho người đồng đội có thời gian tự nhận thức, tự xem xét lại bản thân. Và Hanh đã quay trở lại chiến trường, chiến đấu bằng tất cả sự quả cảm của một người lính. Và sau cùng, với Tổ quốc, cái bi quyện cùng cái dũng. Khi biết không thể trụ vững trước sức công phá của quân địch, anh đã chủ động xin trung đoàn bắn pháo hỗ trợ, chấp nhận hy sinh để bảo vệ mảnh đất biên cương của Tổ quốc. Ba mối dây liên hệ gia đình – đồng đội – Tổ quốc được khắc họa bằng ba cảm xúc mỹ học cảm  – nghĩa – dũng tạo thành một chất bi thuần khiết tôn vinh vẻ đẹp của người lính Cụ Hồ. Có thể coi đây là truyện ngắn xuất sắc trong cuộc thi này.

Ở các truyện ngắn tựa vào bối cảnh truyền thống là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước như Một… Hai... Ba… Bốn (VNQĐ 768) của Từ Nguyên Tĩnh, Tiếng chim gọi trên sông (VNQĐ 779) của Hoàng Hải Lâm, Người đi tìm cánh tay (VNQĐ 776) của Vũ Thanh Lịch… chúng ta thấy nổi lên hai đặc điểm đáng chú ý sau:

Thứ nhất, có sự cân bằng trong việc miêu tả hình ảnh người lính thời chiến và thời bình. Ngoại trừ Nửa ngày chiến tranh của Dương Đức Khánh gói trọn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, các truyện ngắn còn lại đều miêu tả người lính trong không – thời gian trải dài từ thời kháng chiến đến những ngày đất nước thống nhất, hòa bình. Trong thời chiến, các chiến sĩ phòng không như Hưng, Dân (Một… Hai... Ba… Bốn của Từ Nguyên Tĩnh) trước mưa bom bão đạn trút xuống từ những chiếc máy bay F4H và A3J của kẻ thù vẫn kiên cường bám trụ bảo vệ vững chắc cây cầu. Hòa bình lập lại, Hưng sống bằng công việc của người sửa xe với đồng lương thương binh chỉ bằng một phần ba của bạn còn Dân vĩnh viễn mang vết thương lòng nhức nhối bởi sự hy sinh của người yêu. Tiếng rao của Văn Xương tái hiện phẩm chất anh dũng, gan dạ của người lính đặc công nhận nhiệm vụ trinh sát tàu chiến địch trong thời chiến và những day dứt của người lính ấy khi trở về với đời thường, vì công việc của riêng mình đã có hành động phũ phàng đối với ân nhân cứu mạng vốn là người của phía bên kia. Mất tích của Nguyễn Thái Sơn vừa ngợi ca chiến công thầm lặng của người lính canh giữ kho quân khí giữa rừng già sâu thẳm, mười mấy năm trời không nghe thấy một thanh âm của con người, vừa hé mở cho bạn đọc những góc khuất, nghi ngờ, bất công mà người lính coi kho đó phải chịu đựng vì tệ “thủ tục hành chính quan liêu” cùng thói quen cứng nhắc trong giải quyết công việc của một bộ phận cơ quan công quyền. Chiếc áo màu hồng ngọc của Trần Văn Đẳng là câu chuyện về người lính lái xe năm xưa – người lái taxi hiện giờ trước những sự thật xa xót về người bạn chiến đấu nay đã tha hóa, về người yêu xinh đẹp ngày nào giờ phải sống cuộc đời tàn tạ, héo úa.

Sự cân bằng trong việc miêu tả hình ảnh người lính trong chiến đấu và trong đời thường theo tôi là xu thế tất yếu của truyện ngắn nói riêng và các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh cách mạng nói chung.

Thứ hai, thủ pháp huyền ảo được nhiều tác giả sử dụng như công cụ chính trong việc khắc họa hình ảnh người lính. Tuy cùng một thủ pháp, nhưng mục đích, ý tưởng của mỗi tác giả rất khác nhau. Hình ảnh cô gái coi kho quân khí đã mất năm nào (Bức tranh vẽ dở - Vũ Minh Nguyệt) và linh hồn người chiến sĩ trẻ phiêu bạt nơi triền sông (Tiếng chim gọi trên sông - Hoàng Hải Lâm) là những điệp khúc nhấn nhá, day đi day lại cái khát vọng chính đáng rất “con người” của những chiến sĩ “khi ngã vào lòng đất vẫn con trai”: đó là khát vọng được yêu thương, được gần gũi về thể xác với người yêu. Các chi tiết huyền ảo trong Người đi tìm cánh tay của Vũ Thanh Lịch như giấc mơ báo mộng, quả trứng và cây đũa tre dùng cho việc tìm mộ… nhằm tái hiện cả một thời trận mạc đau thương và hào hùng của một thế hệ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”.

Trong số mười ba truyện ngắn, có hai truyện ngắn viết về đề tài người lính hôm nay. Một tỷ lệ còn khiêm tốn, phản ánh một thực tế rằng viết về người lính hôm nay luôn là thách thức, khó khăn không nhỏ đối với các cây bút trong và ngoài quân đội.

Có thể coi Lính cậu của Trần Đức Tĩnh (VNQĐ 779) như “tấm bản đồ” hướng dẫn chi tiết cho những người lính trong những ngày đầu nhập ngũ. Là người trưởng thành trong quân đội, Trần Đức Tĩnh rất am hiểu mọi “ngóc ngách” trong đời sống sinh hoạt của người lính. Anh miêu tả đời sống trong doanh trại của họ sống động bằng giọng văn hóm hỉnh. Dẫu còn một vài điểm chưa được xử lý kỹ nhưng tôi tin Lính cậu vẫn là tác phẩm đem lại niềm thích thú cho những người lính trẻ. Mây không bay về trời (VNQĐ 778) của tác giả Tống Ngọc Hân gợi nhớ đến trận cháy rừng kinh hoàng vùng núi Tây Bắc dịp Tết năm nào. Trên nền khói lửa dữ dội, tác giả khéo léo lồng vào hình ảnh hai người lính với tâm trạng cũng như “lửa đốt”. Là anh em nhưng mối liên hệ giữa họ không phải tình máu mủ mà là mối ghen tuông, oán hận nghiệt ngã giữa hai người mẹ trong việc tranh giành “quyền sở hữu” một người cha. Tình cờ nhập ngũ cùng một đơn vị, cùng tham gia dập giặc lửa giúp dân và cùng bị lạc, hai người con cùng cha khác mẹ đã đối mặt với hoàn cảnh nguy hiểm và trớ trêu. Nhưng trong lằn ranh giữa cái sống và cái chết, tình thương thay thế cho thù hận, tình đồng đội vượt lên sự nhỏ nhen ích kỷ. Qua trận cháy rừng họ không chỉ tìm lại nhau với tư cách người thân mà còn với tư cách những người đồng chí, đồng đội. Đây là truyện ngắn hay viết về người lính hôm nay.

Trên đây là một vài cảm nhận của tôi về truyện ngắn dự thi viết về người lính và chiến tranh cách mạng trên Văn nghệ Quân đội 2013-2014. Cuộc thi mới diễn ra chưa được một nửa chặng đường. Hy vọng rằng ở những chặng tiếp theo sẽ bắt gặp thêm những truyện ngắn hay về đề tài này

Đ.M.T