BÚP SEN XANH (1) - TIỂU THUYẾT CỦA NHÀ VĂN SƠN TÙNG PHẢN ÁNH SINH ĐỘNG NGUỒN GỐC CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Thứ năm - 27/09/2018 03:33
Đọc tiểu thuyết " Búp sen xanh" của nhà văn Sơn Tùng, ta hiểu biết về tuổi thơ, tuổi niên thiếu và tuổi mới trưởng thành của một con người vĩ đại, yêu quý nhất của dân tộc ta - Hồ Chí Minh. Chúng ta càng hiểu rõ gia cảnh, hoàn cảnh lúc Người mới sinh, lớn lên, trưởng thành. Môi trường sống, học tập, trong gia đình, nhà trường và ngoài xã hội. Một môi trường khá đặc biệt để cho những phẩm chất đạo đức, tư tưởng hình thành và phát triển. Chúng ta có thể khẳng định những phẩm chất đạo đức, tư tưởng mà Người được tiếp thu, rèn luyện từ gia đình, quê hương, nhà trường, xã hội là nguồn gốc cơ bản của đạo đức, tư tưởng của lãnh tụ Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới kiệt xuất. Đó là di sản tinh thần vô giá mà Bác để lại cho nhân dân ta, dân tộc ta. Chúng ta cần nghiên cứu, giữ gìn, phát huy, phấn đấu học tập, làm theo tấm gương đạo đức, tư tưởng của Người.
 
bup sen xanh u4972 d20170510 t162724 138769


Đọc tác phẩm " Búp sen xanh", chúng ta thấy rõ Bác là một con người thực như nhiều người Việt Nam khác. Bác sinh ngày 19 tháng 5 , tức là ngày 1 tháng 4 năm Canh Dần 1890, tại làng Chùa, ( tên chữ Hoàng Trù), xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Người sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo. Ông ngoại là thầy đồ Hoàng Xuân Đường dạy chữ nho, bà ngoại Nguyễn Thị Kép làm ruộng, nội trợ, chăm lo mọi việc trong gia đình. Cha là Nguyễn Sinh Sắc, lúc đó còn là nho sinh đang đi học vừa dạy chữ nho, vừa bốc thuốc chữa bệnh; mẹ là bà Hoàng Thị Loan làm ruộng, dệt vải. Dì Hoàng Thị An, em mẹ của Người lúc ấy đang thời con gái. Chị gái của Người là Nguyễn Thị Thanh hơn Người 6 tuổi và người anh trai Nguyễn Sinh Khiêm hơn Người 2 tuổi. Người được sống trong một căn nhà gỗ lá đơn sơ, cạnh nhà ông ngoại, bốn bên có luỹ tre bao bọc che chắn gió mưa.

Những năm đầu tuổi thơ, trong khoảng thời gian ( 1890 - 1895 ), Người được chăm sóc, nuôi dưỡng tại làng Chùa. Sau đó, ông Nguyễn Sinh Sắc vào Huế học tập để chuẩn bị thi Hội lần 2, có đưa gia đình gồm vợ và hai con trai nhỏ đi theo; Người được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, tại Huế trong khoảng thời gian ( 1895 - 1900 ). Sau khi mẹ Nguyễn Thị Loan qua đời, em trai Nguyễn Sinh Nhuận mất, Người được đưa về sống với bà ngoại Nguyễn Thị Kép ở làng Chùa, khi ông Nguyễn Sinh Sắc đỗ Phó bảng, làng Kim Liên cấp ruộng, làm nhà cho thì Người được chuyển về bên nội, đó là khoảng thời gian 1901 - !904. Khi ông Nguyễn Sinh Sắc buộc phải nhận chức quan Thừa biện Bộ lễ có đưa hai người con trai theo, Người được cha cho theo học Trường Tiểu học Pháp - Việt và sau đó là Trường Quốc học cùng với người anh trai của mình. Tại đây, Người tham gia biểu tình cùng nhân dân chống sưu thuế của Pháp tại Huế. Sau đó, bị  chính quyền thực dân truy bắt, buộc phải" đầu thú", Người thôi học, vào làm giáo viên Trường Dục Thanh tại Phan Thiết một thời gian.Tiếp theo, Người vào bến cảng Nhà Rồng làm phu khuân vác và lên tàu ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Khoảng thời gian đó tính từ năm 1905 đến tháng 6 năm 1911.

Tác phẩm " Búp sen xanh" chia thời gian thành các phần: tuổi ấu thơ, tuổi thiếu niên, tuổi hai mươi. Trong các phần ấy, nhà văn Sơn Tùng đã phản ánh rất chân thực, sinh động bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh gia đình, các mối quan hệ của Người với ông bà, cha mẹ, anh chị em, họ hàng ruột thịt; những mối quan hệ với những nhà cách mạng, thầy trò, bằng hữu, hàng xóm láng giềng...và những sự kiện, biến cố của cuộc đời. Khi ta tìm hiểu tác phẩm này, dễ tìm ra cái nguồn gốc của đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh, quá trình hình thành và phát triển, từ một con người trong tuổi ấu thơ, tuổi thiếu niên và tuổi hai mươi mới trưởng thành. Trong các mối quan hệ con người với con người, với truyền thống lịch sử đấu tranh, truyền thống văn hoá của dân tộc và của nhân loại, nó đã tác động đến tình cảm, tư tưởng của Người. Ta càng hiểu thêm nguyên nhân của đạo đức, tư tưởng lại có được ở Người làm cái nguồn  gốc, hay nền móng để sau này nó phát triển thêm, đầy đủ, hoàn thiện, vững chắc trở thành tinh hoa của dân tộc, nhân loại. Đạo đức, tư tưởng Hồ chí Minh đã được thử thách qua thực tiễn cách mạng, trở thành mặt trời soi sáng, sức mạnh tiềm tàng của mỗi con người, của cả dân tộc ta, vững bước tiến lên  thực hiện các mục tiêu của cách mạng và lý tưởng cao đẹp của Đảng ta.

Chúng ta thừa nhận, các nhân vật trong tác phẩm " Búp sen xanh" là những nhân vật có thật. Các nhân vật có thật được tác giả Sơn Tùng xây dựng thành các nhân vật văn học có đời sống tình cảm, tư tưởng, với các hoạt động như con người thực ngoài đời. Người đọc đồng sáng tạo với nhà văn, tái hiện ở trí óc mình  mỗi một con người trong hoàn cảnh sinh động nhất định với các mối quan hệ xã hội như đã từng xẩy ra. Qua các nhân vật ấy, ta có thể nhìn nhận, đánh giá đúng đắn những tư tưởng, tình cảm và những hành vi của họ đã tác động tới nhân vật Nguyễn Sinh Côn (2) ( bé Côn, Nguyễn Tất Thành) tên gọi thời thơ ấu, thời niên thiếu, tuổi thanh niên lúc mới trưởng thành của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh. 

Một lãnh tụ thiên tài, một danh nhân văn hoá không thể bỗng dưng xuất hiện, nó phải là kết quả của một sự giáo dục, đào tạo trong một môi trường văn hoá, trong bối cảnh lịch sử đấu tranh của quê hương, đất nước. Nó phải là sự kết tinh từ tư chất, thiên hướng, ý chí phấn đấu, tài năng của cá nhân con người. Bác Hồ của chúng ta, ngoài ba mươi tuổi đã trở thành lãnh tụ cộng sản tầm cỡ quốc tế, sau này trở thành Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá thế giới cũng là kết quả của sự giáo dục, đào tạo, của gia đình, nhà trường xã hội, trong môi trường văn hoá, hoàn cảnh lịch sử đặc biệt Việt Nam và thế giới; cũng là sự kết tinh những phẩm chất đạo đức, tư tưởng, ý chí , tài năng của chính cá nhân, thông qua sự tự học, rèn luyện, phấn đấu liên tục và bền bỉ của bản thân.

Trước hết, ta phải xét về nguồn gốc gia đình, ông bà, cha mẹ, những người thân thiết ruột thịt, những người đã trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục, đào tạo bé Côn ( Nguyễn Sinh Côn, Nguyễn Tất Thành). Cái nôi đầu đời tại làng Hoàng Trù và làng Kim Liên, cậu bé Côn sống trong khoảng gần 10 năm: từ 1890 đến 1895 và từ đầu năm 1901 đến 1904. Bé Côn được sinh ra, nuôi dưỡng, giáo dục trong gia đình nhà nho nghèo. Đó là đặc điểm riêng, khác biệt, ưu việt đối với bé Côn. Những tư chất thông minh bẩm sinh, di truyền từ các ông bà, cha mẹ là điều đáng quý, nhưng chỉ được phát triển, hoàn thiện trong sự giáo dục, đào tạo, trong sự nỗ lực học tập, rèn luyện của bản thân để đáp ứng với môi trường sống của con người yêu cầu của xã hội. Nếu tính từ nguồn cội, thì phải kể đến công lao của cụ Hoàng Xuân Đường, cụ Nguyễn Thị Kép,( Ông bà ngoại của Bác) hai cụ vừa có công nuôi dưỡng, giáo dục ông Nguyễn Sinh Sắc, bà Hoàng Thị Loan ( cha mẹ của Bác ) và tác thành cho hai người thành vợ chồng. Cụ Hoàng Xuân Đường là nhà nho mẫu mực, cụ không đỗ đạt cao nhưng đức trọng. Khi bé Côn mới lên ba,  đang tập nói thì cụ qua đời, những ảnh hưởng trực tiếp từ cụ tới bé Côn còn mờ nhạt. Nhưng hình bóng tư tưởng, tình cảm của cụ lại truyền sang người cha, những người thân yêu trong gia đình tác động đến Người. Cụ Nguyễn Thị Kép là người mẹ, người bà đáng kính, có công nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục ông Nguyễn Sinh Sắc từ năm 10 tuổi, yêu quý con cháu nhất mực đã ba lần bán ruộng cho con rể đi học đi thi, có công chăm sóc, dạy dỗ các cháu, nhất là khi con gái qua đời. Những tác động giáo dục của bà đến các con, các cháu là nuôi dưỡng, hun đúc ý chí học hành, tinh thần đấu tranh cứu nước, dạy dỗ các con cháu ý tứ trong cư xử vời người, sống nề nếp, lễ phép, đức độ, vị tha, thương yêu con người. Những ảnh hưởng của bà tới nhân cách của Nguyễn Sinh Côn - Nguyễn Tất Thành là rất lớn, những mặt ưu điểm của cụ, đã được người cháu tiếp nhận, duy trì nó trong đời sống thường ngày. Bà Hoàng Thị Loan mẫu thân của Người dưỡng dục con trong một thời gian hơn 10 năm. Bà cũng những đức tính quý báu như cụ Kép và cũng tác động đến bé Côn, tạo cho bé Côn những đức tính tốt đẹp như kiên trì, chịu đựng, vượt khó khăn, tính tự chủ, thương yêu bạn bè, quý trọng người trên, giữ gìn danh dự, lời ăn tiếng nói, kính yêu ông bà, cha mẹ, anh chị em...

Ảnh hưởng lớn nhất tới bé Côn - Nguyễn Tất Thành là từ ông Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của Người. Ông là người thông minh, có nghị lực, học vấn, tư cách cao thượng, yêu nước thương dân. Một trí thức lớn đã đề ra phương châm sống cho mình: "thượng y y quốc, trung y y dân" trong bối cảnh nước mất, dân nô lệ. Một trí giả đã phát hiện ra những mặt hạn chế của các nhà cách mạng Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, trong các phương lược cứu nước, phát hiện vấn đề về thời vận, biết cương, biết nhu, biết giữ khí tiết, nhân cách trong mọi hoàn cảnh. Mặc dù cụ chỉ nhận mình là người " trung y y dân"( thầy thuốc bậc trung chữa bênh cho dân) nhưng chỉ một câu nói trong một buổi bình văn tại Huế: "Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ hựu nô lệ " ( Quan trường là nô lệ trong đám dân nô lệ nên càng nô lệ nhất) cũng đã trở nên người" thượng y y quốc " (  thầy thuốc bậc cao chữa bệnh cho nước ) rồi. Hay trong một lần đàm đạo với Phan Bội Châu trước khi Phan bội Châu lên đường Đông du sang Nhật cụ nói: "Vọng ngoại tất vong" ( trông chờ vào bên ngoài tất thất bại) đó là bài học xương máu cho mọi người, mọi nhà, mọi thời đại... 

Đặc biệt ông rất quan tâm giáo dục các con trai, dành sự quan tâm lớn tới Nguyễn Sinh Côn - Nguyễn Tất Thành. Khi mới sinh, ông ngoại đặt tên cho con trai là Côn, tên một loài cá hoá chim bằng, " có chí vẫy vùng bốn bể, dù gặp truân chuyên  chìm nổi nhưng ắt thành công". Đó chỉ là ước mơ của ông ngoại Hoàng Xuân Đường, của người cha -  ông Nguyễn Sinh Sắc, nhưng để đạt được, những người ươm hạt giống phải chăm chút, vun sới cho thành hoa, thành quả. Ông Nguyễn Sinh Sắc rất mừng thấy bé Côn thông minh, trí nhớ tốt, hay xét đoán, có thiên tư khác thường. Trong khoảng 19 năm  bé Côn - Nguyễn Tất Thành được sống gần cha, được cha trực tiếp chăm sóc, dậy dỗ, nuôi chí cứu dân cứu nước. Sau đó, vào tuổi trưởng thành Nguyễn Tất Thành còn được gặp cha ba lần, một lần ở Bình Khê, nơi ông Nguyễn Sinh Sắc là quan tri huyện, hai lần ở Sàì Gòn, hai lần ông đều nhắc nhở con, mục tiêu cứu nước cứu dân. Coi việc cứu nước, cứu dân là trên hết. Những lời của ông cũng giống lời của ông Nguyễn Phi Khanh tại cửa ải Nam Quan đầu thế kỷ thứ XV. Khi nước ta bị giặc Minh xâm lược, bắt ông lưu đày sang Trung Quốc, ông đã nhắc nhở Nguyễn Trãi rằng, con có hiếu với cha phải tìm đường cứu dân cứu nước. Ông Nguyễn Sinh Sắc cũng vậy, nhắc nhở con: " Nước mất, con lo tìm đường cứu nước", lần cuối cùng ông thúc dục:" Con đừng gọi cha lúc này, con phải gọi Tổ quốc! Đồng bào! Đi...đi con!"

Để thực hiện chí lớn cứu nước cứu dân, con người phải có tài năng thực sự, có kế sách, mưu lược, có đạo đức lớn, để thu phục nhân tâm, biết chọn thời cơ, nắm bắt được các quy luật phát triển của các sự kiện, hiện tượng xã hội để chỉ đạo, điều hành dân chúng...Nghĩa là phải đóng vai trò một lãnh tụ có những đóng góp có tính chất quyết định cho thắng lợi của dân tộc, của nhân dân. Ông Nguyễn Sinh Sắc phát hiện ở bé Côn - Nguyễn Tất Thành trí thông minh, có ý chí, đức hạnh, lại có hoài bão lớn , nên đã dày công nuôi dưỡng, giáo dục con trở thành nhân tài, có nhân cách lớn. Nếu đem so sánh với Nguyễn Trãi, thì tuổi thơ của ông được ông ngoại Trần Nguyên Đán, một người nguyên là tể tướng, một nhà văn hoá rèn cặp và cha là tiến sỹ Nguyễn Phi Khanh trực tiếp dạy dỗ, nên tài năng, nhân cách mới phát triển hoàn thiện đầy đủ, đẹp đẽ như thế. Bác của chúng ta, được cha mình chăm sóc dạy dỗ trực tiếp, các nhà giáo là những người có tư tưởng tiến bộ, có bản lĩnh, tài năng như thầy Vương Thúc Quý, Lê Văn Miên...giáo dục, đào tạo nên sớm có đạo đức, tư tưởng cao quý như vậy. Đó là nét tương đồng về điều kiện giáo dục, để hai con người: Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh phát triển thành Anh hùng dân tộc và Danh  nhân văn hoá của dân tộc và của nhân loại.

Có một người cha, người thầy tài năng, đức hạnh là một điều hạnh phúc lớn, hiếm có của một đời người. Ông Nguyễn Sinh Sắc, tuy chỉ có học vị Phó bảng nhưng tư tưỏng, nhân cách rất lớn. Ông Đào Tấn là quan thượng thư, tổng đốc; các ông Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Đặng Thái Thân là bạn, là các nhà cách mạng dân tộc, các trí thức lớn Tây học, nho học đều nhất mực quý trọng, kính phục tài năng, nhân cách của ông Phó bảmg xứ Nghệ. Biết con mình có thiên tư khác thường, ông càng gần gũi, định hướng chọn đường đi đúng, nhất là việc học, trang bị những kiến thức cơ bản, cần thiết cho con đi tìm đường cứu nước và cho suốt cuộc đời hoạt động cách mạng. Cho con đi học tiếng Pháp, ông căn dặn:" học chữ Tây là học cái tinh hoa của người Pháp, nhưng quyết không để lũ quỷ trắng đề đầu cưỡi cổ dân mình". Học với mục đích cao cả là làm nhiệm vụ cứu nước cứu dân, chứ không phải để ra làm quan. Cho nên ông cho cả hai con học trường tiểu học Pháp - Việt và sau đó là Trường Quốc học. Khi tâm sự với con, lần cuối, ông đã nói ra những điều gan ruột, ông cho rằng :" Tổ quốc là tài sản thiêng liêng nhất của mọi người dân", nên phải đấu tranh giải phóng dân tộc bảo vệ nền độc lập, cứu muôn dân thoát khỏi ách áp bức bóc lột của kẻ ngoại bang. Ông còn nói ra cả những điều sâu xa nhất:"Cha ngẫm thấy từ khi lập quốc tới giờ, ở đất nước mình có rất nhiều anh hùng dân tộc chống giặc ngoại xâm, cứu nước vô cùng oanh liệt mà chưa có vị anh hùng nào vừa cứu được nước thoát khỏi nô lệ vừa đem lại tự do hạnh phúc cho nhân dân". Ông nêu câu hỏi để cho con suy nghĩ: "Nước độc lập mà chắc gì dân có hạnh phúc, có cơm ăn, áo ấm hả con?" Ông gửi niềm tin son sắt ở con::" Con nhìn cha xem. Mắt cha chỉ còn lại niềm tin đợi chờ nước độc lập, dân hạnh phúc."...

"Búp sen xanh" đã xây dựng thành công nhân vật bé Côn - Nguyễn Tất Thành, từ lúc mới sinh đến lúc trưởng thành ra đi tìm đường cứu nước. Tác giả đã phản ánh một cách trung thực, đầy đủ, sinh động quá trình hình thành và phát triển về các mặt đạo đức, tư tưởng, tài năng của Nguyễn Tất Thành như nó vốn có. Trở nên nguồn gốc hay nền móng cho sự phát sinh, phát triển nhanh mạnh, toàn diện, vững chắc thành tinh hoa của dân tộc và nhân loại. Đọc sách chúng ta thấy bé Côn - Nguyễn Tất Thành có  "thiên tư", "trí nhớ" khác thường, trí thông minh, óc "xét đoán"thật tuyệt vời. Tất Thành lại có đức tính chịu thương chịu khó, vâng lời, lẽ phép với người trên, kính yêu ông bà, cha mẹ, thầy giáo, quý mến anh, chị, em, bạn bè, giúp đỡ người nghèo đói. Tác giả tập trung miêu tả quá trình học tập, tu dưỡng, nung nấu ý chí cứu nước, cứu dân của Tất Thành trong bối cảnh lịch sử dân tộc ta, đất nước ta bị thực dân Pháp xâm lược, đang nằm trong đêm trường nô lệ, tưởng như không có đường ra.

Bé Côn ra đời trong bối cảnh nước mất, các phong trào chống Pháp, các cuộc khởi nghĩa bị thực dân đàn áp dã man. Việc cứu nước, cứu dân đang là một yêu cầu cấp bách, một thử thách đối với bất kỳ ai là người Việt Nam còn có tinh thần yêu nước, thương dân. Trong hoàn cảnh đó, Tất Thành được sự tác động trực tiếp của các nhà yêu nước như Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Đặng Thái Thân...của gia đình, quê hương, đất nước, đặc biệt là tác động từ lòng yêu nước của người cha, lúc nào cũng trăn trở, canh cánh một niềm cứu nước, cứu dân. Truyền thống yêu nước, thương dân ấy đã truyền sang Thành biến thành ngọn lửa bốc cháy trong tim, hun sôi dòng máu, nhiệt tình cứu nước, cứu dân.

Những ảnh hưởng tích cực của lòng yêu nước thương dân, từ gia đình, nhà trường, xã hội đã phát sinh lòng yêu nước thường dân ở con người Tất Thành. Lại từ những nhận thức về các con đường cứu nước trong thực tiễn, do cha ông ta thực hiện, Tất Thành có suy xét rất kỹ càng, coi việc đó là " vô cùng trọng đại" không thể coi nhẹ, xem thường. Thành học chữ nho đã tiếp thu những tư tưởng cách mạng của phương Đông, của các nhà yêu nước Việt Nam. Khi nói với cha mình về mục đích của Hội Duy Tân của Phan Bội Châu bằng hình thức chơi chữ Hán là Rút ruột vua ( bỏ nét sổ trong chữ vương ) biến thành chữ tam, theo chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn: "Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc." Hay: " Chém đầu Tây ( bỏ nét đầu trong chữ tây ) thành chữ tứ, theo quan niệm tứ chứng giai huynh đệ là bốn màu da: vàng, trắng, đen, đỏ của bốn phương trời là anh em. Tất Thành còn ở tuổi thiếu niên đã có suy xét rất riêng, không tán đồng phương pháp cách mạng của các nhà Đông du về công cuộc cứu nước: " dựa vào ngoại viện để cứu nước nhà". Từ việc chữ Hán, Tất Thành cũng tiếp nhận những tinh hoa tư tưởng đạo đức của Phật giáo, của Nho giáo, đạo đức truyền thống dân tộc ta: vị tha, nhân từ, cứu khổ cứu nạn, triết lý hành động, nhập thế tích cực, hành đạo giúp đời, hay cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, đặc biệt là tinh thần xả thân cứu dân, cứu nước...

Nhiều giá trị đạo đức, tư tưởng cao đẹp của dân tộc, của nhân loại lại tác động trực tiếp tới bé Côn - Nguyễn Tất Thành bằng tiếng mẹ đẻ - tiếng Việt. Đó là lời ăn tiếng nói của ông bà, cha mẹ, anh chị, những người thân quen, từ những làn điệu dân ca, xứ Nghệ, xứ Huế, xứ Quảng, Nam Bộ...Tư tưởng, đạo đức, văn hoá dân tộc đã thấm dần vào con người Tất Thành, đọng lại, kết tinh theo tháng năm lịch sử của cuộc đời. Tiếng Việt văn hoá đã trở thành năng lực trí tuệ trong con người Nguyễn ÁI Quốc -  Hồ Chí Minh sau này. Vốn tiếng Việt của bé Côn - Nguyễn Tất Thành thu nhận được rất sắc sảo, tinh tế, đậm đà bản sắc riêng thể hiện trong lời nói, lời thơ trong sáng, hàm xúc, ngọt ngào giọng điệu quê hương, xứ sở thể hiện sinh động ở một con người thông qua các hành động nói năng của nhân vật chính này trong tác phẩm.
Nếu chỉ có vốn tiếng Việt, chữ Việt, bao gồm chữ Quốc ngữ và cộng vốn chữ Hán cũng chưa đủ làm nên con người Tất Thành tìm ra con đường cứu dân, cứu nước. Từ một ý nghĩ của cụ Nguyễn Sinh Sắc, bắt nguồn từ lịch sử dân tộc ta, các đời ông cha đã học chữ Hán để đánh đuổi giặc phương Bắc, bảo vệ đất nước, dân tộc giống nòi, gây dựng cơ đồ. Cụ đã cho cả hai con trai theo học tiếng Pháp ở Trường Tiểu học Pháp - Việt, sau đó học ở Trường Quốc học, thực chất là: " Trường Quốc học chữ Pháp, nghĩa là trường học của nước Pháp dạy tiếng Pháp, đào tạo con người làm việc cho nước Pháp, ở ngay trên xứ thuộc địa của nước Pháp." Nhưng truyền thống kinh nghiệm lịch sử dân tộc đã giúp cho Tất Thành thấy được ý nghĩa quan trọng của việc học tiếng Pháp, chữ Pháp. Học để cứu nước, cứu dân, học để tìm đường giải phóng đất nước, chống lại kẻ thù xâm lược đã  thúc dục anh tiến lên phía trước.
     Tiếng Pháp, chữ Pháp đã giúp cho Tất Thành sáng hai con mắt, sáng niềm tin, biến nó thành vũ khí chiến đấu chống lại kẻ thù, bảo vệ mình, tạo được thanh thế, uy tín cho mình. Thông qua tiếng Pháp, chữ Pháp, giúp cho Tất Thành nhận thức sâu xa về chế độ thực dân Pháp, xã hội Pháp đặc biệt là văn hoá Pháp, nền văn minh phương Tây. Từ những hiểu biết ban đầu về xã hội Pháp, thông qua sách văn học như " Không gia đình", của Ec-tơ Ma- lơ , " Những kẻ khốn nạn"của Vich to Huy-gô...anh hiểu về xã hội, về giai cấp cần lao; thông qua lịch sử anh hiểu biết về những nhà tư tưởng như Mông-têt- ki- ơ, Rút- xô, Vôn- te và Công-đoóc- xê..." Họ đã đề xướng ra Tự do, Bình đẳng, Bác ái, đã đấu tranh đòi dân quyền cơ bản về con người - Nhân quyền". Khi đi học Trường Quốc học được tiếp xúc với thầy Lê Văn Miên, một người thầy Tây học, nhưng yêu nước, tiến bộ thầy đã có lời tâm sự với Thành: "Nước mất mà không biết là bất trí, biết mà không cứu nước là bất trung, chiến đấu mà không quên mình vì nước là bất dũng."Khi học lịch sử Pháp, được các giáo viên người pháp dạy,Tất Thành dần dần hiểu lịch sử nước Pháp, nước Pháp thời đại cách mạng 1789, cơ cấu xã hội, các giai cấp, các tôn giáo, những người thuộc giai cấp thứ dân, bần cùng nghèo khó...Anh  cũng chưa hiểu về đại cách mạng Pháp 1789 đặt ra câu hỏi :" Những nhà cách mạng Pháp (1789 ) đã dấy động dân chúng Pháp đấnh đổ bọn thống trị tàn bạo, đặc quyền đặc lợi, giải phóng con người, xác lập quyền cơ bản của con người mà quyền tự do là trên hết, sao dân chúng Pháp vẫn còn" Những kẻ khốn nạn", những kẻ "Không gia đình" ? Học tiếng Pháp, chữ Pháp hiểu biết về lịch sử dân tộc Pháp, nước Pháp, bọn thực dân Pháp, cùng với bài học kinh nghiệm lịch sử của dân tộc trong quá khứ và cả những bài học hiện tại đã giúp cho Tất Thành tìm ra hướng đi, đường đi cứu nước, cứu dân đúng đắn nhất.

Được đi học, được hiểu biết không phải là để ra làm quan, Tất Thành đi học để thực hiện ước mơ cứu nước cứu dân. Các cuộc khởi nghĩa, các cuộc cách mạng đã bị thực dân Pháp đàn áp dã man; nhiều lãnh tụ, nhiều người yêu nước bị chúng giết, bị chúng lưu đầy. Nhưng những cuộc đấu tranh của nhân dân ta vẫn liên tiếp nổ ra bất chấp súng gươm. Cuộc đấu tranh của nhân dân Thừa Thiên - Huế đã diễn ra tại thành Huế với hình thức tập trung, biểu tình đòi giảm xâu thuế. Tất Thành đã tham gia, cuộc biểu tình bị thực dân Pháp đàn áp dã man, nhiều người bị cảnh sát truy đuổi, trong đó có Thành. Do sự phản đối của các thầy Trường Quốc học chúng ngừng tay nhưng yêu cầu Thành "tự thú", Thành từ chối "đặc ân", không muốn ôm cái ghế Trường Quốc học. Thành noi gương khí tiết của vị vua yêu nước Thành Thái không chịu" tự thú", đặt ra câu hỏi lớn : "Tổ tiên ta đã dám đánh thắng kẻ thù dân tộc lớn mạnh gấp bao nhiêu lần, lẽ nào ngày nay lại không có ai dám đương đầu với quân Pháp cường bạo?"Câu trả lời bằng hành động của Thành là quyết chí ra đi.

Tất Thành rời Huế, đi về phương Nam đến Bình Định có ghé thăm cha đang là tri huyện Bình Khê, sau về dạy học ở trường Dục Thanh thuộc Phan Thiết, tìm đường vào bến Nhà Rồng- Sài Gòn làm nghề phu khuân vác, lên tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin làm nghề phụ bếp để tìm đến nước Pháp. Khoảng thời gian là hơn ba năm, Nguyễn Tất Thành mới ở tuổi thanh niên. Nghề dạy học, giúp Thành có tư thế chững chạc, đào sâu kiến thức, gần gũi các em học sinh, gần dân, thấu hiểu hoàn cảnh cùng cực của những người bị áp bức, của dân nghèo. Anh đã cùng học trò làm những việc tốt như tắm giặt cho trẻ nhỏ, khuyên răn các em, nhai trầu giúp người già, đồng thời chỉ cho học sinh ý nghĩa của việc học:" Chúng ta học cái chữ để biết được điều hay lẽ phải trên đời...học để biết và làm được những việc ích nước lợi dân.". Khi làm phu khuân vác ở bến Nhà Rồng,Tất Thành có điều kiện hiểu biết về thành phố Sài Gòn thuộc xứ Nam Kỳ tự trị, sự áp bức bóc lột của bọn tư bản thực dân, hoàn cảnh, tâm tư, nếp sống của những người thợ thuyền. Anh bắt đầu có ý thức mở mang kiến thức cho thợ thuyền bằng cách dạy cho họ học chữ, tuyên truyền, giác ngộ cho họ về ý thức dân tộc, về sự đoàn kết đấu tranh, ý thức về giai cấp mình. Anh đã hoà mình vào đời sống chung của những người thợ, tạo được tình cảm thắm thiết, trong sáng, thuỷ chung trong mỗi người, nhất là tình cảm thương yêu cao đẹp của Lê Thị Huệ dành cho anh và của anh dành cho Lê Thị Huệ - người con gái Sài Gòn mà anh thương mến. Vậy là hướng đi về phương Nam, chứng tỏ Tất Thành có ý chí, lý tưởng, đã suy nghĩ là hành động, đã nói là làm, đã tạo niềm tin cho chính người cha thân yêu. khi lần cuối cùng đến thăm cha và cũng là lần từ biệt. Ông Nguyễn Sinh Sắc đã nói với người con yêu quý rằng: " Cha đinh ninh sẽ có ngày con ra đi". Lần ấy, khi tâm sự với con, ông như muốn kiểm tra nhận thức, chí hướng, động cơ việc ra đi tìm đường cứu nước của con mình và ông rất tin tưởng vào con mình, còn "gia vốn" cho con, khuyên con làm hai việc lớn là giành độc lập cho nước và đem hạnh phúc cho nhân dân. Chí hướng ấy, chỉ được thực hiện khi Tất Thành có đầy đủ vốn tri thức cần thiết, chọn thời cơ, tìm ra phương tiện, cách thức ra đi biến ước mơ, niềm tin cứu nước, cứu dân của mình của mọi người thành hiện thực.

Mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội đều có nguồn gốc. Đạo đức, tư tưỏng là lĩnh vực tinh thần cũng có nguồn gốc. Đạo đức, tư tưởng và cả năng lực thiên tài của Hồ Chí Minh cũng có nguồn gốc. Tất cả đều được phát sinh, phát triển, từ sự ảnh hưởng, tác động của các nhân tố giáo dục, đào tạo của gia đình, nhà trường, xã hội và từ sự tự học tập, tu dưỡng  không ngừng của bản thân. Tác phẩm "Búp sen xanh"đã phản ánh chân thực, sinh động, cụ thể, cảm xúc trong sự phát sinh, phát triển, rất nhất quán về đạo đức, tư tưởng của Nguyễn Tất Thành. Trong đó, các yếu tố văn hoá, lịch sử, giáo dục được tập trung biểu hiện rất rõ ràng, sinh động. Qua từng phần, từng mục, bằng ngôn ngữ nghệ thuật hàm xúc, tinh tế tác giả Sơn Tùng đã xây dựng thành công nhân vật chính Nguyễn sinh Côn - Nguyễn Tất Thành gắn với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, gắn với sự giáo dục, đào tạo của gia đình, nhà trường, sự tác động dữ dội của xã hội Việt Nam đương thời và cả thời đại. Nhưng nhân tố chủ yếu vẫn là sự giáo dục của chính gia đình, trực tiếp từ ông bà, cha mẹ, đặc biệt từ người bà, người mẹ và nhất là từ người cha thân yêu đã làm nền móng cho sự phát sinh, phát triển về trí tuệ, tài năng, đạo đức, tư tưởng của Hồ Chí Minh. Riêng về đạo đức, tư tưởng bao gồm lòng trung với nước hiếu với dân; cần , kiêm, liêm, chính, chí công vô, tư ; lòng thương người, tình cảm quốc tế coi con người năm châu bốn biển là anh em, hay tư tưởng cứu nước giành quyền độc lập, cứu dân khỏi ách nô lệ, mưu cầu hạnh phúc cho dân, phương lược đấu tranh chống giặc ngoại xâm, xây dựng chế độ mới, trong đó dân là chủ, người cầm quyền là người đầy tớ trung thành của dân đã phát sinh, hình thành trong con người Nguyễn Tất Thành. Về sau, những đạo đức, tư tưởng ấy được bổ sung thêm phát triển rực rỡ thành hệ đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng những vấn đề trên, chính là nguồn gốc cơ bản của đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh được biểu hiện rất chân thực, sinh động trong nhiều trang của "Búp sen xanh" mà tác giả Sơn Tùng đã có công tái hiện, sáng tạo.

 
(1) Búp sen xanh tác phẩm của nhà văn Sơn Tùng, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 1980.
(2) Nguyễn Sinh Côn, tên gọi thời thơ ấu của Bác Hồ; tác giả Sơn Tùng gọi theo " Tất Đạt tự ngôn " của Nguyễn Tất Đạt anh trai của Bác.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo