Con đường của người viết trẻ

Thứ ba - 02/01/2018 02:13
. NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG
 
Dân tộc ta có một câu chuyện thần tiên kỳ diệu, hầu như ai cũng thuộc, đó là chuyện Thánh Gióng. Từ đứa trẻ nằm nôi bỗng một ngày vươn vai trở thành anh hùng khổng lồ. Sự vụt dậy của Thánh Gióng và tinh thần xả thân vì dân tộc của Ngài thật đáng để soi vào bất cứ lĩnh vực nào, ngay cả với văn học. Điều sơ đẳng nhất rút ra ở câu chuyện này là: Tất cả các anh hùng thoạt tiên đều từ trẻ con mà ra. Mở rộng thêm: Tất cả các nhà văn lớn thoạt tiên cũng là những cây viết trẻ. Như vậy có nghĩa, người viết trẻ nào cũng có thể trở thành nhà văn lớn. Vấn đề ở chỗ các cây viết trẻ sẽ có hành trình trưởng thành ra sao.

Từ kì hội nghị văn trẻ lần thứ VIII (tháng 9/2011) tới kì hội nghị văn trẻ lần thứ IX (tháng 9/2016), quãng thời gian đó không phải dài, nó chỉ như một bước trong cả chặng đường còn dằng dặc phía trước, nhưng chừng ấy cũng đủ để tạo ra những bất ngờ, thú vị.

Sống động, phong phú, đó là ấn tượng đầu tiên mà văn trẻ mang đến trong thời gian qua. Văn đàn tồn tại cùng lúc bao nhiêu xu hướng, bao nhiêu quan niệm về nghệ thuật văn chương. Kèm theo đó là sự đa dạng về phong cách, về thể loại cũng như về chủ đề. Nhìn kỹ hơn, sâu hơn, có thể thấy cảm thức về thời đại là có thật trong văn trẻ, là có thật những mĩ cảm hiện đại, và những quan niệm hoàn toàn mới về chức năng, giá trị của văn học đang hiện diện trong văn trẻ. Để có được những điều đáng kể ấy, là cả một sự lao động không mệt mỏi của các nhà văn.

5 năm qua, nhiều người viết trẻ đã vượt bứt lên trở thành những tên tuổi chững chạc và gặt hái được thành công. Ngoại trừ những tác giả đã trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, còn lại có thể nhắc đến một số tác giả tiêu biểu như: Văn Thành Lê, Cao Nguyệt Nguyên, Hồ Huy Sơn, Trần Sang, Lữ Thị Mai, Vũ Văn Song Toàn, Lê Vũ Trường Giang, Lý Hữu Lương, Đinh Phương, Nhụy Nguyên… 5 năm qua thêm nhiều gương mặt mới xuất hiện, đang kiến tạo cho mình một lối đi riêng với rất nhiều triển vọng và kỳ vọng như: Đào Quốc Minh, Nhật Phi, Kiều Mai Ly, Trác Diễm, Nghiêm Quốc Thanh, Lê Quang Trạng, Vĩnh Thông, Nguyễn Văn Toan, Kiều Duy Khánh...

Một đặc điểm sáng tác rất cần được nhắc tới, đó là thái độ nhập cuộc có ý thức trách nhiệm của người viết trẻ với thời tiết chính trị và xã hội. Hầu như văn trẻ có mặt trong tất cả những sự kiện, những biến động của đất nước. Cùng với lớp nhà văn cao tuổi, văn trẻ tham gia soi rọi, khám phá các vấn đề, các lĩnh vực xã hội ở nhiều khía cạnh khác nhau, có những lí giải, cắt nghĩa theo cách riêng đầy sức thuyết phục. Những nhà văn trẻ đã có mặt ở Trường Sa, đã lên biên giới, đã lặn lội vào các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn để chứng kiến, trải nghiệm và phản ánh hiện thực. Kết quả là một số lượng dồi dào các tác phẩm đã ra đời, được độc giả mọi tầng lớp đón nhận và có tác động không nhỏ tới đời sống tinh thần xã hội.

 
viet lach

Trong sự phong phú đa dạng của văn trẻ, ngoài dòng chảy chính với số lượng khá lớn tác giả dung hòa, cân bằng được giữa cá tính sáng tạo riêng với thị hiếu của đông đảo độc giả, còn lại có thể thấy rõ hai xu hướng sáng tác sau đây: Một là, thiên về khám phá chiều sâu cá nhân, coi nghệ thuật là yếu tố đầu tiên và trên hết. Xu hướng này thu hút những tác giả say mê tìm kiếm hình thức biểu hiện mới, những sắc màu mới, những vấn đề có tính thâm trầm, vì thế theo quy luật thông thường, lượng độc giả phần nào bị hạn chế. Có thể điểm một vài tên tuổi điển hình như: Nhật Phi với Người ngủ thuê, Đinh Phương với Nhụy khúc, Nguyễn Minh Nhật với Âm thanh của im lặng, Lê Minh Phong với Trong tiếng reo của lửa, Trịnh Sơn với Gieo mồi vào sóng, Lữ Thị Mai với Mở mắt rồi mơ, Đào Quốc Minh với Nguyệt nương… Hai là, tìm tới đại chúng với quan niệm văn học phục vụ số đông. Việc đáp ứng nhu cầu thưởng thức nhẹ nhàng, dễ hiểu của độc giả là xu hướng tất yếu, chính đáng trong xã hội tiêu thụ. Ở xu hướng này, phải kể đến văn học mạng, với yếu tố căn bản là tác phẩm hình thành và tồn tại phụ thuộc hoàn toàn trong môi trường mạng, cho thấy những thế mạnh của công nghệ thông tin. Một bộ phận văn trẻ đã phát huy tối đa những ưu thế tương tác của mạng xã hội và đạt được thành công nhất định. Điều ấy chứng minh rằng văn học mạng có lí do tồn tại và có giá trị riêng, không thể phủ nhận. Những tác giả và tác phẩm tiêu biểu của xu hướng thứ hai có thể kể như: Anh Khang với Buồn làm sao buông, Ngày trôi về phía cũ, Gào và Minh Nhật với Chúng ta rồi sẽ ổn thôi, Hamlet Trương với Yêu đi rồi khóc, Nguyễn Phong Việt với Đi qua thương nhớ, Sinh ra để cô đơn…

Đội ngũ nghiên cứu, phê bình trẻ hiện nay phần lớn là những người được đào tạo căn bản, giỏi ngoại ngữ, đọc nhiều, có ý thức về nghề, chẳng hạn như: Cao Việt Dũng, Mai Anh Tuấn, Trần Thiện Khanh, Thái Phan Vàng Anh, Trần Ngọc Hiếu, Hoàng Phong Tuấn, Phan Tuấn Anh, Đỗ Thị Hường … Đây là đội ngũ quan trọng bởi nó đồng hành, gắn bó mật thiết với các nhà văn, nhà thơ. Việc nắm chắc các lí thuyết, các trào lưu văn học thế giới, dùng nó soi chiếu, phân tích văn học trong nước, đã tạo ra những hiệu ứng tích cực. Nghiên cứu, phê bình giúp cho người sáng tác cũng như độc giả nhìn ra một cách rõ nét, có hệ thống diện mạo các khuynh hướng và những điểm mạnh cũng như những hạn chế của văn học hôm nay. Có thể khẳng định rằng, nghiên cứu, phê bình trẻ khá dồi dào về số lượng và đồng đều về chất lượng, điều ấy thể hiện qua hàng loạt các công trình được xuất bản, như: Không gian văn học đương đại của Đoàn Ánh Dương, Văn học trẻ như tôi hình dung của Đoàn Minh Tâm, Loại hình Thơ mới Việt Nam (1932-1945) của Nguyễn Thanh Tâm, Chân lý và hư cấu của Ngô Hương Giang, Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI - cấu trúc và khuynh hướng của Hoàng Cẩm Giang, Văn xuôi Việt Nam đương đại - hiện tượng và bút pháp của Nguyễn Đức Toàn…
Không có lý luận phê bình, chẳng có văn học chuyên nghiệp. Điều ấy thật hiển nhiên.

Cũng thật hiển nhiên khi cho rằng một nền văn học ra tấm ra món thì không thể thiếu dịch thuật. Lịch sử dịch thuật chính là lịch sử giao lưu của con người. Đội ngũ những người trẻ dịch văn học thời gian qua đã đầu tư công sức, năng lực một cách nghiêm túc để độc giả có dịp tiếp cận với những tác phẩm đỉnh cao của văn học đương đại thế giới thông qua các bản dịch chất lượng. Trong đội ngũ ấy, có những tên tuổi điển hình như: Minh Thương, Thiên Lương, Nham Hoa, Nguyễn Huy Hoàng, Nguyễn Đào Nguyên, Phạm Phương Chi, Trần Nhật Mỹ, Lê Nguyễn Lê, Đoàn Hương Giang, Hoàng Phương Thúy, Lương Việt Dũng…

Với số lượng lớn những tác phẩm được xuất bản, trong đó nhiều tác phẩm có tiếng vang, đoạt các giải thưởng quan trọng, như: giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội, giải thưởng của Bộ Quốc phòng, giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, giải thưởng của Báo Văn nghệ, giải thưởng của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, giải thưởng của Hội Nhà văn... Và với hàng loạt những tên tuổi chững chạc, có cá tính, 5 năm qua văn trẻ đã góp cho văn đàn đương đại Việt Nam một bầu không khí sôi động, cởi mở và đa dạng. Văn trẻ cho thấy nội lực tiềm tàng của một đội ngũ mới, sung sức, táo bạo.  

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, những kết quả đã đạt được, cũng vẫn còn có những khó khăn, hạn chế cần phải được nhìn nhận thẳng thắn, nghiêm túc để rút kinh nghiệm cho chặng đi tiếp theo được vững vàng hơn, chất lượng hơn.
Hạn chế thứ nhất của văn trẻ hiện nay là: sự vênh nhau giữa số lượng với chất lượng, giữa đa dạng với độc đáo. Rất nhiều tác giả, tác phẩm xuất hiện rầm rộ, nhưng ít tác giả, tác phẩm đặc sắc. Văn trẻ đã đồng hành cùng dân tộc qua các biến cố lớn, đã sôi nổi, đã nồng cháy, nhưng đa phần mới chỉ dừng ở đấy. Trong khi đó thực tế đang đặt ra vô số vấn đề về kinh tế, về đạo đức, về văn hóa, thậm chí là về cả lí tưởng. Hơn bao giờ hết xã hội cần những tác phẩm đề cập một cách ráo riết, kiệt cùng tới số phận con người, cũng như cần những cắt nghĩa, những cảnh báo, cần cả khoảng yên bình, sâu lắng để tâm hồn được tĩnh lại. Vậy mà thật hiếm tác phẩm văn học đủ sức quyến rũ và độ tin cậy để độc giả có thể bấu víu vào đó. Nguyên nhân phải chăng do các nhà văn, những người được ví như giác quan của xã hội đã nghe chưa kỹ, nhìn chưa tinh, cảm nhận chưa chính xác những quanh co, gập ghềnh, cả những xoáy ngầm trong lòng xã hội cũng như trong lòng mỗi con người.  

Hạn chế thứ hai: do sống giữa thời đại công nghệ thông tin với một thế giới phẳng, tương tác trực tiếp cho nên nhiều nhà văn mất dần đi khả năng ẩn nhẫn, khuất lấp để suy tư. Đành rằng tác giả cần được mọi người biết đến, đành rằng vinh quang là thứ không ai chối từ, ngay cả các bậc thánh thần. Nhưng hãy nhớ, trước khi vươn vai thành Phù Đổng, Thánh Gióng có ba năm im hơi lặng tiếng và sức trỗi dậy khủng khiếp, ngoạn mục của Ngài bắt đầu từ nền tảng của quãng thời gian khuất lấp, lặng lẽ ấy. Con đường sáng tạo thường đi từ chiều sâu của cá nhân đến với bề rộng của cộng đồng. Nhà văn có quyền tự khuất lấp khi thấy điều ấy cần thiết cho những cú bật xa tiếp theo của mình. Văn trẻ chưa nhiều người biết sử dụng cái quyền đặc biệt ấy, chưa để ý rằng đôi khi cô đơn lại tặng cho người ta những món quà vô giá.

Hạn chế thứ ba: một bộ phận văn trẻ đang lúng túng trong việc tìm kiếm lối đi cho riêng mình. Bản chất của cái mới nằm ở đâu, diện mạo ra sao, nhiều người viết trẻ chưa nhìn rõ, vì thế dẫn tới dấu hiệu nhầm lẫn, mất phương hướng. Còn lẻ tẻ đây đó một vài hiện tượng do hiểu đơn giản về tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do xuất bản cho nên đã bỏ qua những yêu cầu tối thiểu về thẩm mĩ, về luân lí, cũng như phẩm cách nghề nghiệp. Thực ra, cách tân không phải đạp đổ mà là khám phá, bởi xét cho thấu đáo thì cái đích cuối cùng của cách tân và hiện đại là để trở thành truyền thống và cổ điển. So với thế giới, nền văn học của chúng ta khá khiêm tốn, không phải là một siêu đô thị đồ sộ, chằng chịt, mà có dáng vẻ của một ngôi làng ấm cúng, hòa nhã. Thế nhưng ngôi làng ấy cũng có nền tảng, có truyền thống, cũng đủ sức bồi đắp, dung chứa và nâng bước mọi kích cỡ tài năng. Thánh Gióng lớn lên không phải bởi thuốc tiên hay phép màu nhiệm đẩu đâu, Ngài lớn lên bởi quả cà và niêu cơm bình dân của thôn xóm mình. Đó vừa là một ẩn dụ vừa là một bài học kinh nghiệm cho người sáng tác.

Phê bình, ngoài việc đã tạo ra nhiều hiệu quả tốt, nhưng vẫn còn dấu hiệu của sự ẩu thả, hời hợt, không ngoại trừ cả lệch lạc về tiêu chí giáo dục. Vẫn còn việc khen chê vô thưởng vô phạt, không đúng với kích cỡ của tác phẩm và tác giả, vì thế có lúc gây ra hiệu ứng xấu, làm nhiễu loạn một bộ phận độc giả, thậm chí nhiễu loạn cả một bộ phận các tác giả trẻ.

Ở dịch thuật, không kể những bản dịch kém chất lượng, không kể ở đâu đó còn chọn dịch chưa phù hợp, thì hạn chế lớn nhất là mới chỉ khơi dòng chảy của thế giới vào Việt Nam, còn dẫn nguồn văn học Việt Nam ra với thế giới thì chưa, mặc dù chúng ta không thiếu tác giả xuất sắc. Đây là một việc khó, nhưng là mong muốn chính đáng của những người yêu quý văn học đương đại Việt Nam đối với các dịch giả trẻ.

Với những kết quả và hạn chế vừa nêu trên, hy vọng đội ngũ văn trẻ tiếp tục phát huy những điểm mạnh, tận dụng những ưu thế, tháo gỡ dần những hạn chế. Có thể từng cá nhân sẽ có những phương hướng riêng, phù hợp với đặc điểm của mình. Mong rằng, thời gian tới, văn trẻ tiếp tục tham gia tích cực hơn nữa vào đời sống xã hội, nhập cuộc để lắng nghe, tìm hiểu và phản ánh chính xác những vấn đề mà hiện thực đang đặt ra. Mỗi người viết trẻ phải là một tiếng nói đôn hậu, trung thực, sâu sắc trong việc đấu tranh với cái lạc hậu, cái tiêu cực. Cần thường xuyên bồi đắp kiến thức, cố gắng thành thạo ít nhất một ngoại ngữ, thông hiểu nhiều lĩnh vực để mỗi nhà văn đồng thời cũng là một nhà trí thức độc lập, có bản lĩnh, có chính kiến, thúc đẩy xã hội phát triển theo chiều hướng văn minh, dân chủ, nhân ái. Bên cạnh đó, văn trẻ cần gia tăng tính chuyên nghiệp bằng việc nắm vững bản chất và thiên chức của văn học, tiếp tục hoàn thiện kỹ năng, kỹ thuật sáng tác, bởi một tác phẩm muốn chuyển tải được chính xác tư tưởng tác giả và chinh phục được độc giả thì kỹ thuật phải điêu luyện, nhuần nhuyễn. Duy trì sức sáng tác đều đặn, bền bỉ đặc biệt đầu tư chiều sâu cho tác phẩm, lấy chất lượng nghệ thuật làm ưu tiên chính. Phấn đấu mỗi tác phẩm phải là một tiếng nói độc đáo, mới lạ, đủ sức kéo con người hướng về phía ánh sáng của nhân tính và cái đẹp.

Có một mối quan hệ qua lại khó phân tách rạch ròi giữa thời gian và vạn vật. Ví dụ như thật lúng túng khi phải xác quyết rằng thời gian làm quả chín hay quá trình quả chín hình thành nên khung thời gian. Nhưng với nhà văn thì có chút khác biệt. Thời điểm nào cũng là thời điểm của nhà văn. Vì thế không nên thụ động chờ đợi, mỗi người viết trẻ nếu thấy đến lúc vươn vai đứng dậy thì hãy vươn vai đứng dậy, thấy đến lúc cần phải bay thì hãy bay, như Phù Đổng Thiên vương của chúng ta đã từng bay. Bay một cách ngoạn mục nhất, xuất sắc nhất.

 N.B.P


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)