Giáo dục cho thanh thiếu niên bài học đạo lí uống nước nhớ nguồn trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Thứ ba - 12/07/2016 22:59
.PGS.TS. NGUYỄN THANH TÚ

Đạo lý này có một cơ sở triết học vững chắc bắt nguồn từ tính cách dân tộc và truyền thống, hoàn cảnh gia đình.

Nghề trồng lúa nước quy định người nông dân Việt gắn chặt với một mảnh đất canh tác quen thuộc “khoai đất lạ, mạ đất quen”. Cũng do đặc thù nghề nghiệp mà người Việt xưa gắn cuộc đời mình với ngôi nhà và cái làng của mình, để rồi chúng trở thành những biểu tượng thiêng liêng nhất trong tâm hồn Việt. Dù có đang sống nơi giàu sang nhưng vẫn hướng về nguồn cội (Lá rụng về cội), không đâu bằng quê nhà, có thể là quê nghèo Ta về ta tắm ao ta/ Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn. Sinh sống ở mảnh đất có nhiều kẻ thù nên người Việt rất sùng bái những anh hùng đuổi giặc giữ yên bờ cõi.

 
Thu Bac Ho gui thanh nien 40
Bác Hồ với thanh niên
 
Trong số 600 vị Thành hoàng ở đồng bằng Bắc bộ thì có 469 là nhân thần, trong đó đa số là các nhân vật lịch sử hay nhân vật huyền thoại nhưng đã được lịch sử hoá. Ở Hà Tây (cũ) trong số 185 vị Thành hoàng là nhân thần thì có khoảng 2/3 là nhân vật lịch sử. Chỉ riêng trong tỉnh Nam Hà (cũ) Trần Hưng Đạo được thờ ở 400 làng xã (1). Trong các vị “tứ bất tử” thì có hai vị là anh hùng, Phù Đổng Thiên Vương và Tản Viên Sơn Thánh. Đấy là cách người Việt ghi công các anh hùng, như Thánh Gióng đuổi giặc hai chân là kẻ thù xâm lược, như Sơn Tinh đuổi giặc bốn chân là thú dữ và không chân là thiên tai. Thậm chí sự ngưỡng vọng của người Việt còn nâng đến mức tuyệt đối là cho thần tượng bay lên trời sống cùng các vị Tiên, và dĩ nhiên là phong thánh bất tử cho họ.

Cho nên cũng dễ hiểu Đền thờ Đức Thánh Trần có ở rất nhiều nơi trên đất nước ta. Có thể nói tính cách biết ơn có ở trong máu của mỗi người Việt. Không ngẫu nhiên có rất nhiều những câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao, truyện cổ giáo dục răn dạy con người phải biết ơn. Bài ca dao Cày đồng đang buổi ban trưa vốn có ngữ liệu từ bài thơ chữ Hán có tên “Mẫn nông” của tác giả Lý Thân (đời Đường – Trung Quốc) nhưng được Việt hóa và rất được yêu thích. Đương nhiên là người Việt rất ghét thói “ăn cháo đá bát”, “khỏi vòng cong đuôi”, “vong ân bội nghĩa”…

Tư tưởng Phật giáo cùng tinh thần “hòa giải” Ấn Độ được truyền vào nước ta  trước Công nguyên cũng hướng con người luôn nhớ về cội nguồn. Tư tưởng nhân nghĩa của đạo Nho ăn sâu bén rễ vào tâm thức Việt khuyên dạy con người hướng về điều hay lẽ phải, trong đó có niềm biết ơn. Sự kết hợp của văn hóa bản địa giàu tinh thần nhân văn với những ảnh hưởng tốt đẹp từ bên ngoài đã tạo nên trong văn hóa Việt có một chủ đề đặc sắc: giáo dục con người yêu thương, kính trọng, biết ơn. Bài hát “Thập ân” (chèo cổ) có lẽ biểu hiện tập trung nhất cho ý nghĩa này.

Đối với Hồ Chí Minh thì truyền thống văn hóa quê hương xứ Nghệ cùng với truyền thống gia đình là những mạch nguồn trực tiếp nuôi dưỡng tâm hồn, tình cảm của Người ngay từ thủa ấu thơ. Nhưng dấu ấn sâu đậm hơn cả là một hoàn cảnh mang tính bi kịch. Lên 5 tuổi cậu bé Cung phải theo cha mẹ vào Huế, xa quê hương chôn nhau cắt rốn. Lên 10 tuổi mẹ chết trong lúc cha và anh trai về Thanh Hóa, chị gái ở quê. Hàng đêm cậu bé Cung phải bế đứa em mới mấy tháng tuổi bệnh tật, đói khát mồ côi mẹ (bé Xin) đi từng nhà xin sữa. Rồi sau đó đứa em cũng chết. May mà có sự đùm bọc cực kỳ tình nghĩa của bà con xứ Huế mà tang ma mẹ được chu toàn, cùng sự tồn tại của cá nhân mình được bảo đảm. Sau này cha cậu cũng chết nơi đất khách (Đồng Tháp) cũng được tình bà con chăm lo. Ấn tượng mang tính bi kịch tuổi thơ và tình nghĩa đồng bào vô cùng sâu nặng sau này đã hun đúc ở Người tình biết ơn con người sâu sắc. Khi đi tìm đường cứu nước phải chứng kiến bao nỗi khổ đau của con người ở khắp nơi trên thế giới càng tạo nên ở Người ý chí giải phóng nhân loại khỏi áp bức, bất công.

Trong tác phẩm của mình Hồ Chí Minh rất hay lấy mạch nguồn thần thoại Lạc Việt để kêu gọi người dân Việt tự hào về nòi giống, đoàn kết thương yêu nhau để đứng dậy đánh đuổi kẻ thù xâm lược. Và cũng không hề ngẫu nhiên các thần thoại này được Người nhắc lại nhiều lần trong những năm đất nước ở những thời điểm khó khăn nhất (trước 1945 và thời kỳ đầu đánh Pháp) rất cần đến sức mạnh đoàn kết. Đó là thần thoại Lạc Long Quân, Sơn Tinh, Phù Đổng Thiên vương…Người thường nhắc đến hai chữ Rồng Tiên, Lạc Hồng và thành ngữ con Rồng cháu Tiên. Lời của Lịch sử nước ta vượt lên trên lời của một cá nhân để vươn tới tầm là lời của lịch sử:
                                Mai sau sự nghiệp hoàn thành,
                             Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng.

Bài Mười chính sách của Việt Minh có nội dung tuyên truyền những công việc cách mạng, mở đầu là hình tượng Rồng Tiên: “Làm cho con cháu Rồng, Tiên/Dân ta giữ lấy lợi quyền của ta”. Khép lại cũng là hình tượng ấy: “Rồi ra sự nghiệp hoàn thành,/ Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng”.
               Cuối bài Ca sợi chỉ tác giả nhắc lại lịch sử đoàn kết:
                            “Hỡi ai con cháu Hồng Bàng,
                       Chúng ta phải biết kết đoàn mau mau”.

Trong Lời kêu gọi đầu năm mới (1947) Hồ Chí Minh kêu gọi mọi người dân Việt hãy xứng đáng là nòi giống Rồng Tiên thì quyết không chịu nỗi nhục nô lệ:
“Từ năm nay trở đi, đồng bào ta, con cháu Hai Bà Trưng, con cháu Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Nùng Trí Cao, có chịu để nước non Hồng Lạc cho thực dân Pháp giày xéo, có chịu để nòi giống Rồng Tiên cho thực dân Pháp giày đạp nữa không?
Không, quyết không!”.

Trong tác phẩm của Hồ Chí Minh xuất hiện rất nhiều lần các cụm từ chỉ dòng giống vinh quang của người Việt: Hồng Lạc, Lạc Hồng, Con Hồng cháu Lạc, Con Rồng cháu Tiên, Rồng Tiên… vừa gợi lên ở người dân niềm tự hào về nòi giống, lòng biết ơn tiên tổ vừa đánh thức ở họ một ý thức đoàn kết. Trong số các bậc anh hùng có trong lịch sử, Hồ Chí Minh hay nói đến các vị: Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Toản, Quang Trung. Đây là những tấm gương oanh liệt được sử sách ghi nhận là những con người quên mình vì nghĩa lớn, những ý chí cứu nước, những tài năng quân sự kiệt xuất…Trong kháng chiến chống Pháp, những trận đánh, những chiến dịch lớn, theo đề nghị của Người, Bộ Chỉ huy đã lấy tên các vị anh hùng từng thắng giặc vẻ vang: Trận Lý Thường Kiệt, Chiến dịch Trần HưngĐạo, Chiến dịch Quang Trung… Đặc biệt hình tượng Hai Bà Trưng được Hồ Chí Minh nói tới nhiều nhất. Có thể đây là tấm gương yêu nước sớm nhất, tiêu biểu nhất cho ý chí quật cường của cả dân tộc. Có thể đây là trang sử bi thương mà hào hùng mà ai, nếu là người Việt Nam đều biết.

Biểu trưng gốc rễ xuất hiện với tần số rất cao trong tác phẩm của Người, như: “Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ”. Truyền thống nhân nghĩa của người Việt đã quy định một nét tâm lý kính trọng tiền nhân, biết ơn nguồn cội: Có cội mới có cành; Lá rụng về cội; Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra...Bác Hồ kế thừa đạo lý này và dĩ nhiên tạo ra một màu sắc ý nghĩa mới cho phù hợp với thời đại mới trong việc giáo đục đạo đức cách mạng. Tháng 6-1968 làm việc với Ban Tuyên huấn Trung ương về việc làm và xuất bản loại sách “người tốt việc tốt”, Bác nhắc nhở cán bộ:
"Các chú có biết biển cả do cái gì tạo nên không?

Từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao nhiêu giọt nước nhỏ hợp lại mới thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền rất vững chắc mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ nhìn thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền. Như thế là chỉ thấy cái ngọn mà quên mất cái gốc!" (2). Một chân lý về quan hệ giữa cá nhân và quần chúng, giữa bộ phận và toàn thể được Người diễn đạt rất dễ hiểu bằng những hình ảnh giản dị. Toát lên một chân lý giáo dục: dù có thể trở thành tài năng thì cũng phải nhớ tài năng ấy do “cái nền”, “cái gốc” là nhân dân, là văn hóa truyền thống. Biết bao ân tình, biết bao ơn nghĩa chất chứa trong những câu nói ấy! Nhắc nhở chúng ta về phép biện chứng: phải đi tìm cái gốc, bản chất của sự việc; nhắc nhở chúng ta về bài học uống nước nhớ nguồn.

Ngay trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh nêu một nguyên lý nổi tiếng: “Nước lấy dân làm gốc” để nhắc nhở cán bộ phải luôn biết dựa vào dân và phục vụ vì dân. Kế thừa và phát triển tư tưởng lấy dân làm gốc của Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh giải thích chữ nhân: “Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân” (3). Hồ Chí Minh giải thích: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người. Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ” (4).   

PGS.TS. N.T.T
_______

(1).Nhiều tác giả - Văn hoá Việt Nam đặc trưng và cách tiếp cận- Nxb Giáo dục, 2007, tr 169).
(2). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia 1994-2002, Tập 12, tr.549).
(3). Sđd. Tập 8, tr 276).
(4). Sđd.Tập 5, tr 643). 
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

Quảng cáo