Làm cho những trang viết lạc nhịp trở nên đuối nhịp

Thứ sáu - 12/01/2018 02:48
. NGUYỄN HOÀNG SÁU
 
Tròn 70 năm trước (ngày 27/7/1947), tại xã Hùng Sơn (huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên) đã diễn ra lễ công bố “Ngày Thương binh toàn quốc”, sau này trở thành Ngày Thương binh - Liệt sĩ. Đó là một ngày đặc biệt để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bày tỏ lòng biết ơn đối với các liệt sĩ, thương binh, những người đã ngã xuống hoặc mất một phần xương máu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, và những trường hợp khác được quy định rõ trong Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (năm 2005) hay trong Thông tư liên tịch số 26 ngày 25/11/1998 của liên Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội - Bộ Quốc phòng - Bộ Công an.
 
Những quy định về tiêu chuẩn, điều kiện được công nhận là thương binh, liệt sĩ đã rất rõ ràng và thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay từ khi mới giành được độc lập, Tổ quốc còn đang ở thế vừa có hòa bình, vừa phải bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầy cam go, thử thách. Và lúc sinh thời, từ “Ngày Thương binh toàn quốc” đầu tiên cho đến suốt những năm sau này, Người vẫn nói và viết cũng như để lại những việc làm, tình cảm vô cùng đặc biệt dành cho thương binh, gia đình liệt sĩ, những người có công với cách mạng.

Vậy nhưng, một số người đã và đang lợi dụng dịp 27/7 để “nêu những ý kiến khác” về thương binh, liệt sĩ và chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ. Có thể kể tên một số “chiến dịch” tiêu biểu như “kêu gọi Đảng, Nhà nước nên có công trạng và có hình thức đánh giá lại sự hy sinh của các chiến sĩ Việt Nam cộng hòa tại Hoàng Sa”, hay “kiến nghị xây đài tưởng niệm liệt sĩ Hoàng Sa cho 74 lính Việt Nam cộng hòa đã ngã xuống…”. Đúng là một sự “đánh đồng” giữa hai lực lượng cùng cầm súng nhưng khác nhau cơ bản về bản chất chính nghĩa và phi nghĩa mà hiển nhiên ai cũng dễ nhận ra.

Hiện nay, trong văn học về đề tài chiến tranh (chủ yếu tập trung vào đề tài hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trong thế kỷ XX vừa qua), có lẽ do mải mê “đi tìm cái mới” mà một số nhà văn, trong đó có cả nhà văn từng mặc áo lính, cũng đã “tự đi tìm để lý giải sự hy sinh với cái chết”. Một số cây bút “đổi mới” đó cố gắng làm nhạt nhòa sự hy sinh xương máu của những người đã bỏ cả tuổi thanh xuân của mình nơi chiến trường lửa đạn cho lý tưởng độc lập, tự do bằng việc mô tả một cách “trần trụi” nhất về “bên thắng cuộc”, đồng thời cố gắng xây dựng những “người hùng” của phía bên kia với những “lý tưởng” và cả sự “hy sinh” không kém phần “oanh liệt”! Họ cố tình làm cho những cái chết của phía bên kia trở nên “nhuốm màu chính trị” bằng việc nêu ra những điều “giá như” hết sức phi lý. Mặt khác, họ ra sức phê phán, phủ nhận nền văn học cách mạng đã được lịch sử ghi nhận, coi đó là “văn học minh họa”, “một chiều”, “không còn giá trị và không còn đất trong văn học đương đại”...

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (Khóa XII) đã chỉ rõ, sự “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong hoạt động báo chí, văn học - nghệ thuật đó là: “Sáng tác, quảng bá những tác phẩm lệch lạc, bóp méo lịch sử…”.

Tuy nhiên, bên cạnh một số người có tư tưởng và việc làm lệch lạc nói trên thì rất đáng ghi nhận những tác giả gạo cội vẫn rất tâm huyết và thành công trong những sáng tác về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng, không hề né tránh khi viết về sự hy sinh mất mát to lớn của dân tộc, đổi mới cách viết, nhưng không “đổi hướng”, “đổi màu”. Năm 2016, bạn đọc đã biết đến tiểu thuyết Mưa đỏ của nhà văn Chu Lai, khi chạm đến vấn đề khá gai góc là viết về cuộc chiến đấu ở Thành cổ Quảng Trị trong “mùa hè đỏ lửa” năm 1972. Nhà văn không né tránh khi viết về đối phương với những con người bằng xương bằng thịt. Tuy nhiên với một góc nhìn hết sức mới mẻ mà không cố “lên gân lên cốt”, ông đã không bị nhầm lẫn trong việc mô tả, khai thác tâm lý, xoay quanh hai nhân vật chính (Cường - chiến sĩ Giải phóng, Quang - viên sĩ quan ngụy), cao trào là hai nhân vật này đều nằm xuống thì giữa hai cái chết: sự hy sinh của một chiến sĩ cách mạng và cái chết của một kẻ làm tay sai cho thế lực ngoại bang xâm lược đã hiện lên rõ ràng, ai cũng có thể hiểu được. Chu Lai từng tâm sự: “Khi trở lại dòng sông Thạch Hãn ở Quảng Trị sau mấy chục năm chiến tranh đã lùi xa, vẫn cảm giác ở dưới lòng sông ấy như một nấm thủy mồ ngàu đỏ máu của cả hai bên đổ xuống. Và chính từ sự liên tưởng đó mà tôi đã thấy được rằng: Chính dòng sông - nấm thủy mồ ngàu đỏ này đã gợi nên một sự hòa hợp dân tộc, nó nói nên rằng, cùng là dòng máu Việt, không thể để trong tương lai còn có sự đổ máu như thế nữa! Dòng sông ngàu đỏ đã nói nên khát vọng chung sống trong hòa bình, không để chiến tranh dẫn đến sự đau thương mất mát không biết bao giờ mới xóa đi được trong ký ức sâu thẳm của người Việt Nam ta…”. Tôi cứ nghĩ (dẫu chỉ là ý kiến cá nhân): Giá như các nhà văn, nhất là những cây bút từng có những đóng góp và đã rất thành công về đề tài chiến tranh đều có những góc nhìn đầy đủ và sâu sắc như vậy thì chắc chắn sẽ góp phần làm cho những trang viết lạc nhịp nêu ở phần trên trở nên… đuối nhịp!

Chiến tranh bao giờ cũng có tính hai mặt của nó. Chiến thắng  đi liền với sự đổ máu, hy sinh. Chúng ta hãy cùng nhớ về câu chuyện hơn bảy chục năm trước, cùng đọc lại bức thư của Bác Hồ gửi bác sĩ Vũ Đình Tụng - Bộ trưởng Bộ Y tế  của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, khi nghe tin con trai ông là Vũ Đình Thành hy sinh trong những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến (đầu năm 1947): “Tôi được báo cáo rằng, con giai ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc. Ngài biết rằng, tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên hình như tôi đứt một đoạn ruột… Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi, vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn sống với non sông Việt Nam…”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp lúc sinh thời cũng đã từng chỉ trích cán bộ khi nói đến “trận đánh đẹp”. Và cũng có câu chuyện kể rằng sau mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch thì Đại tướng lại ngồi một mình lặng lẽ nhỏ những giọt lệ xót thương những người ngã xuống! Phải chăng, Đại tướng nhỏ lệ cho cả sự đổ máu của đối phương với tư cách là những con người bằng xương bằng thịt, chứ không riêng gì với quân và dân ta? Đó là những câu chuyện hết sức nhân văn của người đứng đầu đất nước và quân đội ta. Và càng khẳng định rằng, tiếng nói nhân văn hoàn toàn khác với tiếng nói cố tình đánh tráo, đánh đồng giữa sự hy sinh cho Tổ quốc với những cái chết phi nghĩa, vô nghĩa như đã nêu trên đây. Những trang viết với động cơ không trong sáng này dứt khoát sẽ đi từ lạc nhịp đến đuối nhịp.

 N.H.S


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)