Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: Bài hịch lịch sử của thế kỷ XX

Thứ sáu - 21/09/2018 22:36
Ngày 19 tháng 12 năm 1945 Hồ Chủ tịch viết: “ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt, vào chính ngày đó giặc pháp đã nổ súng đánh chiếm thủ đô Hà Nội; các hiệp ước tạm thời ta và pháp ký đã bị phá vỡ hoàn toàn. Cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp từ cục bộ đã lan ra cả nước Việt Nam. Dân tộc Việt Nam đang đứng trước một cuộc chiến đấu một mất một còn đối với quân đội viễn chinh xâm lược Pháp được trang bị vũ khí tối tân vô cùng độc ác và hung tàn.
 
buttich 1482128765291
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh (Nguồn internet)

Văn kiện này do chính Hồ Chủ tịch công bố trước quốc dân đồng bào cả nước. Nửa đêm ngày 19 tháng 12 năm 1946, Bác đọc trước máy ghi âm, để sáng sớm ngày 20 tháng 12 năm 1946, Đài tiếng nói Việt Nam truyền đi tiếng Người trên làn sóng điện. Bằng một giọng ấm áp truyền cảm và khẩn thiết, không đến hai phút. “ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” đã vang dội non sông, có sức mạnh thần kỳ động viên cả dân tộc ta bước vào cuộc chiến đấu, vượt qua muôn vàn gian khổ hi sinh, vô cùng anh dũng, đánh thắng thực dân Pháp xâm lược, lập nên một kỳ tích vẻ vang mà gần 100 năm đấu tranh dân tộc ta mới có được. “ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” là bài hịch lịch sử ngắn gọn. Khi in ra không quá một trang giấy 15x22. Ngắn gọn nhưng lại đầy đủ nội dung, hình thức một bài hịch. So với “ Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn công bố năm 1285 trước 715 năm.  “ Lời kêu tọi toàn quốc kháng chiến " của Hồ Chủ tịch ngắn gọn hơn năm lần về số câu chữ nhưng chứa đựng nhiều tư tưởng mới, sức sống mới bao quát cụ thể hơn và mang tính chất thời đại mới.

Phần mở đầu “ Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn đã xác định cho tướng sĩ lý tưởng ca cả, xả thân vì nước, lưu danh sử sách muôn đời, bằng cách nêu các gương chiến đấu hi sinh quên mình vì lẽ trung quân ái quốc. Ở “ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” Hồ Chủ tịch mở đầu bằng câu cảm với mục đích kêu gọi:  “Hỡi đồng bào toàn quốc!” Sau đó Người nêu lý tưởng cao cả của toàn thể dân tộc ta là nền hòa bình trên đó là độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ đã bị thực dân pháp xâm phạm trà đạp. Mặc dù “ chúng ta phải nhân nhượng” nhưng “ càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới” và Bác chỉ ra âm mưu thâm độc cuối cùng của giặc Pháp “ vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa”.

Không thể lựa chọn con đường nào khác, dân tộc ta phải đứng lên cầm vũ khí chống giặc cứu nước: “ Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước không chịu làm nô lệ”. Đó là con đường chính nghĩa, cả dân tộc ta phải xả thân vì nghĩa lớn, nêu lên chân lý thời đại mới “ Không có gì quý hơn độc lập tự do!”
Phần thứ hai của bài hịch thường là kể tội ác của kẻ địch, thể hiện lòng căm thù giặc cao độ. Đoạn này ở “ Hịch tướng sĩ” rất dài và rất đậm nét. Ở bài hịch lịch sử này Hồ Chủ tịch không hề nhắc tới tội ác của quân thù, nhưng những kẻ cướp nước gây chiến tranh phá hoại hòa bình, xâm phạm nền độc lập của một dân tộc vốn yêu hoà bình, tự do như dân tộc Việt Nam, thì thực sự họ là  kẻ thù nguy hiểm đã và đang gây tội ác tầy trời. Không cân phải  kể tội ác của kẻ thù, Bác kêu gọi khẩn thiết: “ Hỡi các đồng bào” sau đó là mệnh lệnh khẩn cấp: “ Chúng ta phải đứng lên! ”.

Phần thứ ba của bài hịch là lời kêu gọi đã được thể hiện,  Bác viết một đoạn văn kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam không phân biệt giới tính, già trẻ, tôn giáo, đảng phái, dân tộc. “ Hễ là người Việt nam thì phải đứng lên cứu Tổ quốc”. Bác nhắc nhở cụ thể từng người: “ Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc.".
Đoạn văn này Người vừa nói đến lực lượng vừa nói đến tinh thần kháng chiến vừa nêu lên nhiệm vụ chung của toàn dân và nhiệm vụ riêng của từng người. Bác dùng phép liệt kê không bỏ sót một người nào trong xã hội Việt Nam lại dùng phép tăng cấp theo hai chiều hướng vũ khí thì tiệm thoái, tinh thân thì tiệm tiến, động viên được toàn thể mà cũng rất cụ thể “ Ai cũng phải ra sức chống thực dân pháp cứu nước”.

Đây là bước phát triển của  tư tưởng Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện. Trong “ Hịch tướng sĩ” Trần Quốc Tuấn chỉ kêu gọi tới một bộ phận dân tộc đó là các tướng sĩ, lực lượng trực tiếp chiến đấu. Bài hịch lịch sử này của Bác vừa chú ý đến lực lượng toàn dân vừa chú ý đến lực lượng trực tiếp chiến đấu. Sau lời kêu gọi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân, Bác dùng một câu ngắn gọn cô đúc: “ Giờ cứu nước đã đến” thực như một mệnh lệnh cầm vũ khí xông lên, lại thêm một lời khuyên nhủ mà chẳng khác một lời thề son sắt: “ Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước”.
Phần cuối của bài hịch thường chỉ ra khả năng tất thắng của cuộc chiến đấu. Bác chỉ dùng một câu văn đã khẳng định niềm tin chiến thắng “ Dù phải gian lao kháng chiến nhưng với một lòng kiên quyết hi sinh thắng lợi nhất định về dân tộc ta”. Nhìn vào cấu trúc câu thấy Bác thêm vào: “ Với một lòng kiên quyết hy sinh” là nhấn mạnh đề cao ý chí sắt đá của toàn dân tộc. Chính cái đó là nhân tố quyết định thắng lợi trong một cuộc chiến tranh ác liệt, trong một tình thế nguy hiểm ngàn cân treo sợi tóc. Ở đoạn kết thúc này Hồ Chủ tịch còn viết thêm hai khẩu hiệu chiến lược:
“ Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! ”   
“ Kháng chiến thắng lợi muôn năm ! ”
Để quân và dân ta tin tưởng và phấn đấu.
Như vậy “ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Hồ Chủ Tịch là bài hịch lịch sử của thế kỷ XX, cũng như “ Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn thế kỷ thứ XIII đã đi sâu vào lòng dân tộc, đi vào lòng thời đại mang sức mạnh vô địch và mang sức sống trường tồn mãi mãi.
 
                                                                                         11/2000
Tài liệu tham khảo: Hồ Chí Minh- Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, tuyển tập 1 (1920 - 1954), Nxb Sự Thật, HN, 1980, tr403, 404.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo