Một thế giới của nhịp

Thứ tư - 15/08/2018 13:20
. NGUYỄN ĐÌNH MINH KHUÊ

1. Trong mỗi tác phẩm văn chương cư trú một nhịp điệu. Nhịp theo tôi không chỉ là thành tố có vai trò quyết định trong việc kiến tạo nên yếu tính của thơ ca mà còn có mặt trong mọi thể loại, chi phối mọi văn bản, can dự sâu vào các tầng thế giới mà tác phẩm tạo dựng, thậm chí đôi khi nó còn có khả năng tương chiếu, hay nói đúng hơn, tiên báo và định liệu cho số phận và đường đi của mỗi tác phẩm trong chiều dài lịch sử văn chương.
Hà Hương phong nguyệt của Lê Hoằng Mưu(1) là một trường hợp đặc biệt của nhịp.
 
2. Đọc Hà Hương phong nguyệt, trước hết và dễ nhận ra hơn hết là một thế giới của các cú đoạn đầy nhịp. Nhịp không chỉ xuất hiện trong những phần có hình thức là một bài thơ - đơn cử như bức thư mà Hà Hương gửi cho Ái Nghĩa ở những hồi đầu - mà còn đi rất sâu vào lời của người trần thuật và các đoạn thoại của nhân vật, buộc người ta phải ngừng nghỉ đúng chỗ khi đọc, nhịp nhàng bước đi theo sự dẫn lối của âm thanh. Có thể dẫn ra vài trường đoạn:

- “Ó nghe nói/ lòng đau biết mấy, nhớ mẹ già/ dạ luống xót xa, nghĩ khi/ chưa bước chưn ra, hẹn cùng mẹ/ đi về nội tháng. Nay rủi/ gặp cơn vận hạn, mới khiến nên/ lâm nạn chốn này” (tr.77).

- “Nào kể/ chữ thanh cùng trược, nài chi/ danh lợi với đời, cũng vì xem/ cuộc thế đổi dời, nói lắm/ nặng hơi mỏi nghểnh. Thà vui thú/ nay cồn mai vịnh, mớ cá tôm/ chút đỉnh đổi tiền, hơn là ra/ cướp lộc giành quyền, cho thế sự/ kẻ phiền người trách” (tr.135).

- “Hoa khóc kể/ máu theo nước mắt, rồi liệu toan/ chôn cất chủ gia, Nghĩa Hữu thì/ không có ở nhà, cho hay nỗi/ oan gia khéo trả! Tống chung/ rồi xong xả, Hoa nghĩ/ sự thế thêm rầu, bây giờ đây/ biết tính đi đâu, trả cho sạch/ oán sâu từ ấy” (tr.312).

Rất dễ thấy, các cú đoạn bảy chữ với nhịp 3/4 đặc trưng của thơ Việt rầm rộ đi vào lời trần thuật của Lê Hoằng Mưu bên cạnh sự xen lẫn của các câu sáu, tám chữ với những nhịp chẵn dễ tạo ra sự biến chuyển linh hoạt cho lời kể. Hoàn toàn có cơ sở khi cho rằng đó là kiểu nhịp của hát nói trộn hòa vào nhịp các câu thất của song thất lục bát - những lối văn phát triển vô cùng thịnh dật vào thời hậu kì trung đại Việt Nam và gần như đã ngấm vào lối đọc văn của con người đương thời, dù không thể phủ nhận rằng, vào lúc ấy văn hóa Tây phương đã có những tiếp xúc bước đầu với văn hóa bản địa. Thậm chí, cách kết cấu nhịp của các cú đoạn như thế còn khiến ta dễ liên tưởng đến kiểu nói lối trong cải lương hay truyền thống nói thơ Lục Vân Tiên với những nhấn nhá, vừa ngâm vừa kể đã trở thành máu thịt, căn cốt của tự sự Nam Bộ.

Tất nhiên, trong cả ba phần văn bản mà nhà nghiên cứu Võ Văn Nhơn sưu tầm được, từ bản in sách cho đến bản in trên báo Nông cổ mín đàm trong hai năm 1912 và 1915, có những đoạn cho thấy một sự lơi nhịp rất rõ nơi Lê Hoằng Mưu. Vốn tri thức Tây học và một nỗ lực cách tân lối kể truyền thống (như cách ông tâm sự: “Tôi học văn Pháp có lấn hơn văn Tàu, nên tôi viết theo cách văn Pháp nhiều hơn”) dường như chính là nguyên nhân của hiện tượng ấy. Nhưng thường thì rất nhanh chóng, nhịp lại được kéo về và đi đúng con đường của nó. Không đánh giá được một cách vội vàng rằng đó là thất bại hay thành công, nhưng hoàn toàn có thể kết luận rằng, Hà Hương phong nguyệt đã đúng nhịp.

Sự đúng nhịp ấy là vô cùng quan trọng, bởi nó thực hiện vai trò kéo dài đời sống của Hà Hương phong nguyệt trên mặt báo Nông cổ mín đàm suốt bốn năm, một hiện tượng tuyệt hiếm vào thời điểm ấy. Sự tồn tại lâu dài này trước hết phản ảnh cái sự “bán chạy như tôm tươi giữa buổi chợ sớm”, hay nói đúng hơn, sự hô ứng của tầm đón đợi đương thời với cái nhịp của tác phẩm Lê Hoằng Mưu.
Tuy nhiên, sự đúng nhịp ở đây còn có một ý nghĩa khác.

 
ha huong phong nguyet

Trước Hà Hương phong nguyệt, hầu như chưa có một tác phẩm văn xuôi viết bằng quốc ngữ nào lại có khả năng mở rộng biên độ tự sự của mình đến thế, từ Truyện thầy Lazarô Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản, Hoàng Tố Oanh hàm oan (1910) của Trần Chánh Chiếu cho đến Phan Yên ngoại sử, tiết phụ gian truân (1910) của Trương Duy Toản - những tác phẩm chỉ dừng lại ở độ dài vài mươi trang. Có thể lí giải hiện tượng này bằng rất nhiều nguyên do, nhưng có lẽ một trong số ấy là sự bắt đúng nhịp của lời kể. Đọc thử Truyện thầy Lazarô Phiền hay Phan Yên ngoại sử, tiết phụ gian truân, rất khó nhận ra đây là những tác phẩm được viết trong thập niên đầu tiên của thế kỉ XX hay thậm chí là từ thế kỉ XIX, bởi câu cú đầy vẻ hiện đại, gần như bỏ qua mọi vần nhịp và rất ít biền ngẫu. Tuy nhiên, cũng chính vì cái màu tân thời ấy mà các tác phẩm này chỉ dừng lại trong khuôn khổ của những truyện ngắn, truyện vừa - một trong những lí do khiến chúng thường xuyên bị tranh cãi khi được định danh là tiểu thuyết.

Một sự thật không thể phủ nhận được: người thời nào thì có cái nhịp của thời ấy. Nhịp ấy ăn rất sâu, và khi được bắt đúng, nó tuôn ra, mênh mông. Ở Hà Hương phong nguyệt, sự đúng nhịp với tác dụng kéo dài hành trình trần thuật, vì thế, góp một phần lớn, thậm chí là rất lớn, vào việc định khung tiểu thuyết cho nó, bất chấp mọi bất đồng của hậu thế trong vấn đề minh định thể loại đối với các tác phẩm cùng thời, hơn thế, còn đưa nó “vượt lên” để trở thành tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên của Nam Bộ, như nhận định của nhiều nhà nghiên cứu.
 
3. Nếu nhịp của các cú đoạn tạo cho Hà Hương phong nguyệt một vị thế văn chương rất cao, thì một thứ nhịp khác, đến từ một tầng thế giới khác của cuốn tiểu thuyết này, lại khiến nó bị hủy diệt trong lửa đỏ(2). Tôi muốn nhắc đến nhịp của tự sự trong Hà Hương phong nguyệt.

Nói một cách công bình thì nhịp kể của trước tác này hoàn toàn không có gì mới mẻ, đột phá, nếu không muốn nói là rất bình thường. Sự kể trong Hà Hương phong nguyệt, cũng giống như trong hầu hết các tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn trước 1932, hướng đến một “thế giới của sự”, như cách mô tả của nhà nghiên cứu Phan Mạnh Hùng, nên xuyên suốt là một thứ nhịp trần thuật dàn trải theo sự kiện, đều đặn đi theo tuyến tính thời gian, xen lẫn các tình tiết với suy tưởng, các hành động với tâm lí nhân vật.

Nhưng câu chuyện về sự hủy diệt mà tôi muốn nhắc đến không hề bắt nguồn từ sự mới của nhịp độ trần thuật, mà chính từ sự cũ kĩ, quen thuộc của nó.

Hà Hương phong nguyệt có thể được xem như một trong những trường hợp đầu tiên của văn chương tự sự Việt Nam đưa những nhân vật xấu xí (tất nhiên là xấu xí trong cách nhìn của diễn ngôn đạo đức và văn hóa đương thời) lên làm trung tâm của câu chuyện. Đó là một Hà Hương đầy những ham mê sắc dục, những mưu mô nham hiểm và một Nghĩa Hữu chỉ ham thích ăn chơi, hưởng thụ những thú vui lạ ở lầu xanh. Thật ra, trong Hà Hương phong nguyệt cũng có xuất hiện những hình bóng quen thuộc, mà đơn cử là nàng Nguyệt Ba đẹp đẽ, trí tuệ, tháo vát. Tuy nhiên, như cách đặt vấn đề của nhà nghiên cứu Trần Văn Toàn, Nghĩa Hữu không chọn Nguyệt Ba mà lại vương vấn cùng Hà Hương, dù biết Hà Hương là một cô gái đua đòi, biếng nhác và dù từng chấp nhận đuổi Hà Hương về nhà cha mẹ ruột để cưới Nguyệt Ba. Rất dễ thấy, chính ở đây, một cuộc lột xác nảy nở: những tượng đài giai nhân - tài tử có mặt từ suốt vài trăm năm qua bị đánh sập; ngôn từ nghệ thuật rơi từ vị trí sang trọng, phong nhã, cao cấp xuống mảnh đất của đời sống bình dân với những mô tả về sắc dục và những khoái cảm thuần sinh lí.

Nhưng cuộc lột xác ấy có lẽ vẫn chưa phải là căn cốt của vấn đề. Thật ra, theo tôi, những tranh cãi nảy lửa xung quanh Hà Hương phong nguyệt phát xuất từ một sự bức bối. Có thể người ta chưa quen, nhưng cái chính yếu là người ta cảm thấy bị lừa dối.

Câu chuyện được kể với một kiểu nhịp rất truyền thống, thậm chí là một cái nhịp rất nhàm đã đều đặn đi qua suốt mấy trăm năm của văn chương tự sự Việt Nam. Chính vì vậy, khi tìm đến với Hà Hương phong nguyệt, người ta vừa đọc mấy đoạn đã thấy cái âm hưởng quen thuộc của một thời vang vọng lại. Và vì vậy mà mê mải đọc tiếp. Nhưng dõi theo hết mấy trăm kì báo, đi từ lúc Hà Hương phong nguyệt còn là những đoạn rời in trên Nông cổ mín đàm theo kiểu feuilleton cho đến khi nó được xuất bản thành sách với sáu quyển dày, người ta nhận ra hình như mình đã vướng phải một cú lừa ngoạn mục. Tưởng là người quen nhưng thật ra lại quá xa lạ, thậm chí là xa lạ theo một cách hoàn toàn không thể chấp nhận được. Quyển tiểu thuyết xa rời mọi chuẩn mực, đạp đổ mọi thần tượng ấy, mỉa mai thay, lại nằm ẩn dưới một lớp phục trang quen thân!

Điều này cũng giải thích vì sao mãi đến năm 1923 thì cuộc bút chiến dữ dội về Hà Hương phong nguyệt mới bắt đầu bùng nổ. Trong suốt gần mười năm ấy, có lẽ cái cảm giác bị lừa gạt đeo đuổi mãi. Và đến một lúc nào đó, nó trào dâng thành những lời chửi rủa, mạt sát, và đỉnh điểm nhất là tác phẩm này trở thành một bị cáo giữa pháp đình để cuối cùng, cơn lửa đỏ thiêu rụi gần hết hàng ngàn bản Hà Hương phong nguyệt được in vào thời điểm ấy.
 
4. Cũng giống như bất kì sinh thể nào, mỗi tác phẩm văn chương có sinh mệnh của riêng nó, một sinh mệnh được kiến tạo bởi sự bình luận và thông diễn. Nó sinh ra là để được người ta bàn về, nói về. Nó xuất hiện là để được khen ngợi, phê bình, chê trách, thậm chí mỉa mai, vùi dập và hủy diệt. Chính vì vậy, rất dễ hiểu rằng sinh mệnh của một tác phẩm văn chương chính là nằm ở cái nhịp điệu và biên độ của sự bình luận mà người ta dành cho nó. Có khi nhịp sinh mệnh của một tác phẩm gần như đập không ngừng nghỉ, song cũng có lúc nó vang lên một lần rồi mãi mãi lặng im. Có những tác phẩm được bình luận đều đặn đến từng ngày, từng giờ, ở nhiều nơi, thậm chí là trên phạm vi toàn cầu. Có những tác phẩm được người ta rầm rộ săn đón, được nhắc đến liên tục ngay từ khi mới ra đời nhưng rồi nhanh chóng chìm xuống dưới lớp bụi của quên lãng. Và cũng có những trường hợp đặc biệt như Hà Hương phong nguyệt, một số phận kì lạ, tưởng chừng đã chết yểu vào năm 1923 nhưng gần một thế kỉ sau lại từ những phương trời xa xôi nào quay trở về với một vị thế hoàn toàn khác.
Lịch sử văn chương luôn là những cơ biến kì ngộ như thế.

Việc Hà Hương phong nguyệt trở lại lần này từ tâm sức của nhà nghiên cứu Võ Văn Nhơn thực sự là một sự kiện đáng hoan nghênh và mong đợi. Nó làm thỏa lòng những ai mong muốn có được hình dung chân xác về một trong những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của văn chương Việt Nam. Nó giải đáp những thắc mắc, bí ẩn về một quyển sách tưởng chừng đã ra đi mãi mãi trong sự cuồng nộ của một thời. Nó cảnh giác chúng ta về một quãng tăm tối của phê bình văn nghệ, nơi người ta ưa chỉ trích, mạt sát nhau, ưa dùng ngòi bút để chà đạp, hạ bệ và thủ tiêu nhau. Và hơn hết, bản thân Hà Hương phong nguyệt cùng với cuộc bút chiến đẫm máu trong những năm 1920 cũng nhắc nhở chúng ta về thiên chức thực thụ của phê bình. Phê bình là một sự nhìn, nhưng là một sự nhìn không lệch, dù là lệch về bất cứ bên nào. Gần trăm năm trước, quyển sách này đã bị vùi dập đến cực điểm và phải chịu một số phận thảm khốc. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng khi trở lại sau gần một thế kỉ biệt tăm, Hà Hương phong nguyệt nên được nhìn nhận và đánh giá một cách dễ dãi dựa trên những cảm tình sùi sụt ướt át. Ngược lại, hơn lúc nào hết, sự trở lại với dáng vẻ đầy đủ nhất của Hà Hương phong nguyệt lần này đi kèm với một khát khao - khát khao nhìn nhận lại giá trị, vị thế của tác phẩm này và thậm chí là khung toàn cảnh của lịch sử văn học Việt Nam một cách đúng đắn, kĩ lưỡng và bình tâm nhất.
 
N.Đ.M.K
______
 
1. Hà Hương phong nguyệt, tiểu thuyết của Lê Hoằng Mưu (Võ Văn Nhơn sưu tầm, chỉnh lí và chú thích), Nxb Văn hoá - văn nghệ, Tp. Hồ Chí Minh, 2018.
2. Như chú thích ở bìa sách, cuốn tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên của Nam Bộ này bị chính quyền thuộc địa tịch thu, tiêu huỷ.

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo