Người anh hùng Điện Biên bên hàng bia Văn Miếu

Thứ năm - 10/11/2016 02:58
. PHÙNG VĂN KHAI
 
Hiền tài là nguyên khí quốc gia
(Trích Văn bia Quốc Tử Giám)

 
Mưa xuân bay mờ mịt trong khuôn viên Văn Miếu. Đất trời dường như tịch mịch, thanh sạch hơn trong buổi sương sớm khu vườn Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Những tàn cây cổ thụ thâm thẫm sáng dần, văng vẳng tiếng gà đâu đó của cư dân buổi sớm mai quanh bờ tường gạch vồ phủ rêu xám đậm hằn dấu tích thời gian. Một mái đầu trắng tinh sương lấp láy cặp mắt tinh anh tỏa lên vầng trán cương nghị khe khẽ nhướng đôi lông mày trắng rậm cong vút như tiên ông. Bộ quân phục trắng điểm rực rỡ huân, huy chương lấp lánh. Tiếng cười phát ra sang sảng.

Tôi bước nhanh về phía tiếng cười, chìa hai bàn tay nắm chặt bàn tay ấm nóng của người anh hùng Điện Biên năm xưa. Những giọt nước đọng từ mưa xuân ban đêm rơi tách tách lên mái đầu phơ trắng. Ông là anh hùng Điện Biên, Phùng Văn Khầu.

Đã mấy năm nay, cứ mồng 6 tháng giêng, sáu rưỡi sáng, khi trời đất còn nhọ nhẹ mặt người, anh hùng Điện Biên Phùng Văn Khầu đã có mặt trong sân Văn Miếu. Năm tháng, thời gian, tuổi tác, kể cả thời tiết càng gần đây càng không mấy dễ chịu nữa dường như không ngăn được bước chân ông. Có năm rét lắm, chỉ năm, sáu độ dương, khi chúng tôi còn lười nhác đùn đẩy ở trong chăn, người lính già đầu bạc đã hành quân từ Sơn Tây xuống. Tôi luôn thán phục sự chính xác của ông. Đã hẹn là có mặt, luôn đến sớm hơn vài phút. Dù mưa tuyết hay bão lốc người lính ấy đều đến đúng giờ, tươi cười trong bộ quân phục chỉnh tề huân huy chương lấp lánh. Cuộc đời ông luôn là một tấm gương.

Tôi và ông bước một vòng quanh hàng bia tiến sĩ ở Văn Miếu. Ông rất thích thú điều này. Người dân tộc Nùng quê chàng thanh niên Phùng Văn Khầu ở Trùng Khánh - Cao Bằng trước cách mạng mù chữ nhiều lắm. Không có ăn, không có manh áo ấm nói gì đến học hành, đến cái chữ, càng xa lắm để có được tự do, hạnh phúc ở đời.

Phùng Văn Khầu tham gia cách mạng rất đơn giản. Ông vào Việt Minh để được ăn no, được đánh giặc. Để thằng Tây hà hiếp dân mình, cướp thóc gạo, ngô sắn, bắt giết con gái, con trai Nùng, Tày, Mông, Thái, Mường… là không được. Phải vào đội ngũ Việt Minh để đánh đuổi chúng. Không chúng sẽ giết mình hết. Mười tuổi theo Việt Minh, mười chín tuổi trở thành bộ đội của đơn vị chủ lực là ao ước cháy bỏng cũng là số phận diệu kì của chàng trai dân tộc Nùng Phùng Văn Khầu.

Tôi thấy ông cứ vân vi, đăm đắm nhìn các dòng chữ bên hàng bia tiến sĩ. Ừ, mấy ai biết được ông khi vào bộ đội vẫn chưa biết chữ bởi ông chưa kịp học và cũng chưa có người dạy chữ cho Phùng Văn Khầu ngày ấy. Ngày ấy, đánh giặc cần kíp hơn, sát sườn hơn. Nhưng ước mơ có được cái chữ sao mà cháy bỏng, luôn thôi thúc người chiến sĩ.

Nhiều lần anh hùng Điện Biên chợt như lặng phắc, khuôn mặt tươi tắn của ông khẽ sững lại giây lâu. Tôi tiến sát ông, cảm thấy rất rõ một luồng ấm nóng truyền từ đôi bàn tay, ánh mắt, vẻ mặt của người đi trước, của cả đồng đội ông nữa, những người lính nằm lại trên đất Điện Biên, nằm lại trong những cánh rừng, sông biển mọi miền Tổ quốc để chúng tôi có được cuộc sống thanh bình hôm nay.

Tôi như lí giải được một phần tại sao những ngày đầu xuân, trong lễ trao thưởng cho các cháu đỗ đại học tại nhà Bái Đường và nhà Thái Học ở Văn Miếu Quốc Tử Giám ông đều đến rất sớm, đều lặng lẽ một mình hoặc cùng tôi đến bên hàng bia tiến sĩ. Những điều ấy, tuy ông không nói ra nhưng tôi hiểu là rất lớn lao, biểu đạt một tâm tư, một khát vọng cũng là lẽ sống ở đời. Sống ở đời phải biết lễ nghĩa, phải biết hiếu học, đặc biệt là phải biết trân trọng chữ nghĩa, kiến thức của bậc thánh hiền.

Mưa xuân vẫn bay mờ mịt. Lác đác có những cô cậu sinh viên đến sớm, họ đã phát hiện ra ông, họ ùa lại như bầy chim non mừng nắng mới. Khuôn mặt ông chợt bừng sáng, mái tóc bạc rung rung. Thì đấy, những hi sinh máu xương ngày nào đã nảy ra chồi non lộc biếc. Ánh mắt ông lấp lóa, như là có những giọt nước rịn ra, nhỏ thôi nhưng tôi đã thấy ông chấm chấm mắt. Mưa xuân đậu lên tóc, lên cặp lông mày trắng. Mấy ông cháu dắt nhau đi vào sân nhà Bái Đường. Phía bên kia là nhà Thái Học nằm trầm mặc, chất chứa nhiều điều. Từng hàng gạch Bát Tràng cổ tăm tắp đón bàn chân mấy thế hệ người lính, sinh viên các dân tộc Kinh, Nùng, Tày, Dao, Mông của các vùng quê Nam Định, Thái Bình, Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Hưng Yên, Hải Dương, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Sơn La, Lào Cai… trong buổi sáng mưa xuân trắng xóa.
*
*     *
Có những câu chuyện về việc chưa biết chữ của người anh hùng Điện Biên năm xưa khiến chúng ta vừa xúc động vừa như thấy mình phải biết quý giá hơn, dành nhiều thời gian hơn cho việc học hành, công tác hàng ngày.

Người anh hùng Điện Biên vân vi hồi nhớ. Khi làm anh nuôi ở Trung đội 1, Đại đội 755, Tiểu đoàn 275, Trung đoàn 675, Đại đoàn 351 những năm mới nhập ngũ Phùng Văn Khẩu vẫn chưa biết chữ. Khi được giao nhiệm vụ làm quản lí nuôi quân cho đơn vị, ông rất lo lắng vì bản thân lúc đó chưa biết chữ mà hàng ngày phải đi chợ mua thực phẩm phục vụ bữa ăn cho hơn 120 cán bộ chiến sĩ.

Số tiền chi tiêu từng ngày cứ dần nhiều lên. Cứ đà này không biết làm thế nào để nhớ được. Phùng Văn Khầu nảy ra sáng kiến nhặt những viên sỏi với các kích cỡ khác nhau để phân biệt các loại tiền (đồng, hào, xu) mà ông sử dụng mua thực phẩm trong ngày. Ông quy ước một viên sỏi loại to tương ứng với giá trị là 1 đồng, 1 viên sỏi loại vừa tương ứng với giá trị là 5 hào. Cứ thế các viên sỏi nhỏ dần tương ứng với giá trị của các loại tiền 2 hào, 1 hào cho đến 5 xu.

Để đựng những viên sỏi, Phùng Văn Khầu đã phải tự khâu một cái túi đeo bên người mang theo khi đi chợ. Nhưng vì số lượng viên sỏi ngày càng nhiều khiến ông không thể mang vác được. Một lần nữa, Phùng Văn Khầu lại nảy ra sáng kiến. Khi quan sát thấy bà con dân tộc có các loại ngô vàng, trắng, tím, ông nhặt và xin mỗi loại một ít cho vào túi đeo bên người thay cho những viên sỏi để ghi nhớ các loại tiền đã chi tiêu.

Với cách làm đó, trong ba năm làm quản lí nuôi quân, không những Phùng Văn Khầu không làm thất thoát của công mà đời sống người chiến sĩ luôn được đảm bảo. Từ những thành tích đó đã cho ông tư duy làm gì thì làm cũng phải dựa vào thực tiễn, dựa vào nhân dân. Chàng thanh niên dân tộc Nùng năm 1950 đã sớm nhận được Huân chương Chiến công hạng Ba và được Bác Hồ gửi tặng chiếc áo lụa. Trong đợt nghỉ phép, ông đem về biếu người cha của mình. Người cha Phùng Văn Khầu đã lặng đi trước tấm áo Bác tặng - tấm lòng của Hồ Chủ tịch.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khẩu đội Phùng Văn Khầu làm nhiệm vụ bắn phá cứ điểm đồi E, ông đã chỉ huy khẩu đội bắn 22 phát đạn đều trúng mục tiêu, góp phần tích cực tiêu diệt sinh lực địch tại đồi này. Khi nhận nhiệm vụ chuyển sang phòng ngự, ông đã cùng anh em khẩn trương, tích cực đào trận địa. Suốt 35 ngày đêm, mặc dù pháo binh địch bắn phá rất ác liệt, có lúc tiểu đội chỉ còn hai người, bản thân nhiều lần bị sức ép và bị thương, nhưng ông cùng đồng chí đồng đội luôn luôn nêu cao tinh thần ngoan cường bám trận địa, tích cực tiến công địch, chi viện đắc lực cho bộ binh chiến đấu ở các điểm cao 203, 207, 507 và đồi C1. Trong cuộc chiến đấu ác liệt, đơn vị hi sinh và bị thương gần hết, Phùng Văn Khầu một mình vừa làm pháo thủ ngắm bắn, vừa quan sát mục tiêu và liên tiếp bắn trúng hai khẩu pháo 105 ly và một khẩu đại liên của địch. Khi bị sức ép ngất đi, lúc tỉnh dậy ông tiếp tục chiến đấu rất anh dũng.

Trong thời gian phòng ngự ở đồi E, với một khẩu pháo 75 ly, Phùng Văn Khầu đã bắn phá hủy năm khẩu pháo 105 ly, sáu đại liên, một lô cốt, một kho đạn, diệt hàng trăm tên địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện cho bộ binh chiến đấu. Cũng chính từ thành tích trận chiến đấu này, ông vinh dự được nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Ngay sau chiến dịch Điện Biên Phủ, Phùng Văn Khầu được cử lên Chiến khu Việt Bắc gặp Bác Hồ để báo công. Ông vẫn còn nhớ như in những xúc cảm của mình: “Bao nhiêu năm chiến đấu, ước mơ được gặp Bác Hồ đã trở thành hiện thực. Những anh em đi với tôi ai cũng vui mừng. Bác gắn Huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên Phủ cho tôi, ôm hôn tôi, dặn tôi chớ vì thắng mà kiêu, chớ chủ quan khinh địch, chiến sĩ Điện Biên phải luôn luôn khiêm tốn, giản dị, chân thành; phải luôn trung thực, thật thà, thẳng thắn học hỏi để tiến bộ...”.

Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Phùng Văn Khầu lại được gặp Bác Hồ lần thứ hai. Đó là dịp ông được tuyên dương danh hiệu Anh hùng. Người anh hùng xúc động nói: “Cũng như lần trước, Bác Hồ lại trực tiếp gắn Huân chương Quân công hạng Ba và trao danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho tôi. Rồi Bác cũng dặn dò không được tự kiêu, tự mãn, luôn khiêm tốn, thật thà, không được giấu dốt, giấu khuyết điểm...”.

Tháng 7 năm 1965, khi lên thăm Khu Tự trị Việt Bắc, Bác Hồ đã đến thăm gia đình Phùng Văn Khầu, khi ấy ông đang chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên - Huế. Bác Hồ chia bánh kẹo cho hai con gái ông, gửi lời thăm Phùng Văn Khầu và dặn vợ ông - cô Cay phải “nuôi con khỏe, dạy con ngoan, để chồng yên tâm chiến đấu ở chiến trường”.

Người chiến sĩ Điện Biên thủ thỉ nhưng rành rẽ từng tiếng một: “Bác Hồ dành cho tôi và gia đình rất nhiều tình cảm. Đó là thứ quý giá, vô cùng thiêng liêng mà không phải ai cũng có. Suốt đời chiến đấu, công tác, lúc nào tôi cũng luôn nhớ lời Bác dặn dò”.

Những viên sỏi nhặt ở khu vực làng Keng Riềng, xã Vi Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng ngày nào phục vụ tính toán chi tiêu giờ đang nằm yên trong Bảo tàng Quân sự Việt Nam với số hiệu 11003/Đ-33/1-5. Sỏi còn kia, người còn kia, chiến công còn đó. Thời gian trôi hiền từ rong ruổi cũng không ít khi quyết liệt vần xoay.

Mái đầu người anh hùng những năm đánh Điện Biên xanh nhưng nhức giờ như mây trắng xóa. Biết bao nhiêu sự việc, con người, nhất là những đồng đội đã ngã xuống khiến mỗi khi nghĩ đến, người anh hùng không khỏi chạnh lòng. Mái đầu bạc rưng rưng trong khói chiều nghĩa trang Điện Biên chạng vạng. Mái đầu bạc trầm mặc u hoài sương sớm sân Văn Miếu phút giao thời. Tôi luôn thấy ông, dù ở đâu vẫn vẹn nguyên một phẩm chất khiêm nhường, giản dị và sẵn sàng nhập cuộc.
*
*      *
Ít ai biết người anh hùng Điện Biên từng mở lớp học tại nhà, trực tiếp dạy môn toán miễn phí cho các cháu học sinh trong khu phố.

Từng mù chữ bao nhiêu năm, từng phải dùng những hòn sỏi để tính toán dưới đạn bom, những tháng ngày xẻ núi, mở hầm, mưa dầm cơm vắt, hơn ai hết, ông thấu hiểu sự quan trọng, thiết yếu của cái chữ, con số với con người. Lớp học ở nhà người anh hùng giản dị lắm. Mấy cái bàn ghế gỗ ông tự tay sửa sang, dồn ghép. Phấn bảng, bút mực thảo thơm. Đi qua bao thử thách thăng trầm để lúc này đây đứng trước những cặp mắt mở tròn mong kiến thức. Đời người lính, ước mong của người lính sao mộc mạc quá chừng. Mộc mạc nhưng luôn rất thân thiết với đời sống cần lao của nhân dân, của bà con lối xóm.

Ông Nguyễn San, Bí thư Chi bộ Khu phố 8, phường Sơn Lộc - Sơn Tây cho biết: Bác Khầu là người không ai có thể chê được điều gì. Bác Khầu và gia đình luôn mẫu mực từ những việc nhỏ nhất cho đến những việc lớn của khu phố. Về hưu đã trên hai mươi năm, hiện nay ở vào tuổi trên tám mươi, nhưng hầu như bác Khầu không phút nào ngơi làm việc, chưa bao giờ bỏ một buổi sinh hoạt chi bộ, tổ dân phố, học tập nghị quyết. Được bà con tín nhiệm bầu làm nhiều công việc của địa phương, về đến nhà là hăng hái giúp con cháu việc gia đình. Ngoài việc nuôi dạy các con chăm ngoan, học hành tiến bộ, bác Khầu còn nhiệt tình khuyên nhủ, động viên các cháu thanh, thiếu niên trong khu phố phấn đấu rèn luyện trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Đặc biệt, trong sinh hoạt chi bộ và các tổ chức ở địa phương, bác Khầu luôn chân thành, thẳng thắn đóng góp ý kiến, giúp các đồng chí có thiếu sót, khuyết điểm phấn đấu tiến bộ.

Năm nay, người anh hùng Điện Biên đã bước sang tuổi tám mươi lăm. Ngót một thế kỉ cầm súng, cầm cuốc cày, đánh giặc, học chữ, học làm người, ở nơi đâu và lúc nào, ông vẫn luôn giữ được sự khiêm nhường, giản phác, an nhiên của người từng vào sinh ra tử. Ông giờ đã như vầng mây trắng thanh thản trên bầu trời Điện Biên xuân thu nhị kỳ trò chuyện cùng đồng đội, những người còn sống, cả những liệt sĩ có danh và khuyết danh đã yên nghỉ vĩnh hằng dưới cỏ xanh. Điều gì đã tôi rèn lên thế hệ các ông, những người từng lầm than nô lệ, thiếu đói, thất học vùng lên làm chủ cuộc đời mình, Tổ quốc non sông mình? Điều đó chỉ có thể lí giải là khí phách Việt Nam, truyền thống quật cường tổ tiên bao đời hun đúc đã truyền lại.

Năm nào, người anh hùng cũng lên Điện Biên, ông chứng kiến những đổi thay của vùng đất lịch sử. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, một đỉnh cao chói lọi, một chiến công hào hùng trong những chiến công oanh liệt như Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa của thời đại Hồ Chí Minh. Điện Biên Phủ xưa hào hùng, oanh liệt. Điện Biên Phủ hôm nay ấm no, hạnh phúc, an lành. Đó cũng là mong ước của Bác Hồ, của những người con ưu tú đã hi sinh vì Tổ quốc.

Điện Biên Phủ sau ngày chiến thắng với tàn tích chiến tranh nặng nề, nhà cửa, đường sá, cầu cống đổ nát, bom mìn ẩn dưới lòng đất, nhân dân gặp vô vàn khó khăn. Điện Biên Phủ từng bước vươn mình sau chiến thắng lịch sử. Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam/ Hoa mơ lại thắm vườn cam lại vàng. Ý chí và niềm tin của quân và dân Điện Biên thể hiện bằng những công việc lặng thầm, cụ thể.

Chín năm kháng chiến trường kì đã cho một Điện Biên kiên cường chất thép. Trong công cuộc đánh Mỹ, Điện Biên vừa tự lực tự cường xây dựng và phát triển vừa đóng góp sức người sức, của cho tiền tuyến lớn miền Nam. Hòa bình, thống nhất đất nước, quân và dân Điện Biên tiếp tục vượt đói nghèo, lạc hậu, phát huy truyền thống cách mạng, Điện Biên luôn không ngừng vững bước đi lên.

Điện Biên ngày mới hôm nay rực cờ hoa, người người rạng rỡ. Sắc hoa đào, hoa ban trên đường phố mới Điện Biên tươi thắm bên các sắc tộc người Thái, Kinh, Dao, Mèo… đã như thay lời biểu hiện sức vóc mới Điện Biên. Những khu nhà khang trang, đường phố phong quang, sạch đẹp. Chợ Điện Biên ăm ắp hàng hóa, sản vật. Gạo Điện Biên nức tiếng xa gần như một lời mời du khách thưởng thức tấm lòng thơm thảo của vùng đất lịch sử năm xưa.

Những ngôi trường mới khang trang vang tiếng nói, tiếng cười. Các thầy cô ân cần bên mỗi học sinh đang gắng sức để góp nên một Điện Biên dài rộng, vững bền. Điện Biên hôm nay đã và đang thay đổi từng ngày, đã và đang cùng với cả nước vững vàng trong công cuộc đổi mới xứng đáng với lời thơ Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng như mong ước của nhân dân.

Sân Văn Miếu trầm mặc. Bên hàng bia tiến sĩ, trời càng ngày càng hửng nắng. Đất trời cũng như đang mở ra ngắm nhìn người anh hùng Điện Biên bên hàng bia Văn Miếu. Mấy vị khách du lịch người nước ngoài cũng bước tới bên các sinh viên đang ríu rít nơi các hàng bia. Các thứ tiếng Việt, Anh, Nhật, Pháp, Trung, Hàn… khẽ vang lên. Họ nhìn vào mắt nhau, ấm áp, tự tin, cởi mở. Tri thức luôn đưa mọi người xích lại gần nhau, không phân biệt màu da, biên giới. Văn hóa vốn trường tồn, luôn nảy nở, sinh sôi. Những gì thật giả đứng trước văn hóa đều trở về giá trị thực của nó.

Những câu hỏi bằng nhiều thứ tiếng vang lên. Các sinh viên trong đó có không ít cô cậu khá thông thạo ngoại ngữ trò chuyện cùng các vị khách ngoại quốc. Các em là những người chịu học, lợi khẩu và luôn biết tích lũy kinh nghiệm, làm giàu kho tri thức của mình ở mọi lúc, mọi nơi để phục vụ nghề nghiệp sau này. Đến với Văn Miếu Quốc Tử Giám, dường như ai cũng không thể đến một lần, nhất là bên những hàng bia tiến sĩ, để mong hiểu ngay được ý nghĩa sâu xa mà người xưa gửi gắm.

Nơi đây, từ bia đá bảng đồng đến cỏ cây, gạch ngói đang như vọng ra những thì thầm rất nhỏ từ từng mạch đất. Nơi đây, như đòi hỏi người đến, trong đó có những người lính, những sinh viên phải suy nghĩ, tự làm thanh sạch mình trước khi tìm hiểu, hay có một hành động ứng xử với đồng đội, với đời sống xung quanh. Ừ đã đành, cái sự học bây giờ đã khác xa ngày trước. Nhưng không hiểu sao, những tiến sĩ được vinh danh ở nơi đây, với những người lính, trong đó có người anh hùng Điện Biên đã ở tuổi trời vẫn là những cái gì rất thiêng liêng.

Ông thong thả bước vào nhà Bái Đường. Rất nhiều người đến chào người chiến sĩ Điện Biên quân phục chỉnh tề huân huy chương lấp lánh. Có nhiều giáo sư, tiến sĩ lừng danh tiến về phía ông. Có cả các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội tươi tắn bắt tay ông. Mọi khuôn mặt đều rạng rỡ. Nhưng đông nhất, vây lấy ông nhiều nhất vẫn là các cháu sinh viên. Ông đang hòa vào những nụ cười, giọng nói trẻ trung trong nắng sớm mùa xuân ở nhà Thái Học. Xa xa, hàng hàng bia tiến sĩ trầm mặc, tôn nghiêm.

P.V.K


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu thuyết của Gabriel García Márquez

Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu...

Cuộc đời của Escobar là khối mâu thuẫn lớn, bởi sự đối lập giữa thiện - ác, thiên thần - ác quỷ, nhân từ - máu lạnh, do đó, hắn có sự hấp dẫn lớn đối với quần chúng hơn bất kì tên trùm tội phạm nào. (PHAN TUẤN ANH)

 
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ - nguyên mẫu và nỗi oan của một con người

Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ -...

Trong các tiểu thuyết của tôi, nhân vật chính hay phụ đều được xây dựng từ những chi tiết rất thực mà tôi tích lũy được. Thường thì, chỉ từ một chi tiết rất nhỏ, bất chợt gặp trong đời sống mà tôi hình dung ra tính cách của một con người. (XUÂN ĐỨC)

 
Lần đầu tiên một nhân vật tiểu thuyết có chức danh này

Lần đầu tiên một nhân vật tiểu...

Ai đọc cũng nhận ra tâm thế người viết là người trong cuộc, là xây dựng chứ đâu phải là người đứng ngoài chửi đổng cho sướng miệng. (Bài viết của NGUYỄN BẮC SƠN).

 
"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh ghép kí ức

"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh...

Là truyện ngắn viết bằng nỗi nhớ và kí ức nên hầu hết các nhân vật trong truyện đều được tôi nhào nặn từ các nguyên mẫu. Nhưng để có được một nhân vật hoàn chỉnh tôi đã “thuổng” của đồng đội mỗi người một vài nét ngoại hình, tính cách

 
Thực tế đời sống và nhân vật trong "Dòng sông phẳng lặng"

Thực tế đời sống và nhân vật trong...

Trong cuộc đời viết văn của mình, rất hiếm trường hợp tôi lấy nguyên mẫu ngoài đời để tạc nên nhân vật trong tác phẩm. Nhưng không có thực tế đời sống thì không thể làm nên các nhân vật đó. (Tô Nhuận VĨ)

Quảng cáo