Người con Quảng Bình trên đất Tây Nguyên

Thứ năm - 20/10/2016 03:49
.NHƯ QUỲNH

Tôi đã nhiều lần đến Tây Nguyên. Có những lần ở hàng tháng trời, say mê, dẫn dụ. Có lần lang thang khắp các vùng đất, đi dọc các dòng sông, con suối, ngọn núi, cày xới các con đường biên giới đang được những chiếc máy ủi san lấp khi tươi màu đất bazan đỏ khé khi xám ngoét đá dăm cằn cỗi, hoang liêu để làm những công trình thủy điện, đường tuần tra biên giới, cầu cống, đường giao thông. Tây Nguyên đang chuyển mình. Tây Nguyên đang là một công trường lớn.

Ở Tây Nguyên mùa khô, mùa mưa hay mùa xuân đều ẩn chứa nhiều bất ngờ, thú vị. Một Tây Nguyên tiềm tàng khả năng thuỷ điện của dòng Sê San chạy trên lãnh thổ Việt Nam dài 237 ki lô mét với lưu vực trên 11.000 ki lô mét vuông là một nhánh lớn đổ vào dòng Mê Kông được hợp thành bởi hai dòng Đakbla và Prông Pôcô thuộc sườn Tây Trường Sơn hùng vĩ. Một Tây Nguyên xanh từ đôi bàn tay người lao động. Phải, chính người lao động trong đó có người lính ở Tây Nguyên đã vượt lên tất cả để làm xanh mảnh đất này. 

Ở Tây Nguyên, có lẽ con người đa sắc tộc đa vùng miền về đây làm ăn sinh sống và làm giàu cho mảnh đất Tây Nguyên đối với tôi là vấn đề hấp dẫn nhất. Từ những vị tướng anh hùng lao động, những kỹ sư, bác sĩ và thật nhiều người lao động bình thường đã góp phần làm nên Tây Nguyên vạm vỡ. Ở đây có không ít người lứa chúng tôi cùng học hành, cùng rèn luyện dưới mái trường quân đội để rồi các anh các chị như những ngọn gió đi ở dưới trời tìm và đến với Tây Nguyên.

Tôi có những người bạn như thế ở Tây Nguyên.
*
*    *
Đó là Thượng úy Nguyễn Hữu Ngọc, hiện là Trưởng phòng Quản lý Thi công - Công ty Xây dựng 470 - Binh đoàn 12.

Sinh đúng vào năm giải phóng miền Nam 1975, người con của vùng đất Cự Nẫm, Bố Trạch, Quảng Bình có một tuổi thơ lam lũ và khó khăn trong bối cảnh khó khăn chung của đất nước những năm đầu mới giải phóng. Nhà có năm anh em trai, Nguyễn Hữu Ngọc thuở nhỏ là cậu học trò rất ham học và thương bố mẹ, nhất là các em nhỏ của mình. Người cha Nguyễn Hữu Phi và mẹ Phạm Thị Thoán cả một đời gắn bó với nghề dạy học luôn suy nghĩ giấy rách phải giữ lấy lề, dù khó khăn đến mấy cũng phải cho các con ăn học đến nơi đến chốn.

Đầu những năm tám mươi, khi cậu bé Ngọc bước chân tới trường cũng là lúc cả nước đói. Nghề giáo viên lúc ấy lương tính bằng mấy cân gạo, sắn, bột mì, có lúc phải san sẻ hàng xóm láng giềng từng bắp ngô, đọt sắn trong cuộc mưu sinh. Thương bố mẹ, năm anh em chỉ biết học thật giỏi, thật ngoan để bố mẹ vừa lòng. Năm anh em, ai cũng khéo tay, chăm làm, hiếu thuận, sớm biết nhường nhịn từng bát cơm, tấm áo.

Anh em Ngọc được bố mẹ giáo dưỡng để hiểu biết sâu sắc về chính quê hương mình, quê hương Quảng Bình với những dòng sông Gianh, sông Ròn, sông Nhật Lệ, sông Lý Hòa, sông Rinh bắt nguồn từ dãy Trường Sơn luôn âm thầm dâng đắp phù sa nuôi nấng đất mẹ nghèo trước khi tung mình ra biển. Quê hương của các danh thần võ tướng Nguyễn Hữu Cảnh, Trương Sán, Dương Văn An, Hoàng Kế Viêm và đặc biệt là đại tướng Võ Nguyên Giáp văn võ song toàn. Dải đất hẹp nhất của đất nước Việt Nam phía Bắc có dãy Hoành Sơn hùng vĩ, lưng tựa vào dãy Trường Sơn mặt hướng ra biển Đông đã nuôi dưỡng ý chí của lớp lớp người con Quảng Bình trưởng thành trong triền miên chiến tranh giặc giã.

Chính tuổi thơ cơ cực đã sớm cho Ngọc một ý chí khác thường. Phải làm sao để chính mình và phải góp bằng được sức mình với mẹ cha, làng xóm có đời sống đủ ăn, đủ mặc. Phải làm sao, con cái mình sau này được ăn no, mặc ấm đã là những trăn trở, day dứt của Ngọc từ tấm bé. Thương các con, hiểu được ý chí của từng đứa, cha mẹ Ngọc luôn động viên năm anh em phải học giỏi và phải thi đỗ bằng được các trường Đại học. Chỉ có kiến thức và tri thức mới giúp thay đổi cuộc sống không riêng cho bản thân mình.

Những tháng ngày học ở trường Tiểu học Cự Nẫm, trường Trung học Bố Trạch và sau này học Đại học ngành Cầu đường và Quản trị Kinh doanh, Ngọc luôn đặt ra cho mình phải phấn đấu học thật giỏi, tìm đến với mọi tri thức có thể. Chính từ sự say mê học tập mà sau này, khi làm việc ở các công trường, Ngọc đã có vốn kiến thức phong phú, đa dạng, áp dụng có hiệu quả vào các công trình thi công.

Nguyễn Hữu Ngọc đến với Công ty 470, công ty chủ lực của Binh đoàn 12 từ năm 1996 và ở các công trường trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên từ ngày ấy. Như có một cơ duyên sâu xa nào khiến chàng kĩ sư trẻ trở thành người chiến sĩ. Nhắc đến chuyện ấy, Nguyễn Hữu Ngọc chỉ tủm tỉm cười. Mấy ai tính toán lựa chọn được trước tương lai của mình. Tốt nghiệp ra trường, nhà nghèo, xin việc khó, khi ấy chỉ nghĩ có công ăn việc làm giúp đỡ bố mẹ là tốt lắm còn khổ cực đến mấy, heo hút núi sâu đèo cao nào có sá gì.

Nhưng môi trường những người lính Binh đoàn 12 đã mau chóng hấp dẫn chàng kĩ sư trẻ tuổi. Bên đồng đội, trên công trường heo hút các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên, kĩ sư trẻ Nguyễn Hữu Ngọc đã gần như ngay lập tức xác định đây chính là môi trường thích hợp với ý chí và sở trường của mình. Cái nết chịu thương chịu khó từ tấm bé cộng với sự thông minh nhạy cảm và đặc biệt là tính hòa đồng, trẻ trung, người con Cự Nẫm đã dần dà trở nên không thể thiếu với các đồng đội.

Ở đâu khó khăn gian khổ, Nguyễn Hữu Ngọc xung phong đến. Công trình đầu tiên Ngọc tham dự là xây dựng Thủy điện sông Hinh. Ngọc trưởng thành nhanh trên công trường. Những đêm ngày lăn lộn với các đội thi công đã cho Ngọc áp dụng kiến thức, tiếp thu kinh nghiệm của các bậc đàn anh, cọ sát với thực tế để từ đó cùng đơn vị xây dựng các phương án thi công hiệu quả nhất. 

Thấm thoắt, Nguyễn Hữu Ngọc đã có 15 năm là người chiến sĩ trực tiếp trên công trường. Anh được cán bộ chiến sĩ đơn vị, tập thể cấp ủy và cấp trên tín nhiệm giao các cương vị Phó trưởng phòng rồi Trưởng phòng Quản lý Thi công của Công ty Xây dựng 470, một phòng quan trọng bậc nhất và cũng nhiều khối lượng công việc nhất. 

Tôi lặng lẽ ngắm chàng kĩ sư trẻ tuổi mới ngày nào lẫm chẫm trên triền sông Son của vùng đất Cự Nẫm hai lần anh hùng với mơ ước học giỏi để sau này có việc làm, có thu nhập chứ chắc gì ngày ấy, Nguyễn Hữu Ngọc nghĩ rằng, sẽ trở thành sĩ quan, quản lí vài chục cán bộ, kỹ sư tài năng đang quản lí thi công 24 công trình cầu đường các loại, thi công những tuyến đường tuần tra biên giới các tỉnh miền Trung, các dự án đường Đông Trường Sơn và đặc biệt là 4 dự án thủy điện trọng điểm tầm cỡ quốc gia ở Tây Nguyên.

Người con Cự Nẫm đã bước vững chắc bằng chính đôi chân và năng lực tư duy của mình. Mơ ước ngày nào như vẫn còn xôn xao, cựa quậy trong tâm trí người kĩ sư trẻ tuổi nhưng hẳn bây giờ đã là khác lắm, đã vươn tới một tầm cao và xa, vì cộng đồng, vì lợi ích lớn hơn mà những người lính trên mặt trận kinh tế đang chung vai gánh vác.

Thật tình cờ, tôi có bốn tháng học cùng khóa Bồi dưỡng kiến thức Quân sự Quốc phòng với Nguyễn Hữu Ngọc năm 2006. Gần nhau mới thấy thêm nết ăn nết ở của người con Cự Nẫm. Khiêm tốn, giản dị, cầu tiến bộ và rất hòa đồng. Những người con trăm miền dưới mái trường Quân sự trong một lớp học ngắn với bao nhiêu tâm tư, ước vọng, cả những chia sẻ riêng chung càng thấm thía đời người lính thật cũng lắm điều kì diệu. Khi ấy, cậu con trai đầu lòng của Ngọc đang chuẩn bị bước vào lớp một và người vợ đang chuẩn bị có đứa thứ hai. Vợ chồng người lính lấy nhau là xa xôi, là khó khăn gian khổ. Ai dám trách gì người chiến sĩ với công việc của mình.

Vợ Ngọc, cô giáo dạy văn Nguyễn Thị Bích Thúy công tác tại Khoa Sư phạm trường Đại học Tây Nguyên thành phố Ban Mê Thuột luôn là chỗ dựa tinh thần, những sẻ chia tấm cám với người chồng quanh năm suốt tháng biền biệt khắp các vùng đất Tây Nguyên. Thúy cũng là người Cự Nẫm. Biết nhau và yêu nhau khi đôi bạn trẻ đang học những năm cuối phổ thông trung học. Rồi họ hẹn nhau ở giảng đường đại học. Rồi họ hẹn nhau ở Tây Nguyên. Dường như chẳng có gì đẹp hơn những mối tình người lính. Yêu nhau bảy năm, những thử thách về thời gian, không gian, cả những sôi động của đời sống bên ngoài nữa đã vun đắp một niềm tin không riêng với Thúy và Ngọc mà cả đồng đội, bạn bè, anh chị em, cha mẹ hai bên cũng tự hào và tuyệt đối tin vào hạnh phúc của một gia đình nhỏ.

Cô giáo dạy văn bây giờ đã là mẹ của hai cậu con trai chưa bao giờ cằn nhằn người chồng luôn lấy công trường làm nơi ở, đất đá bê tông núi rừng làm bạn và rất chiều đồng đội của chồng, những kĩ sư luôn sực mùi dầu mỡ, bùn đất quên xa nhà hàng tháng ào về từ công trường, còn chưa cả kịp chào hỏi đã vừa ăn vừa tranh luận, bàn bạc về đất đá, cao trình, thời tiết, đường sá rồi lại nhanh chóng kéo luôn chồng mình ào xuống công trường. Vợ con người lính hôm nay vẫn thường như thế. 
*
*    *
Giản dị là vậy, nhưng bản thành tích của Nguyễn Hữu Ngọc khiến chúng tôi không khỏi cảm phục. Phải nói rằng Ngọc là người rất có chí, là tự hào của gia đình, đồng đội. Đó cũng dường như là sự tri ân của chàng trai Cự Nẫm với cha mẹ, với quê hương. 

Trong những năm qua, với cương vị là phó phòng rồi trưởng phòng Quản lí Thi công với nhiệm vụ: quản lí khối lượng, chất lượng, tiến độ các công trình trong phạm vi toàn công ty đồng thời là cơ quan tham mưu cho Ban Giám đốc chỉ đạo các đơn vị về điều phối lực lượng, giải pháp thi công để đảm bảo mục tiêu chất lượng, tiến độ công trình và an toàn, hiệu quả sản xuất, Nguyễn Hữu Ngọc cùng tập thể phòng đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Quản lí thi công trong điều kiện đơn vị luôn phải phân tán, hoạt động dàn trải trên địa bàn nhiều tỉnh, thành, cách xa nhau hàng ngàn cây số.

Địa bàn đóng quân chủ yếu ở các tỉnh Tây nguyên, vùng sâu, vùng xa, điều kiện đi lại, nơi ăn ở gặp nhiều khó khăn luôn là thách thức với mỗi cán bộ, chiến sĩ. Với trách nhiệm người lãnh đạo phòng, Nguyễn Hữu Ngọc luôn luôn nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của phòng, tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao một cách xuất sắc, đạt được kết quả tốt nhất trong công tác điều hành thi công, công tác nghiệm thu và thanh toán vốn và các công tác khác.

Những ngày đầu trên cương vị chỉ huy phòng, Công ty đang thi công cùng một lúc 3 công trình thủy điện lớn ở Tây Nguyên tầm cỡ quốc gia: Thủy điện Buôn Kốp, Thủy điện Buôn Tua Srah, Thủy điện SrêPôk3 với khối lượng đào đất đá trên 6 triệu mét khối, thời gian thi công dưới 3 năm. Phòng được Ban giám đốc giao xây dựng biện pháp thi công và tiến độ công trình, tìm ra các giải pháp tối ưu nhất về kĩ thuật và tiến độ.

Với cương vị bí thư chi bộ, Nguyễn Hữu Ngọc đã cùng cấp ủy, chi bộ bàn bạc kĩ lưỡng mọi công việc với sự đoàn kết nhất trí cao. Căn cứ vào khả năng, trình độ chuyên môn từng cán bộ, phân công nhiệm vụ cụ thể một cách hợp lí, phát huy thế mạnh của mỗi cá nhân trong công tác. Chính từ sự đồng lòng, hợp sức của tập thể, phòng đã xây dựng được những biện pháp thi công ưu việt nhất để chỉ đạo các đơn vị thi công đúng tiến độ, tạo nên hiệu quả công trình. Có tháng, tại các công trình, khối lượng đào hố móng gần 200 ngàn m3 đất đá, vừa chỉ đạo thi công, vừa tổ chức làm hồ sơ nghiệm thu, thanh toán vốn, nhiều đêm liền, tập thể phòng Quản lý Thi công thức trắng làm việc, kịp thời có hồ sơ nghiệm thu, chuyển bước thi công, tạo điều kiện cho toàn đơn vị không phải dừng thi công, tránh tình trạng lãng phí.

Với phương châm: mỗi cá nhân trong phòng phải thường xuyên tự học hỏi, tự đổi mới cách nghĩ, cách làm, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, cán bộ, nhân viên trong phòng luôn tự học tập, rèn luyện, nắm vững quy trình nghiệm thu, quy trình thanh toán, tự mình xây dựng được các biện pháp thi công và nắm vững các phần mềm đồ họa không gian ba chiều, tiếp cận và làm chủ các công nghệ mới, áp dụng mang lại hiệu quả cao nhất.

Trong 2 năm 2008 và 2009, các công trình do phòng quản lí và thiết kế bản vẽ thi công đều đạt chất lượng cao, đặc biệt có công trình giảm được mức đầu tư và giảm được chiều dài của tuyến. Trong Dự án đường Trường Sơn Đông, đoạn Giang Mao - Cầu suối Vàng (Gói thầu Đ38), trong những ngày đầu nhận tuyến, khôi phục lại các mốc, các vị trí công trình và chọn hướng tuyến, khi đi thực địa, Nguyễn Hữu Ngọc trăn trở, suy nghĩ, làm sao tuyến đường làm xong phải đẹp và phù hợp với địa hình. Ngọc cùng các đồng chí trong phòng xây dựng phương án, lại đi bộ nhiều ngày trời, xuyên qua các rừng già, có ngày phải nhịn đói để tìm ra các phương án tối ưu nhất, làm cơ sở lập bản vẽ thi công trình Chủ đầu tư phê duyệt. Bản vẽ thi công được phê duyệt và được Ban 46 - Bộ Tổng tham mưu và Bộ Quốc Phòng đánh giá cao tính thực tiễn và sự sáng tạo của nhóm tác giả.

Trong công trình thủy điện Buôn Tua Srah - Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn và Tập đoàn Điện lực Việt Nam giao cho Công ty thi công hạng mục đào hố móng đập chính và đắp đá thân đập, một hạng mục rất quan trọng và không kém phần phức tạp. Công trình được khởi công tháng 12 năm 2004 và phải hoàn thành vào ngày 31 tháng 12 năm 2009. Tiến độ công trình rất gấp rút. Khối lượng đào hố móng hơn 2,5 triệu m3 nhưng yêu cầu phải thi công xong trong năm 2006.

Đó là một thách thức lớn với những người lính Công ty Xây dựng 470.

Nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp bách của công việc, với cương vị trưởng phòng Quản lý Thi công kiêm Trưởng Ban chỉ huy công trường, Nguyễn Hữu Ngọc đã cùng đồng đội khẩn trương xây dựng các biện pháp thi công chi tiết để chỉ đạo đơn vị thi công. Những ngày đầu tháng 6 năm 2005, Công ty bắt đầu đào hố móng đến tầng cát chảy, chiều sâu hố móng tính từ mặt đất tự nhiên xuống cao trình thiết kế là 29m, đào đến đâu là cát chảy và gặp tầng địa chất Zôzen đến đó, toàn bộ các thiết bị thi công phải dừng lại vì địa chất quá phức tạp, không đúng với hồ sơ thiết kế ban đầu.

Chủ đầu tư đã mời thiết kế và các chuyên gia giỏi đến hội thảo để tìm ra biện pháp xử lí cát chảy hố móng. Nhiều biện pháp như đóng cọc cừ, dùng xà lan hút cát, đóng bao vây bằng cọc thép được đưa ra. Vấn đề đặt ra bức thiết là các biện pháp trên chi phí giá thành quá cao và khi thi công sẽ không đạt tiến độ. Nguyễn Hữu Ngọc đã trăn trở rất nhiều, làm sao hạng mục đào hố móng đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và tiến độ đã cam kết với chủ đầu tư là bài toán cực khó. Còn cả thương hiệu bộ đội Trường Sơn nữa.

Sau nhiều ngày đêm suy nghĩ, cuối cùng Nguyễn Hữu Ngọc đã tìm ra biện pháp: Dùng tường chắn bằng dung dịch Bentonai khoan xuống tạo thành màng chống thấm ngăn mực nước ngầm vào hố móng. Phương án ngay lập tức được trình bày với Chủ đầu tư và đơn vị thiết kế, đồng thời được Công ty cho phép làm thử tại chỗ. Kết quả, sau khi khoan xong và bơm dung dịch Bentonai xuống, 45 phút sau toàn bộ vách hố móng được tạo thành màng chống thấm, nước không vào được hố móng, toàn bộ cát chảy và tầng địa chất Zôzen được đông cứng lại, rất thuận lợi cho thi công.

Sau khi có kết quả khả quan, được sự chấp thuận của Chủ đầu tư, toàn bộ hố móng đập chính thủy điện Buôn Tua Sarh đã được dùng biện pháp Tường chắn bằng dung dịch Bentonai khoan xuống tạo thành màng chống thấm để thi công đào hố móng đập chính. Nhờ áp dụng biện pháp trên cho công trình đào hố móng đập chính mà Chủ đầu tư đã tiết kiệm gần 34 tỷ đồng và thời gian thi công đã rút ngắn xuống được 5 tháng. 

Biện pháp Tường chắn bằng dung dịch Bentonai khoan xuống tạo thành màng chống thấm này về sau đã được Tập đoàn Điện lực Việt Nam dùng để chỉ đạo cho các nhà thầu và các dự án đang thi công các công trình xử lý nền đất yếu và lựa chọn các phương án thi công các công trình đào hố móng ngập trong nước và địa chất phức tạp. Chính việc phát hiện ra biện pháp trên mà Nguyễn Hữu Ngọc đã vinh dự được Bộ Công nghiệp và Tập đoàn Điện lực Việt Nam tặng Bằng khen. Biện pháp trên còn được phổ biến rộng rãi trong các dự án mà Tập đoàn Điện lực làm Chủ đầu tư sau này.

Đó là những kỷ niệm chẳng thể nào quên cũng là những bước trưởng thành từ thực tiễn của Thượng úy Nguyễn Hữu Ngọc. 
*
*     *
Tôi đã có nhiều đêm nằm rừng nơi chốt trạm biên giới với các chiến sĩ thi công đường tuần tra biên giới, các đội thi công cầu đường, làm thủy điện ở Tây Nguyên. Đêm khuya. Sương lạnh. Một màu trắng mịt mùng, càng khuya càng thâm thẫm và sũng ướt. Ngoài kia là rừng, là suối, là sông và buôn làng, và con người, và đất đang cựa mình sinh nở. Nằm ở đây, trên những tấm ván gỗ sần sùi, nham nhở, ghép tạm, những kỹ sư, cán bộ, chiến sĩ, các lao động người Thượng, người Ba Na, Gia Rai, Ê Đê im lặng bên ngọn lửa tàn.

Từ tối, chúng tôi đã trò chuyện và uống rượu. Ngày mai ngày kia, tôi sẽ về thành phố, ra Hà Nội với công việc của mình. Những người lính, trong đó có rất nhiều người lính Binh đoàn 12 như Nguyễn Hữu Ngọc đang ở đây, tháng rồi năm, mưa rồi nắng, và giông bão. Từ trong lòng đất đỏ, những nhịp dội của đất ngấm từ đâu xuyên thấm vào tôi.

Tây Nguyên có khi là thế. Giản dị, khiêm nhường, hy sinh đến khuất lấp, đến lẫn vào đất đai, cây cỏ. Bao nhiêu người lính là bấy nhiêu sợi tâm hồn ngân rung trên đất Tây Nguyên. Trong im lặng, dường như chúng tôi trò chuyện được nhiều với nhau hơn. Đó cũng là những điều không phải lúc nào cũng có trong bản báo cáo thành tích của bất kỳ tập thể, cá nhân nào nhưng nó không hề vô danh và vô nghĩa.

Nguyễn Hữu Ngọc gắn bó với Tây Nguyên đã 14 năm, một người con thân thuộc của Tây Nguyên. Ngọc cũng rất tự hào về nơi đã sinh ra mình, một vùng quê nghèo nhưng thảo thơm, ấm áp. Bố mẹ Ngọc rất tự hào khi con cái trưởng thành. Năm anh em Ngọc đều tốt nghiệp Đại học và đều là đảng viên. Gia đình với bảy đảng viên kể cũng là hiếm có. Tôi luôn nghĩ rằng Ngọc yêu đất, yêu rừng và yêu người Tây Nguyên không kém gì nơi đã sinh ra mình.

Và dù không hỏi, tôi cũng biết được rằng tâm sức mà người con Cự Nẫm, Bố Trạch, Quảng Bình này dồn cho Tây Nguyên không chỉ phải để có được những tấm bằng khen giấy khen mà là những gì sâu sắc, tiềm tàng, thiết thân, mê đắm không phải lúc nào, ở đâu cũng có thể trình bày được. Con người ta có khi trình bày tư tưởng, niềm tin và hiệu quả công việc của mình bằng toàn bộ cuộc đời mình. 

N.Q


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu thuyết của Gabriel García Márquez

Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu...

Cuộc đời của Escobar là khối mâu thuẫn lớn, bởi sự đối lập giữa thiện - ác, thiên thần - ác quỷ, nhân từ - máu lạnh, do đó, hắn có sự hấp dẫn lớn đối với quần chúng hơn bất kì tên trùm tội phạm nào. (PHAN TUẤN ANH)

 
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ - nguyên mẫu và nỗi oan của một con người

Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ -...

Trong các tiểu thuyết của tôi, nhân vật chính hay phụ đều được xây dựng từ những chi tiết rất thực mà tôi tích lũy được. Thường thì, chỉ từ một chi tiết rất nhỏ, bất chợt gặp trong đời sống mà tôi hình dung ra tính cách của một con người. (XUÂN ĐỨC)

 
Lần đầu tiên một nhân vật tiểu thuyết có chức danh này

Lần đầu tiên một nhân vật tiểu...

Ai đọc cũng nhận ra tâm thế người viết là người trong cuộc, là xây dựng chứ đâu phải là người đứng ngoài chửi đổng cho sướng miệng. (Bài viết của NGUYỄN BẮC SƠN).

 
"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh ghép kí ức

"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh...

Là truyện ngắn viết bằng nỗi nhớ và kí ức nên hầu hết các nhân vật trong truyện đều được tôi nhào nặn từ các nguyên mẫu. Nhưng để có được một nhân vật hoàn chỉnh tôi đã “thuổng” của đồng đội mỗi người một vài nét ngoại hình, tính cách

 
Thực tế đời sống và nhân vật trong "Dòng sông phẳng lặng"

Thực tế đời sống và nhân vật trong...

Trong cuộc đời viết văn của mình, rất hiếm trường hợp tôi lấy nguyên mẫu ngoài đời để tạc nên nhân vật trong tác phẩm. Nhưng không có thực tế đời sống thì không thể làm nên các nhân vật đó. (Tô Nhuận VĨ)

Quảng cáo