Nguyễn Trọng Hoàn và Năng lượng của sự có mặt

Thứ hai - 26/09/2016 18:22
 . NGUYỄN THANH TÂM

Khởi đầu với tập thơ Sắc cỏ tình yêu năm 1990, sau đó lần lượt là Và em khi ấy (1994), Thả diều (1997), Huyền cầm (1997), Gió và nhớ (1999), Ngẫu cảm (2002), Cánh diều khao khát (2012), Bến quê (2012)…, và mới đây nhất là Năng lượng của sự có mặt (2016), Nguyễn Trọng Hoàn đã cho thấy một hành trình thơ đầy đam mê, đầy xúc cảm và khá bền bỉ. Không phải ngẫu nhiên mà anh chọn cho tập thơ mới nhất của mình cái tên Năng lượng của sự có mặt. Đó là sự hiện hình ở trạng thái cô đọng, tập trung, rõ nét nhất năng lượng, phẩm tính thi ca đã miệt mài chảy trong sự sống của thi sĩ.

Năng lượng của sự có mặt diễn giải dưới hình thức thơ ca những ưu tư, xúc cảm về hiện hữu. Có lẽ, Nguyễn Trọng Hoàn chẳng để tâm nhiều lắm đến các khái niệm, các phạm trù của triết học hiện sinh, về cái gọi là hiện sinh, hiện hữu, tính chủ thể hay bản chất của tồn tại… Tuy nhiên, thi sĩ, với phẩm tính thơ ngây hàm chứa tiên tri, đã cất lên những lời rao gửi của thánh thần về bản chất của tồn tại, về mô hình có tính tiên nghiệm trong tinh thần của đấng sáng tạo. J.Satre đã mất nhiều tâm sức để khẳng định hiện sinh là một thuyết nhân bản. Học thuyết đó nói rằng, dù thượng đế có thật hay không cũng chẳng ảnh hưởng hay thay đổi được gì tồn tại, hiện hữu của con người. Con người phải tự chịu trách nhiệm về mình, về những dự phóng, dấn thân của họ. Bởi vậy, Năng lượng của sự có mặt đã mặc nhiên hình thành một trường liên tưởng, nối kết trở lại những ý niệm về việc con người thực hiện phác đồ người - thực tại người như là một bản chất có trước hiện hữu. Ở đây, những tác phẩm của Nguyễn Trọng Hoàn (dù chưa hẳn đã đạt đến sự cô đọng, hàm súc, tinh diệu của ý tưởng, của nhịp điệu và nhạc tính, tư tưởng…) đã tham vọng bày tỏ những ưu tư về “thực tại người” (M.Heidegger), mà trước hết là của chính tác giả của chúng. Con người hiện hữu bằng dự phóng, nghĩa là, con người như là cách mà họ sống, họ dự định về cuộc đời, về hành trình làm người của họ. Năng lượng của sự có mặt nói lên năng lượng của dự phóng, những điều kiện thực tại của chủ thể trong việc hiện thực hoá “hiện hữu người”. Như thế, quá trình là yếu tố mang tính cơ chế, nguyên lí của “sự có mặt”. Sự có mặt không phải là “đùng một cái”, mà đó là hành trình thực hiện dự phóng, là dấn thân (J.Satre), là “trên đường” (M.Heidegger).

 
Bìa sách Nguyễn Trọng Hoàn

Nhưng dẫu sao ta vẫn ở
                           trên đường
Những tha thiết mời gọi ta
                          phía trước

                        (Có phải thế không)

Ném mình vào tương lai, đi theo những tha thiết ở phía trước từng bước làm hiện lên tròn đầy cái tôi - chủ thể. Cái tôi vốn không có sẵn, cũng như chủ thể tính là một hiện hữu mà con người phải đi tìm, phải xác lập. Chính trong quá trình xác lập này mà con người hiện hữu. Trong sáng tạo, trong tìm kiếm những thi ảnh, cảm xúc, suy tư, dấn thân trong đời sống, trong tưởng tượng…, phẩm chất thi sĩ được phát lộ.

Trong một cuốn sách có tính chất nhập môn về triết học (Hành trình vào triết học), Trần Văn Toàn gọi bản chất của hiện sinh là sự sống đời - một cách nói của dân gian. Sống đời với thi sĩ chính là hành trình sáng tạo thơ ca. Thơ ca là phương diện hình thức, làm hiện hữu một cách tròn đầy ý niệm sống của thi sĩ. Tôi rất hứng thú với tên tập thơ Năng lượng của sự có mặt, bởi lẽ, tác giả dường như đã thấu hiểu bản chất của sáng tạo thi ca liên quan đến vận mệnh, sự sống của thi sĩ. Thi sĩ, như hình dung của M.Heidegger, là những kẻ canh gác ngàn đời ngôi nhà của hữu thể. Do đó, trong “định mệnh thi sĩ” của mình, các thi sĩ đã nỗ lực làm hiện diện thể tính của hiện hữu bằng ngôn ngữ, hình tượng, bằng chất thơ. Ở đây, những phân tầng về hiện hữu hay cấp độ của dự phóng có thể nhìn ra. Thi sĩ hiện hữu bằng chính chất thơ, bằng thứ ngôn ngữ bay lên từ ngôn ngữ đời thường (Lévy Strauss). Hàn Mặc Tử đã từng loan báo, thi sĩ là loài thứ ba, sinh ra để kết nối thượng đế với con người. Và như thế, những quan niệm cho rằng thi sĩ là kẻ “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” có lẽ có căn nguyên từ một “phác đồ” của thánh thần. Thi sĩ, có cảm tưởng như họ ở đâu đó bên ngoài, xa lạ với cuộc đời. Kì thực, họ vẫn ở giữa cuộc đời, nhưng là một hiện hữu trong ưu tư sâu thẳm, trong mơ hồ, trong những hình thái của tưởng tượng, của tinh thần. Không phải là những sự vật hữu hình để có thể định lượng, thi tính - chất thơ là vầng sáng toả lên từ đoá hoa trên đồng, là những dư âm vang vọng sau lời, là những rung động sâu xa từ sự tiếp cận toàn bộ với không gian văn bản, không gian thơ. Đọc Nguyễn Trọng Hoàn, cái người đọc nhận ra rõ rệt nhất là một tinh thần lãng mạn và bay bổng. Phải nói ngay rằng, thơ Nguyễn Trọng Hoàn trội hơn ở cảm xúc, ở những rung động nhẹ nhàng, đôi khi mơ hồ. Cái níu giữ người đọc không phải là những suy tư trĩu nặng ngôn từ, là hệ quả của một sự lạm phát trí não, mà là những ngân vang của ý tứ, những xôn xao của tâm tình, những liên tưởng xa xôi bay lên từ chính trải nghiệm của bản thân thi sĩ.

Thương những con đường nắng
                       trận mưa cơn
Ban mai buốt họa mi ngân
                                   lảnh lót
Gió sóng sánh phù sa dâng
                                   từng giọt
Sông không nhớ lối về hoài niệm
                                 chảy trong mơ

                        (Rượu quê)

Trực cảm không mù loà. Như Nietzsche đã nói trên hành trình theo bước chân hoan lạc của thần Dionysos, chỉ có luận lí mới cho mình cái quyền xuyên tạc trực cảm. Thơ Nguyễn Trọng Hoàn, ở đây, không phải là sản phẩm của một bội dư luận lí, mà đó là một rung động, một ngân vọng ngay từ ban đầu khi tiếp xúc văn bản, chưa cần lí giải. Dĩ nhiên, khi đã lắng vào suy tư, ta lại tìm thấy những điều lí thú khác, nhưng, từ trải nghiệm đọc của mình, tôi nhận ra, những câu thơ khiến ta rung động ngay lần đọc đầu tiên cũng chính là những câu thơ sẽ còn ở lại cả khi lí trí đã vào soi xét chi li. Đọc thơ Nguyễn Trọng Hoàn, có lẽ, cái được nhất là người đọc tìm thấy những xao động, mộng mơ của thi sĩ. Điều đó làm vợi đi bao nhọc mệt, gợi dậy những đam mê, những phút bồng bênh của tâm hồn yêu sống và nhạy cảm với sự sống.

Bất ngờ trở gió heo may
Bàn tay ngóng phía bàn tay
                                tần ngần

        (Bất ngờ trở gió heo may)

Một trong những đòi hỏi thuộc về kĩ năng của chủ thể sáng tạo là khách thể hoá được đối tượng sau khi đã thâm nhập, đã sống trải cùng đối tượng, cảm xúc, suy tư. Tứ thơ bàn tay ngóng phía bàn tay tần ngần thể hiện khá rõ đặc trưng mĩ cảm của Nguyễn Trọng Hoàn với khả năng khách thể hoá ấy. Tần ngần ẩn chứa niềm hi vọng mong manh, phía rộng mở chờ trông, cả phía ngập ngừng tuyệt vọng. Tần ngần, bởi thế mà cứ mãi chơi vơi, vương vào cái kiếp của sợi tơ ngân giữa chừng. Giữa chừng của nhớ và quên, còn và mất, được và thua, đi và ở, gần và xa, trôi qua và đọng lại, rõ rệt và mơ hồ.

Đã nghe thì thầm ngày qua
gió thổi. Mùa hoa cải mơ hồ
                        dào dạt bên sông
Đã nghe mây líu ríu phiêu bồng,
phía bờ bến đường chân trời
                                           thăm thẳm
Đã nghe sóng dìu nhau say đắm…
Hương ngát đằm từ những đóa
                                      môi hôn…

                        (Thư gửi mùa xuân)

Có vài dấu ấn quen thuộc ta đã bắt gặp đâu đó dọc đường văn chương, nhưng không quá quan trọng, trọng tâm của ý thơ là sự ngưng kết ở lưng chừng của những líu ríu phiêu bồng, những thì thầm dào dạt, những say đắm ngát hương bên một bình minh bồi hồi. Đó là chất thơ riêng của Nguyễn Trọng Hoàn và cũng là hình thái của tinh thần, tư tưởng nhà thơ.

Năng lượng của sự có mặt tập hợp khá nhiều bài thơ viết về các địa danh, gắn với những chuyến đi. Điều này dễ dẫn người đọc diễn giải theo hướng đây là một seri kí ức và “năng lượng của sự có mặt” hàm ý những suy cảm về các địa danh được nhắc đến. Điều đó không phải không có cơ sở. Tuy vậy, ở một hướng diễn giải khác, như đã nói ở đầu, địa danh, kí ức, những phiêu bồng trong không thời gian của thi sĩ chỉ là cái hiện ra bên ngoài của một năng lượng dự phóng bên trong thuộc về ý thức sống đời. Những nơi đã đến, đã từng qua, tất thảy đều in dấu của một khát vọng sống, khát vọng tạc mình vào kí ức thời gian. Với thi sĩ, sống đời, như kiếp con tằm, chẳng thể khác, luôn tìm trong thế giới kinh nghiệm sâu xa, bí ẩn những chân trời của tưởng tượng, đánh thức ngôn ngữ thi ca cất cánh bay lên từ cuộc sống. Thơ chính là tơ lòng của thi sĩ, là bằng chứng của hiện hữu, dẫu hiện hữu đó luôn chẳng tròn đầy, luôn vời vợi hao khuyết, luôn tần ngần lơ lửng, luôn dại dột ngác ngơ.

Mải miết đường dài vời vợi
                               lòng tay…
Nỗi nhớ cỏn con chẳng trọn vẹn
                                bao giờ…
Vương một nét cười vệt nắng buốt
                                trong nhau…

        (Nghìn năm vệt nắng)

Nguyễn Trọng Hoàn có những câu thơ xinh xắn, đáng yêu, đáng đọc như thế. Với thi sĩ, không gì quan trọng hơn điều đó. Những câu thơ được đọc, lưu lại được trong trí nhớ, trong thị hiếu ngày càng “đỏng đảnh” của công chúng quả đã là điều đáng để hân hoan.

Cách tân về mặt hình thức hay nội dung, thực ra chỉ là cách diễn đạt rạch ròi hơn trong tư duy phân tích của người làm nghiên cứu. Với nghệ thuật, hình thức chính là nội dung, không thể tách rời hay biện biệt. Vì thế, đọc các bài thơ của Nguyễn Trọng Hoàn, cũng khó mà nói rằng anh đang ấp ủ những suy tư cách tân về nội dung hay hình thức. Suy cho cùng, cái mà Nguyễn Trọng Hoàn để tâm là làm sao triển đạt tận cùng những suy cảm của mình bằng ngôn ngữ. Năng lượng của thơ sinh ra từ sự nuôi dưỡng ý tứ, cảm xúc, tôi luyện ngôn từ, chắt lọc và vun đắp, bồi tụ hình tượng… Sự trình hiện cuối cùng của văn bản thơ là kết quả của quá trình “lựa chọn” và “kết hợp” (R.Jakobson) ngôn ngữ một cách công phu, kĩ lưỡng, thận trọng. Điều đó, đối với thi sĩ, có thể gọi là luân lí - đạo đức nghề nghiệp. Thơ hay, có năng lượng, có giá trị, biểu đạt đạo đức - luân lí của nhà thơ trên bình diện mĩ học. Nghĩa là, với người nghệ sĩ, việc tìm kiếm và mang đến cái đẹp phải được xem là một hành vi thuộc về luân lí, đạo đức. Điều này, tự nó thiết lập thái độ phản ứng lại những thực hành sáng tạo trá ngụy, vô lối hoặc những trình hiện đôi khi nhợt nhạt, thiếu sức sống, thiếu cẩn trọng, chưa đi tới tận cùng hành trình tìm kiếm và khám phá cái đẹp. Trong tương quan như thế, việc sáng tạo nghệ thuật đồng thời thể hiện trách nhiệm xã hội và tư cách chủ thể của nhà thơ. Thơ Nguyễn Trọng Hoàn, ở tập này, với những câu thơ, bài thơ đã dẫn, nói lên ý thức thi sĩ, trí thức, công dân của tác giả trong hành trình sống và viết của mình: Trổ hoa trái mùa chắc gì cây vô lí/…/ Vội lướt qua nhau nợ một bàn tay vẫy (Và biểu cảm phút rành rang sống chậm); Bàn tay gọi bàn tay cái còn tìm cái mất/ Khoảng trống nào còn nhờ cậy cơn mơ (Khoảng trống)…

In tác phẩm đầu tay từ năm 1990, đến nay, Nguyễn Trọng Hoàn đã công bố 11 tập thơ, trong đó có những bài được phổ nhạc, được chọn đưa vào sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3, lớp 4… Đó là một hành trình với những nỗ lực không ngừng của một người thơ giàu cảm xúc, lãng mạn, say mê và mơ mộng. Đến tập Năng lượng của sự có mặt, thơ Nguyễn Trọng Hoàn đằm thắm hơn trong mạch cảm xúc mộng mơ, phiêu bồng, nhất là trạng thái “tần ngần” vốn đã trở thành tạng, thành nét riêng. Và điều đó, cứ tự nhiên hiển hiện, chính là năng lượng của sự sống mà Nguyễn Trọng Hoàn đã và đang kiếm tìm, xác lập. Giữa cuộc đời vội vã, như một bài thơ anh viết - Vội lướt qua nhau nợ một bàn tay vẫy, tôi tin rằng, Nguyễn Trọng Hoàn vẫn không thôi đưa tay vẫy gọi bằng những đam mê, tha thiết của mình 

 
N.T.T 
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

 
Nhân vật Anna Karenina và sự soi chiếu từ nguyên mẫu đời thực

Nhân vật Anna Karenina và sự soi...

Lev Tolstoy - “con sư tử” của văn học Nga thế kỉ XIX - đã tạo ra những tác phẩm vĩ đại từ chất liệu tươi ròng của đời sống. Mỗi nhân vật được ông khắc họa luôn trở thành những điển hình nghệ thuật bất diệt, có tác động sâu đậm đến mọi tầng lớp xã hội. (NGUYỄN THỊ HỒNG​ HOA)

 
Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu thuyết của Gabriel García Márquez

Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu...

Cuộc đời của Escobar là khối mâu thuẫn lớn, bởi sự đối lập giữa thiện - ác, thiên thần - ác quỷ, nhân từ - máu lạnh, do đó, hắn có sự hấp dẫn lớn đối với quần chúng hơn bất kì tên trùm tội phạm nào. (PHAN TUẤN ANH)

 
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ - nguyên mẫu và nỗi oan của một con người

Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ -...

Trong các tiểu thuyết của tôi, nhân vật chính hay phụ đều được xây dựng từ những chi tiết rất thực mà tôi tích lũy được. Thường thì, chỉ từ một chi tiết rất nhỏ, bất chợt gặp trong đời sống mà tôi hình dung ra tính cách của một con người. (XUÂN ĐỨC)

Quảng cáo