Phải hiểu để mà yêu và phải yêu để mà hiểu

Thứ hai - 29/06/2015 18:10
Trực quán số này: Hoàng Đăng Khoa
Khách văn           : Nguyễn Mạnh Tiến
20141202170617 nguyen manh tien 2 Nguyễn Mạnh Tiến
Sinh năm 1983
 Quê Núi Đọ - Đông Sơn - Thanh Hóa
Hiện làm việc tại Viện Văn học
 


- Chào nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Tiến. Chúc mừng sự trình hiện một cách ấn tượng cuốn sách Những đỉnh núi du ca – một lối tìm về cá tính H’mông (Nxb Thế giới, 2014) của anh. Công trình này là một nỗ lực dân tộc học mà phần trọng tâm trước tiên đặt vào kho tàng văn chương dân gian tộc người. Động cơ nào khiến anh dấn thân chiếm lĩnh những đỉnh núi du ca H’mông, chứ không phải là một không gian tộc người khác?

+ Hoạt động ở miền núi phía Bắc, trong cái nhìn của tôi, về cơ bản có bốn tộc người đặc biệt quan trọng bởi sự đông đúc dân số, gây ảnh hưởng chính trị và văn hóa, đồng thời, thường xuyên xuất hiện ở những mấu chốt của lịch sử Việt Nam là Mường, Thái, Tày và H’mông. Về Mường và Thái (đen) đã có những thành tựu nghiên cứu lớn cho phép ta có cơ sở đáng tin cậy để hiểu biết. Phần còn lại, Thái (trắng), Tày và H’mông, thật đáng tiếc, thành tựu dân tộc học (mà ở Việt Nam chủ yếu là làm dân tộc chí) thì còn để lại nhiều khoảng trống. Thân này ví xẻ làm ba! Nên, tôi bé mọn phận, đành chọn một trong ba cái tam giác để lại đầy trọng yếu ấy: H’mông. Sự ám ảnh của những bài ca dân gian H’mông, những vần thơ tuyệt vời của một tộc người đặc biệt khó hiểu đã quyết định đẩy mọi tâm trí và thể xác tôi vào H’mông.

Và thêm nữa, là H’mông chứ không phải bất cứ tộc người nào khác bởi vì chúng tôi đều là những thân phận lang thang và phiêu bạt... Nên, mượn lối nói như Dournes, phải hiểu để mà yêu và phải yêu để mà hiểu, vì thế, tôi đến với H’mông thật tự nhiên. Bởi, tôi tìm thấy phần tồn tại của tôi trong tộc người này. Được làm một việc gì đó mà mình yêu thích, được trở thành chính mình trong công việc ấy, thì mọi nỗ lực sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn thật nhiều. Lựa chọn H’mông, vì thế, vừa là sự “tính toán” trong việc nắm bắt một mắt xích lớn và quan trọng của bức khảm tộc người miền núi Bắc Việt Nam, nhưng hơn thế, còn là sự lựa chọn của nội tâm, khi nội tâm ấy luôn bị thu hút mạnh mẽ nhất bởi H’mông.

- Xuất phát điểm quan sát từ H’mông, như thế, anh đã buộc phải khai triển cái nhìn của mình trên một nền tảng rộng lớn hơn chính H’mông, đó là không gian miền núi phía Bắc, nơi H’mông thuộc về. Vậy, con đường ngắn nhất mà anh đã xác lập được, để nhờ đó, chỉ vài năm, sản phẩm nghiên cứu này đã được công bố, là gì?

+ Hiểu biết về tộc người thiểu số của tôi, trước nhất đến từ sách vở. Nhưng ở Việt Nam, lĩnh vực này có quá ít sách vở thực sự có giá trị, điều ấy còn chưa nói, vẫn còn nhiều khoảng trống trong nỗ lực hiểu biết về các vấn đề thiểu số ở Việt Nam. Vì thế, để bù đắp các khoảng trống, tôi đành tự thân nỗ lực lên đường, lang thang góp nhặt các tri thức tộc người từ trên thực địa. Thực địa và sống trải với tộc người được quan niệm như một nguyên tắc sống còn cho hoạt động khoa học của cá nhân tôi.

Và nữa, hoạt động thực địa lại dạy bảo tôi thêm rằng, sẽ có nhiều điều là “hư cấu” giữa tồn tại tộc người và miêu tả dân tộc chí dễ dãi cộng thêm với nghiên cứu phòng giấy hay kĩ thuật “chế tạo” xào xáo của sách vở in ấn theo con đường đề tài đặt hàng, “đánh quả”. Tất cả thách thức những hiểu biết thực sự, nhất là những ý đồ “nghĩ lớn” tham vọng xử lí tri thức mang tính tổng thể khớp nối từ nhiều vấn đề. Vì thế, tôi thấy luôn cần thận trọng và phản tỉnh liên tục với các dữ liệu dân tộc chí được sử dụng. Thêm nữa, ở Việt Nam, nếp hằn tư duy đậm đặc tính chất Việt tâm luận, lấy logic Việt xét đoán giá trị trong các miêu tả dân tộc chí lẫn nhận định dân tộc học về các tộc khác Việt dễ đưa lại những ngộ nhận. Tôi cố gắng tỉnh táo để nhận ra đâu là một dữ kiện dân tộc học có giá trị và đâu là một nhận định cần điều chỉnh.

Ngoài ra, kho Đông Dương theo tôi có một giá trị to lớn hơn rất nhiều trong những hiểu biết về quá khứ Việt Nam chứ không đơn giản chỉ là “học thuật thực dân phục vụ mục đích xâm lược”. Các tác giả Đông Dương đã để lại những di sản quý giá nếu như người xử lí kho tư liệu ấy biết cách khai thác hợp lí, vượt qua các hạn chế của “dân tộc học thời kì đầu”.
20141202170617 nhung dinh nui du ca (1)(1)

- Một trong những từ khóa xác lập “căn cước H’mông”, “cá tính H’mông” theo anh là “mộng mơ”. Anh có thể tường giải thêm về câu chuyện đầy tính mời mọc này?

+ Trong nghiên cứu H’mông của mình, tôi cố gắng chứng minh một trong những bản chất quan trọng nhất mang căn cước H’mông, làm thành cá tính tập thể tộc người này đó chính là sự mộng mơ. Điều này là rất quan trọng để hiểu H’mông, điều chỉnh những cái nhìn định kiến,  thiên lệch về H’mông như xem H’mông là những kẻ cứng đầu, dễ nổi nóng đến mức dữ dằn, hay, khác đi, H’mông là những kẻ nghèo khổ, lang thang, ở trong những căn nhà tối tăm, bẩn thỉu nơi núi non...

H’mông thực sự, như những phân tích của tôi cho thấy, bản chất đích thực của họ là sự hiện hữu trong mộng mơ và lãng mạn. Họ dữ dằn, nghèo khổ chỉ vì bị dồn đuổi quá lâu trong lịch sử, một lịch sử lưu vong được dân tộc học miêu tả là “đầy máu và nước mắt”. Nhưng vượt lên trên tất cả, ẩn giấu trong tâm hồn H’mông là sự hài hòa của âm nhạc, thơ ca dân gian và hiện hữu tộc người. Chúng ta sẽ gặp lại những vần thơ tuyệt đẹp của H’mông mà Chế Lan Viên, Doãn Thanh, Savina và vô số người đã hết lời ca tụng. Chúng ta sẽ gặp lại nền văn hóa tộc người mà dân ca, âm nhạc là tất cả những gì tinh túy nhất của di sản văn hóa tộc người. Hiện hữu trong sự mơ mộng còn là hiện hữu của nhiều tộc người còn dính cuống nhau vào tâm thức huyền thoại. Hiện hữu H’mông, cũng như phần lớn các tộc thiểu số là hiện hữu trong mộng mơ, mang tâm thức huyền thoại tham thông vào cái thiêng.

- Nhưng đời sống tâm lí tập thể tộc người H’mông cũng cần đạt đến trạng thái quân bình, phải vậy chăng mà sự mộng mơ nói trên luôn được H’mông đặt bên cạnh sự quyết liệt?

+ Điều này là hoàn toàn chính xác. Để có thể tồn tại, con người cần đạt đến một sự quân bình nhất định trong đời sống tâm lí. Đối phó với cuộc đời khắc nghiệt, H’mông hiện lên có lúc là quyết liệt, dữ dằn nhưng khi đối diện với chính mình, H’mông sống động trong mộng mơ. Hai vế trái chiều nhưng đạt đến hài hòa, như đêm và ngày, sáng và tối, kiến tạo hiện hữu H’mông.

- Dân ca H’mông, có vẻ là điểm tựa đắc dụng nhất giúp anh đi vào thông hiểu tâm hồn H’mông?

+ Nắm bắt đời sống tâm lí H’mông, chắc chắn là chìa khóa quan trọng để mở vào thông hiểu H’mông. Có điều phải nắm bắt như thế nào? Có những học giả quốc tế đã khá thành công khi tiếp cận đời sống tâm lí H’mông bằng các thói quen về sản xuất kinh tế. Tôi, với xuất phát của mình, nghiên cứu ngữ văn học tộc người nhận thấy văn chương dân gian H’mông, mà đỉnh cao là những bài dân ca là một điểm tựa chắc chắn để thông hiểu H’mông. Dân tộc học văn học vì thế, lập tức tập trung mọi sự chú ý vào phân tích dân ca như một sự kiện xã hội tổng thể để tìm kiếm các bản chất H’mông, kiến tạo nên bộ từ khóa cá tính H’mông. Và là dân ca chứ không phải gì khác, bởi sự xác nhận dân ca và âm nhạc H’mông là toàn bộ những gì tiêu biểu, tinh túy nhất cho văn hóa H’mông, là một sự xác nhận liên tục tái lặp, “trùng trùng chứng cứ”, mà mọi ngành khoa học khi quan sát về H’mông đều nhận ra và phát biểu thành văn bản.

- Công trình nghiên cứu của anh là một nỗ lực “tìm về cá tính H’mông”, lẩy ra bộ từ khóa kiến tạo nên “căn cước H’mông”, nhưng ở “Đôi lời thưa” đầu cuốn sách, anh lại viết: “Sự thực thì không thể tồn tại một văn hóa làm thành từ những dị biệt”. Có gì mâu thuẫn, gây khó hiểu ở đây không?

+ Theo tôi mọi thứ không có gì là khó hiểu. Bộ từ khóa xác lập cá tính H’mông không có nghĩa chỉ duy nhất H’mông mới có. Ở Việt Nam, dường như tồn tại khá phổ biến tâm thế ca tụng chủ nghĩa dị biệt (différentialisme), cái “bản sắc” là gì đó được nói tới như sự riêng biệt nhiều lúc cực đoan đến khu biệt. Nhưng sự thực văn hóa là sự chia sẻ, lan tỏa, không thể có văn hóa chỉ toàn những đặc điểm dị biệt, có chăng là đặc điểm văn hóa này nổi trội ở nền văn hóa A, còn ở nền văn hóa B thì lại là thứ yếu. Tuy nhiên, cả hai hay nhiều nền văn hóa đều chia sẻ các đặc tính ấy. H’mông cũng vậy, bộ từ khóa cá tính H’mông là đặc điểm nổi trội trong tâm lí tập thể tộc người, tuy thế, nó cũng có ở những tộc người khác, chỉ có điều không trội nổi lên như H’mông mà thôi. Ví dụ, tự vẫn là một vấn đề có ở mọi tộc người, nhưng, tự vẫn trong xã hội H’mông phổ biến và dễ dàng đến đáng kinh ngạc. Muốn tự vẫn, vì thế là một đặc điểm tâm lí văn hóa mang căn cước khá đặc thù riêng cho H’mông. Trái lại, mộng mơ – một căn cước H’mông mà anh nhắc tới ở trên là quan trọng đặc biệt không kém để thông hiểu H’mông, nhưng nó lại là đặc điểm, căn cước của khá nhiều tộc khác H’mông, như các tộc ở Tây Nguyên đã được Dournes phân tích rất thú vị. Vậy, cá tính H’mông vì thế, vừa có những đặc điểm mà dường như chỉ H’mông mới rõ lên, nhưng đồng thời, có những đặc điểm cũng có ở nhiều tộc khác. Tuy nhiên, điều tôi muốn lưu ý là, tất cả, căn cước chung và riêng, tất cả làm thành tổng thể cá tính H’mông, quy định hiện hữu H’mông.

Chỉ một lưu ý nhỏ cho nghiên cứu này, bộ từ khóa cá tính H’mông được tôi nói tới trong quyển sách lần này thiên hẳn về cái nhìn nhân sinh của H’mông. Việc phân tích cái nhìn vũ trụ, đời sống tôn giáo của H’mông sẽ tiếp tục bổ sung cho cá tính H’mông một vài từ khóa quan trọng nữa. Đó là công việc mà tôi sẽ làm trong tương lai ở công trình phân tích vũ trụ luận H’mông.

- Việt Nam là một trong những quốc gia mà tính đa tộc người bề bộn, phức tạp bậc nhất thế giới. Văn hóa H’mông, cũng như văn hóa tộc người nói chung, đang có nguy cơ bị san phẳng bởi kỉ nguyên toàn cầu hóa, bởi xu hướng thương mại hóa các giá trị khác biệt. Theo anh, cần phải làm gì để dung môi sinh tồn của tộc người không bị phá hủy?

+ Thứ nhất, tôi xin nói đa tộc người là tính chất của khá nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Khu vực Đông Nam Á, tính chất đa tộc người là nổi trội, mà sự phức tạp của các quốc gia khác, nhiều khi còn thách thức hơn Việt Nam. 

Toàn cầu hóa là một cơ hội, nhưng cũng là một thách thức cho số phận các văn hóa thiểu số ở Việt Nam. Thêm nữa, những biến động trong quá khứ, và sự can thiệp, nhiều khi, là chưa thực sự hợp lí của miền xuôi với miền ngược, tất cả, đẩy văn hóa tộc người vào thân phận nhanh chóng bị mai một. Người H’mông trẻ tuổi ngày nay về cơ bản không còn hát dân ca, không mấy ai biết thổi khèn... Nhưng nếu đã là các cá tính nổi trội làm thành tâm thức tộc người thì tôi nghĩ, nó lặn sâu vào trong vô thức tập thể, vì thế, không dễ dàng biến mất mà sẽ chuyển đổi từ hiện tượng này sang hiện tượng khác. Muốn tôn trọng để bảo tồn văn hóa tộc người, vì thế, cần thiết những nỗ lực thông hiểu thực sự. Phải hiểu đúng thì việc bảo tồn không gian xã hội tộc người mới mang tính hiệu quả. Và chỉ khi hiểu đúng, thì mọi thiện chí hành động tôn trọng văn hóa, tri thức bản địa mới được phát huy hiệu quả.  

- Nghiên cứu của anh cho thấy, miền núi (cũng như biển đảo) đã can dự tích cực hơn rất nhiều vào sinh thể lịch sử Việt Nam so với cách hình dung mang tính chất Việt tâm luận đã được mặc định từ bao giờ trong nếp gấp vỏ não chúng ta. Nghĩa là, thực tại lịch sử Việt Nam cần phải được bổ sung phần nhìn từ núi (cũng như phần nhìn từ biển)…

+ Việt Nam vốn là một thực thể sinh động hơn rất nhiều ấn tượng cố định như-chỉ-là-của-Việt. Cho dù, người Việt chiếm đa số, và thực sự quan trọng, cái quan trọng của tộc-người-chủ kiến tạo dân tộc – quốc gia, nhưng, Việt Nam thực chất là một quốc gia đa tộc người. Tính chất đa tộc người của Việt Nam đã được biết tới từ lâu, tuy thế, sự quan trọng thực sự của tính chất đa tộc người ấy của Việt Nam quyết định cho tồn tại dân tộc thì lại thực sự chưa được ý thức đủ chiều sâu. Và, vì thế, như là một trọng điểm, quyển sách của tôi đã nói tới rất nhiều, dấu ấn tộc người luôn in đậm trong lịch sử Việt Nam ở rất nhiều cạnh khía, vào nhiều thời điểm khác nhau trải dài suốt hàng ngàn năm.

Và mô hình biển hay mô hình núi là quan trọng trong những quan sát về Việt Nam bởi nó sẽ góp vào điều chỉnh hợp lí hơn cách nhìn cố hữu về Việt Nam như-chỉ-là-nền-văn-minh-lúa nước. Đã quá lâu rồi, người ta yên tâm với ảnh tượng Việt Nam là quốc gia của nông dân – nông thôn – nông nghiệp. Ảnh tượng ấy có cơ sở hợp lí của nó, tuy thế, khi nó trương nở lên một cách thái quá, làm lu mờ các sắc thái khác cũng rất quan trọng của văn minh Việt Nam thì khi ấy, nó nảy sinh những bất cập. Mà đã bất cập thì phải điều chỉnh để tiến tới những cái nhìn hài hòa.

Tóm lại, quan sát về văn minh Việt Nam chỉ như là quốc gia nông nghiệp, với con trâu cái cày là một cái nhìn đơn tuyến. Nhận thức luận hiện đại chỉ ra rằng, mọi nhận thức đơn tuyến đều bao hàm những sự bất hợp lí khi không phản ánh phức hợp được vấn đề. Vì thế, nhu cầu nhận thức gần hơn với bản chất của văn minh Việt Nam đã thôi thúc những quan sát mới trong nhìn nhận về Việt Nam. Và vì thế, mô hình biển hay mô hình núi trong quan sát về Việt Nam là cần thiết và có ý nghĩa điều chỉnh để tiến đến những nhận thức hợp lí hơn về bản chất Việt Nam.

Việt Nam là một quốc gia rất đa dạng. Từ cơ tầng bản địa Đông Nam Á, nước Việt Nam sẽ mang tính chất Hán hóa đậm nét hơn khi tiến về phía Bắc, còn yếu tố Ấn Độ hóa lại đậm dần lên khi lùi về phương Nam. Việt Nam là quốc gia mà tính chất Việt là đậm đặc ở đồng bằng, và tính chất đa tộc người thiểu số thì đậm hơn ở miền núi. Duy trì nền văn minh lúa nước của châu thổ nhưng Việt Nam cũng đã từng đầy năng động khi tham dự vào mạng lưới hải thương giao lưu quốc tế. Kẹp giữa núi và biển, sự tồn tại của Việt Nam, vì thế, cần/nên được nhận thức như là một hệ quả đưa lại của các yếu tố địa - văn hóa - chính trị châu thổ, biển và núi rừng.

- Được biết, sau khi cuốn sách này được công bố, anh lại tiếp tục lặn lội du ca trên những đỉnh núi mới. Đích nghiên cứu tiếp theo của anh là gì?

+ Trong tương lai xa, tôi tiếp tục nghiên cứu sâu về H’mông và phần lịch sử Việt Nam bị lãng quên nếu nhìn từ mô hình núi. Đây là hai chủ đề quan trọng nhất sẽ được tôi theo đuổi trong nhiều năm tới. Nhưng có lẽ, bởi quá nhiều ràng buộc và hạn chế của đời sống cá nhân, nên sẽ còn khá lâu nữa diện mạo các vấn đề nghiên cứu của tôi thuộc hai chủ đề này mới có dịp hiện hữu với bạn đọc.

Tương lai gần hơn một chút, thì tôi đã có một bản thảo nghiên cứu dân tộc học về chợ trong cấu trúc làng, có lẽ vài năm tới sẽ là sự chỉnh sửa, kiểm thảo các vấn đề trong cuốn sách này. Mong là số phận tạo ra sự thuận lợi để các nghiên cứu của tôi sớm hiện hữu. Cảm ơn các bạn đã quan tâm và ủng hộ cho nghiên cứu của tôi trong thời gian qua. Là một người làm dân tộc học độc lập, niềm an ủi, và phần thưởng lớn nhất dành cho tôi chính là sự đón nhận đầy nhiệt tình của các bạn.

- Cám ơn anh đã chia sẻ. Chúc anh chân cứng đá mềm, sớm về đích trong hành trình leo núi trước mắt này  


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

 
Nhân vật Anna Karenina và sự soi chiếu từ nguyên mẫu đời thực

Nhân vật Anna Karenina và sự soi...

Lev Tolstoy - “con sư tử” của văn học Nga thế kỉ XIX - đã tạo ra những tác phẩm vĩ đại từ chất liệu tươi ròng của đời sống. Mỗi nhân vật được ông khắc họa luôn trở thành những điển hình nghệ thuật bất diệt, có tác động sâu đậm đến mọi tầng lớp xã hội. (NGUYỄN THỊ HỒNG​ HOA)

Quảng cáo