Sang thế kỷ 21, đọc và suy nghĩ về Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc

Thứ tư - 15/08/2018 16:04
Bản án chế độ thực dân Pháp* của Nguyễn ái Quốc, xuất bản lần đầu tiên tại Pari thủ đô nước Pháp năm 1925, xuất bản lần đầu tiên tại Việt Nam năm 1946. Sau nhiều lần tái bản, đưa vào tuyển tập, đưa vào Hồ Chí Minh toàn tập, xuất bản lần thứ nhất và lần thứ hai theo quyết định của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, văn bản này in trong tập 2 dài 112 trang, gồm 12 chương và phụ bản, từ trang 21 đén trang 133. 
 
phan tich tac pham thue mau ban an che do thuc dan phap
Nguồn internet

Chương I: Với tiêu đề " Thuế máu", ở mục I: Chiến tranh và " người bản xứ", Nguyễn ái Quốc đã lên án gay gắt chế độ thực dân Pháp đã gây ra chiến tranh và đẩy hàng chục vạn những người dân thuộc địa vào cuộc chiến đẫm máu. Trước năm 1914, tức là trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, bọn thực dân gọi những người dân nô lệ ấy, " là những tên da đen bẩn thỉu, những tên " An namít" bẩn thỉu, giỏi lắm thì cũng chỉ biết kéo xe tay và ăn đòn của các quan cai trị". Khi chiến tranh nổ ra" thì lập tức họ biến thành những đứa " con yêu", những người" bạn hiền" của các quan cai trị phụ mẫu nhân hậu, thậm chí của cả các quan toàn quyền lớn, toàn quyền bé nữa, được nhà cầm quyền phong cho họ danh hiệu tối cao là " chiến sỹ bảo vệ công lý và tự do". Nhưng những người dân khốn khổ ấy, "phải trả một giá khá đắt cho cái vinh dự đột ngột ấy", là phải" xa lìa vợ con, rời bỏ mảnh ruộng hoặc đàn cừu của họ, để vượt đại dương đi phơi thây trên các bãi chiến trường châu Âu". Cụ thể là nhiều người " được xuống tận đáy biển để bảo vệ tổ quốc của các loài thuỷ quái. Một số khác đã bỏ xác tại những miền hoang vu thơ mộng vùng Bancăng... một số khác thì đã anh dũng đưa thân cho người ta tàn sát trên bờ sông Mácnơ, hoặc trong những bãi đầm lầy Sămpanhơ". Thật là vô nghĩa, chết đi" để lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy và lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế". Tại chiến trường là vậy, ở hậu phương những người lính thợ" làm kiệt sức trong các xưởng thuốc súng ghê tởm. hít phải" khí độc đỏ ối", mắc bệnh "khạc ra từng miếng phổi"...Cuộc chiến tranh phi nghĩa ấy, đã đưa "700.000 người lên đất Pháp; và trong số ấy, 80.000 người không bao giờ còn trông thấy mặt trời trên quê hương đất nước mình nữa !".

Mục II: Tác giả nói về "Chế độ lính tình nguyện". Thật là mỉa mai khi " dân lao khổ bản xứ ở Đông Dương từ bao đời nay bị bóp nặn bằng đủ mọi thuế khoá, sưu sai, tạp dịch, bằng cưỡng bức phải mua rượu và thuốc phiện theo lệnh quan trên, từ năm 1915- 1916 tới nay, lại phải "thêm cái vạ mộ lính nữa". Đâu có còn là chế độ tình nguyện, chiến tranh là cái cớ " để người ta tiến hành những cuộc lùng ráp lớn về nhân lực trên toàn cõi Đông Dương... săn bắt thứ " vật liệu biết nói " châu Á đem đi sử dụng ở châu Âu". Chế độ tình nguyện được tiến hành bằng mọi cách: bằng lệnh, bằng thủ đoạn tuyên tuyền, bằng vũ lực... Lệnh của quan trên "phải nộp đủ một số người nhất định", các cấp thi hành mệnh lệnh, thoạt tiên chúng" tóm những người khoẻ mạnh , nghèo khổ"; sau là con nhà giàu, không chịu đi thì bắt giam, hoặc không đi thì" xì tiền ra". Không chịu được, những người bị bắt lính luôn tìm cơ hội để trốn thoát hoặc tự gây ra các bệnh toét mắt chảy mủ bằng các thứ " vôi sống đến mủ bệnh lậu". Chúng còn lừa bịp bằng cách tuyên truyền, hứa hẹn, tâng bốc như tặng "phẩm hàm", " truy tặng", " Các bạn đã tấp nập đầu quân, các bạn đã không ngần ngại rời bỏ quê hương...hiến dâng xương máu của mình... hiến dâng cánh tay lao động của mình..."Thực tế thì những người An Nam, trên đất An Nam khốn khổ " tốp thì bị xích tay, tốp thì trước khi xuống tàu, bị nhốt... có lính Pháp canh...". Người trốn lính đào ngũ " tính ra có tới 50 phần trăm", rồi những cuốc binh biến nổ ra bị "đàn áp" bị dìm trong biển máu. "Người trong trại thì chúng vừa dùng giọng lưỡi lừa phỉnh, vừa dùng hình thức quản lý dã man thích vào tay, vào lưng những con số không thể tẩy xoá bằng " dung dịch nitơrát bạc.". Chiến tranh là cơ hội cho bọn có chức có quyền bòn rút tiền bạc, trong mọi hoàn cảnh và cả hình thức bắt mọi người dân " mua công trái tự nguyện"...Hình thức bắt lính còn diễn ra ở Tây Phi, cụ thể ở các nơi như  miền quê Xênêgan, bến cảng Ruyphixcơ và Đaca, Đahômây...bọn thực dân Pháp mộ lính bằng vây bắt, bằng đàn áp dã man cả đàn bà và trẻ em, bằng cướp phá và đốt sạch...Đối với cuộc chiến phi nghĩa do bọn đế quốc gây ra, người dân các nước thuộc địa phải trả bằng máu, một thứ thuế máu rất dã man, tàn bạo, không ai có thể kể hết được tội ác tày trời của chúng.

Mục III: Kết quả của sự hy sinh. Nguyễn Ái Quốc viết:" Khi đại bác đã ngấy thịt đen, thịt vàng rồi, thì những lời tuyên bố tình tứ của các ngài cầm quyền nhà ta bỗng nhiên im bặt như có phép lạ...", những người lính bản xứ mặc nhiên trở lại "giống người bẩn thỉu". Mỉa mai thay:" Để ghi nhớ công lao những người lính An Nam, chẳng phải người ta đã lột hết tất cả của cải của họ, từ chiếc đồng hồ, bộ quần áo mới toanh mà họ bỏ tiền túi ra mua, đến các vật kỷ niệm đủ thứ,v.v, trước khi đưa họ đến Mácxây xuống tàu về nước, đó sao?". Tàn nhẫn thay!" người ta đã giao họ cho bọn súc sinh kiểm soát và đánh đập họ...cho họ ăn như cho lợn ăn và xếp họ như xếp lợn dưới hầm tầu ẩm ướt, không giường nằm, không ánh sáng , thiếu không khí... Về đến xứ sở họ được một quan cai trị biết ơn đón chào nồng nhiệt bằng một bài diễn văn yêu nước:" Các anh đã bảo vệ Tổ quốc, thế là tốt. Bây giờ, chúng tôi không cần đến các anh nữa, cút đi!", đó sao? Đối với thương binh, tử sỹ người Pháp thì được cấp môn bài bán lẻ thuốc phiện, tác giả đã kịch liệt lên án bọn thực dân cá mập " đã phạm tới hai tội ác đối với nhân loại" là gây ra chiến tranh huynh đệ tương tàn và đầu độc cả một dân tộc. Tại An Nam, ở Biên Hoà, Sài Gòn chúng còn tổ chức ngày hội quyên góp để lấy tiền "xây dựng đài kỷ niệm người An Nam trận vong", mở chợ phiên, khiêu vũ, chiếu phim mừng ngày 11 tháng 11 ngày" chiến thắng" và "chính nghĩa" đã gây ra cảnh các ông bà chủ đánh đập những người dân hiền lành, trong đó có cả trẻ em một cách tàn bạo.

Mục IV: Hành vi quân phiệt tiếp diễn. Tác giả tiếp tục phản ánh tình hình binh sỹ các nước thuộc địa bị đối xử tàn tệ, bị xua đi tham gia các cuộc bình định ở xứ Marốc, ở Xiri, tiếp tục đổ máu, tiếp tục bị đối xử tàn bạo bằng " đá đít hoặc roi vọt", giết chết họ bằng đầu độc vô cớ...

Chương II: Việc đầu độc người bản xứ. Nguyễn ái Quốc đã lên án nền văn minh "Đại Pháp", lên án chúng đã đặt nền cai trị độc quyền lên xứ Đông Dương " người ta có thể hình dung Đông Dương như một con nai béo mập bị trói chặt và đương hấp hối dưới cái mỏ quặp của một bầy diều hâu rỉa rói mãi không thấy no". Chúng đã đầu độc các dân tộc bằng bằng thuốc phiện và rượu cồn. Tác giả đưa ra lời phê nguyên Bộ trưởng Bộ thuộc địa Xarô:" Thế mà người An Nam lại đã có: những 10 trường học, những 1500 đại lý rượu và thuóc phiện cho 1000 làng kia đấy! "Chúng ấn định mức rượu  phải uống cho mỗi người" toàn bộ dân số, kể cả người già, phụ nữ, trẻ em, cả đến đứa còn bú mẹ." Chúng đầu độc bằng rượu nồng độ cao từ 40 đến 45 độ " làm bằng thứ gạo rẻ tiền, pha thêm chất hoá học, có mùi vị nồng nặc khó chịu". Bọn chủ độc quyền còn ra thông tư " bắt nhân viên của chúng pha thêm nước lã vào rượu đem bán; cứ mỗi héctôlít thêm 8 lít nước lã." việc làm đó " mỗi năm công ty thu được món lãi nho nhỏ 432.000, hay  4 triệu phrăng". Việc đầu độc người bản xứ là tội ác ghê tởm không thể dung thứ.

Chương III: Các quan thống đốc. Tác giả nêu, các quan thống đốc thường là các nghị viên, các nhân vật cao sang nhất của chế độ thực dân, ở các thuộc địa như ông Phuốc, ông Lông, ông Gácbi, ông Méclanh, ông Giơrêmi Lơme, ông Utơ rây. Họ đều những tên thực dân cáo già làm việc quan liêu, theo thói quen, tự ý, vơ vét, thao túng, biện thủ thuế, bóc lột dân bằng mọi hình thức, có những tên thống đốc là"những tên vô lại trong cái giới thống đốc và nghị viên thuộc địa" từng bị truy tố trước toà.

Chương IV: Các quan cai trị. Tác giả cũng nêu đích danh các quan cai trị là ông Xanh, ông Đáclơ, các ngài Buđinô, Bô đoanh và những ngài khác. Họ là những tên khâm sứ, chánh sứ, công sứ chức quan dưới thống đốc, toàn quyền. Bọn họ là những tên quân phiệt có tài đầu độc dân bản xứ, ức hiếp vua bù nhìn, dân lành, đàn áp dã man các cuộc nổi dậy, nhiều tên có lý lịch khả ố, xuất thân từ thằng "hàng cháo" hay "con nợ"...Thế mà chúng nắm trong tay mọi quyền hành " vừa là quan toà, vừa là mõ toà, vừa là người đốc thuế", bóc lột, bắt bớ, giam cầm, bòn rút, đánh đập lính, đánh đập dân một cách tàn nhẫn.. Không những thế các quan cai trị còn ăn hối lộ, buôn bán thuốc phiện. Họ không bị trừng trị mà vẫn được thăng chức toàn quyền, có thể được gắn bội tinh nữa.

Chương V: Tác giả viết về "Các nhà khai hoá". Ta thấy tác giả giành nhiều trang hơn, kể tỷ mỷ những tội ác của các nhà khai hoá thuộc địa. Họ là những cảnh binh, những viên chức với con số khá đông, tây đoan, đốc công, mật thám, sỹ quan,, binh lính, những nhà truyền giáo...Họ là những người Pháp sang An Nam, các xứ thuộc địa khác với mục đích  "khai hoá" và làm giầu. Họ trực tiếp khai hoá bằng giết người, đánh đập những người dân rất dã man, tàn nhẫn, vơ vét của cải của họ, giành chiếm đất đai. Tác giả kể lại những câu chuyện thương tâm như cảnh giội nước sôi vào người, cảnh bắn giết bừa bãi, cảnh trả thù, đánh đập con người lương thiện một cách vô cớ... và đã lấy dẫn chứng của ông Vin hê Đốctông ký nhà văn người Pháp viết: " Trên thế giới không có dân tộc chiến bại nào bị đàn áp và hành hạ như người dân thuộc địa".

Chương VI: Tệ tham nhũng trong bộ máy cai trị. Nguyến Ái Quốc đã nêu những con số thu chi, chỉ ra tệ tham nhũng ở các xứ thuộc địa. Đó là những khoản chi cho "những hành vi điên rồ" một cách phung phí vào các cuộc đón tiếp linh đình, các cuộc triển lãm vô bổ, những cuộc đi lại của các quan, kinh phí đài thọ... làm hao hụt ngân sách, mà mỗi đồng ngân sách là mồ hôi, xương máu của người dân thuộc địa. Tác giả đã nêu lại lời một cựu nghị sỹ đi thăm thuộc địa về, đã phải kêu lên:" So với bọn viên chức thuộc địa thì những tên cướp đường còn là những người lương thiện! "Nguyên nhân sâu xa là " quá nửa số viên chức ấy, từ các quan đầu tỉnh đến các quan chức khác, đều không đủ tư cách cần thiết của những con người được giao phó những quyền hạn rộng rãi và ghê gớm như thế ". Bọn thực dân cai trị, tên nào cũng có " cái tài phung phí công quỹ". Chúng chi cho công việc xây các biệt thự, ở các thành phố lớn, ở các bãi biển nghỉ mát, "ngân sách Đông Dương lại phải è lưng ra gánh". Các quan cai trị đều có cuộc sống đế vương " họ là những ông vua con", chi phí cho việc đi lại tốn kém hàng trăm nghìn phrăng một chuyến đi. mỗi người mua hàng 5,6 cỗ xe ngựa sang trọng đủ kiểu, xe hơi mỹ lệ...Chi phí đón tiếp các quan chóp bu tốn kém hàng chục nghìn đồng, một lượt, thậm chí công quỹ còn phải chi vào các cuộc ăn chơi, đài thọ tiền nhà, điện nước, nhà cửa, tiền mua báo chí, tiền sưởi ấm...Nhờ tiền tham nhũng các nhà "khai hoá" đã sống một cuộc sống vương giả, bắt lính phục dịch, thuê người quản gia, đầu bếp, hầu phòng, người giữ xe, giữ ngựa, làm vườn, các loại thợ...Tham nhũng là một tên nạn trong xã hội thực dân phong kiến đã làm gia tăng sự bần cùng hoá cuộc sống của nhân dân các nước thuộc địa.

Chương VII: Bóc lột người bản xứ . Tác giả đã trích lời của nhà văn người Pháp Vin hê Đốctông như lời đề dẫn rằng:" Sau khi cướp hết những ruộng đất màu mỡ, bộn cá mập Pháp đánh vào những ruộng đất cằn cỗi những thứ thuế vô lý gấp trăm lần thuế đất thời phong kiến". Tại An Nam nhân dân cũng chung số phận như vậy, Bọn thực dân cũng tăng thuế ruộng đất tăng gấp đôi  rồi gấp rưỡi, dã man hơn chúng còn biểu khống diện tích, bắt nhân ta phải đóng thuế cả khi thiên tai hạn hán, lũ lụt mất mùa. Chúng đề ra thuế thân đánh vào tất cả người bản xứ " từ 18 tuổi đến 60 tuổi đều phải đóng một suất thuế thân đồng loạt là 2 đồng rưỡi". Chúng đật ra thuế lưu thông hàng hoá, bán các loại công trái để thu lợi tức, đưa ra các khoản đóng góp, các loại phí vô lý. Ai không thực hiện chúng đấnh đập bỏ tù. Bọn thực dân còn cướp không các ngân phiếu của các binh sỹ gửi về. Nặng nề nhất, phải kể đến chế độ phu phen tạp dịch của chúng. Cảnh tượng những người nông dân bị trưng tập đi phu làm những việc nặng nề như vét sông, mở đường, bị chúng đưa đến những chốn xa xôi rừng xanh nước độc. " Bệnh hoạn, cực nhọc, hành hạ tàn tệ đã gây nên chết chóc khủng khiếp". Tình cảnh thật thê thảm " người dân đi tạp dịch hoặc đi phu trưng tập, lương thực thiếu thốn, có ngày không lấy một hột cơm vào bụng, họ đã bỏ trốn từng đoàn, hoặc nổi dậy chống lại, và mỗi khi như thế là bị bọn lính áp giải đàn áp ghê rợn, xác họ rải khắp dọc đường". Người An Nam nô lệ " là những người lao khổ, làm để nuôi lũ ăn bám, bọn đi khai hoá và những bọn khác". Họ là nạn nhân của chế độ thực dân" bị cướp giật từ mọi phía, bằng mọi cách, bởi nhà nước, bởi bọn phong kiến tân thời, bởi giáo hội Thiên chúa. Không những thế, những người nông dân còn bị nạn mất ruộng đất, bị các quan cai trị cướp không, chúng còn bỏ tù những người chống đối, khiếu kiện. Các chủ đồn điền ngang nhiên chiếm ruộng đất của họ, và cả các giáo hội" đấng cứu thế phần hồn" của họ nữa. Tính riêng ở Nam Kỳ" hội thánh truyền đạo cũng đã độc chiếm 1/5 ruộng đất trong vùng". Có nơi các quan cai trị và giáo hội cấu kết với nhău cướp ruộng đất của nông dân, khiến họ không còn đất sinh sống "phải đi ăn xin". Chính vì chính sách bóc lột tàn khốc người dân bản xứ của thực dân Pháp đã gây ra nạn đói, nạn dịch ở khắp nơi trong xứ thuộc địa ở An Nam, ở Angiêri, Tuynidi... nhiều nơi "nhiều người đói lả phải gặm xác một con lừa chết thối lâu ngày", nhiều bộ tộc có người" giành giật xác thú vật với quạ", chịu thảm cảnh" mỗi ngày hàng chục người chết đói". Để che đậy những tội ác chủ nghĩa thực dân luôn rêu rao những châm ngôn lý tưởng: Tự do, bình đẳng, bác ái. Trên thực tế, người dân bản xứ làm gì có tự do, còn bình đẳng, bác ái thì ngày càng xa vời. Chỉ hai từ "bình đẳng" cũng khó thực hiện được khi chế độ phân biệt màu da còn đang tồn tại. Sự phân biệt dân chính quốc, dân bản xứ còn rất nặng nề bất kể họ là trí thưc, binh lính, thợ thuyền hay là người dân bình thường. Tóm lại, chế độ bóc lột người bản xứ là chế độ dã man thời trung cổ, những người bản xứ " họ bị hành hình vừa bằng lười lê của nền văn minh tư bản chủ nghĩa, vừa bằng cây thánh giá của giáo hội sa đoạ làm ô danh chúa".

Chương VIII: Công lý . Tác giả đã phản ánh cái công lý mà chế độ thực dân thực hiện ở các nước thuộc địa. Chúng nó có toàn quyền áp bức bóc lột, thả cửa bắn giết, bỏ tù, đánh đập người dân thì làm gì có công lý nữa. Đúng như nhà văn Pháp Vinhê Đốctông viết một cách mỉa mai rằng:" Pháp luật, công lý đối với người bản xứ ư ? Thôi đi! Chỉ có ba tong, súng ngắn, súng dài, đấy mới là thứ xứng đáng với lũ ròi bọ ấy!". Chúng coi " Annamít và Angiêriêng đâu phải là người!" Đó là bọn nhà quê bẩn thỉu, bày dê con bẩn thỉu, " cần quái gì với cái giống ấy!". Toà án chính quốc bắt bỏ tù tội lạm dụng, tội đánh đập người dân Pháp, thế mà ở xứ thuộc địa chúng tha hồ đánh đập người dân vô tội, bắn giết họ không ghê tay, thậm chí chặt đầu cả trẻ em mà pháp luật không hề trừng trị. Cái " công lý được tượng trưng bằng một người đàn bà dịu hiền, một tay cầm cân, một tay cầm kiếm". Khi đến các xứ thuộc địa "người đàn bà tội nghiệp chỉ còn lại độc thanh kiếm để chém giết. Bà chém giết đến cả người dân vô tội, và nhất là người vô tội.". Chúng đàn áp thẳng tay các cuộc biểu tình, các cuộc khởi nghĩa chém giết một cách vô tội vạ, không cần phải xét xử những người yêu nước thương nòi, những người chân chính ấy.Thậm chí còn dựng nên những chuyện không có thật để mà chém giết, bỏ tù. Quan toà của chúng là những tên tội phạm, đã từng giết người. Nếu mà được bình đẳng trước pháp luật thì chính ông Xarô, toàn quyền Đông Dương phải chịu án phạt " một triệu ba mươi lăm vạn tháng tù về tội mỗi năm bán cho người An Nam trên mười lăm vạn kilôgam thuốc phiện". Thật là khủng khiếp, khi chúng thẳng tay chém giết, bêu đầu những người dũng cảm chồng lại chúng, và kể cả những người chúng nghi là có âm mưu chống lại, thế nên mới có hiện tượng:" Trong vòng hai tuần lễ, một viên giám binh đã xử tử bảy mươi nhăm lý hào" vô tội. Như vậy, ở các xứ thuộc địa làm gì có công lý, luật pháp nữa chỉ có là giết người, đánh đập, bỏ tù, đầu độc những người dân vô tội mà thôi.

Chương IX: Chính sách ngu dân . Nguyễn Ái Quốc đã lên án chủ nghĩa thực dân đã đầu độc người dân An Nam "bằng rượu và thuốc phiện mà còn thi hành một chính sách ngu dân triệt để". Với báo chí phương tiện để năng cao dân trí, nắn bắt thông tin thì bị kiểm duyệt, cấm lưu hành. "Báo tiếng Việt không được xuất bản, nếu không được phép của quan toàn quyền" và " Giấy phép chỉ được cấp với điều kiện là các bài báo phải được quan thống đốc duyệt trước. Giấy phép có thể bị rút lúc nào cũng được". Cấm tuyệt đối:' Mọi cuộc trưng bày hoặc phổ biến những bài hất, biếm hoạ hoặc tranh ảnh làm thương tổn đến sự tôn kính với các nhà cầm quyền đều bị trừng trị". Chúng làm như thế nhằm mục đích gì, để " chính quyền Đông Dương có thể im được tất cả mọi vụ nhơ nhớp và tha hồ mà lạm quyền". Chúng còn cấm thư từ, cấm gửi bài cho các tờ báo tiến bộ ở Pari, và thư tín, báo chí tiến bộ từ Pháp gửi về. Nhân dân Đông Dương còn chịu cảnh không có trường học, " trẻ em đành chịu ngu dốt vì nạn thiếu trường". Chính phủ thuộc địa tìm mọi cách cấm không cho " thanh niên An Nam sang du học tại Pháp". Phương châm của chúng " Làm cho dân ngu để dễ trị". Chúng bưng bít thông tin, cấm cả thư từ, bắt bớ các nhà báo. Đấy là chính sách ngu dân, cũng là một kiểu thống trị dã man của chủ nghĩa thực dân Pháp đối với các xứ thuộc địa của chúng.

Chương X : Chủ nghĩa giáo hội . Tác giả lên án " các sứ giả của chúa cũng hoạt động chẳng kém", đàn áp cướp bóc, kẻ thì tiết lộ những bí mật, kẻ thì đi bắt người ta phải theo đạo, có linh mục " chân đi đất, quần sắn đến mông, lưng thắt bao đạn, vai khoác súng dài, hông đeo súng ngắn, dẫn đầu một đoàn con chiên" cùng với sự giúp đỡ của quân đội đi phá các làng bên lương và đi cướp bóc. Có nhiều cha xứ còn bạo hành như những tên côn đồ đánh người mà không hề bị kết tội. Giáo hội các xứ thuộc địa còn chiếm đất đai để người dân rơi vào tình cảnh " chắng bao lâu nữa, sẽ không còn rẻo đất nào cho người An Nam có thể sinh cơ lập nghiệp nếu không cam chịu kiép sống nông nô!", như lời của một đại tá thực dân viết trên báo. Nhân danh Chúa, họ đi làm gián điệp, truyền giáo với mục đích thăm dò, nắm bắt các bí mật quân sự, dẫn đường cho quân đội viễn chinh xâm lược. Tất cả các nước như Ăngtiơ, Mađagátxca, Tahiti và Đông Dương đều là nạn nhân của các đoàn truyền giáo đó. Có vị linh mục đã làm thông ngôn, chỉ điểm, ra lệnh đốt làng, nếu là làng chúng nghi là chống đối giáo hội. Tham vọng hơn, có vị linh mục còn nói rõ ý đồ " muốn đánh chiếm hết cả nước và lật đổ triều đại đang trị vì". Nếu họ chết thì họ trở thành" người tử vì đạo để phong thánh". Như vậy, giáo hội ở các xứ thuộc địa Pháp thực chất đã làm ô danh Chúa đầy lòng nhân ái và toàn năng, đấng sáng thế tối cao, mà ta đáng kính.

Chương XI: Nỗi khổ nhục của người phụ nữ bản xứ . Trong các chương trên tác giả đã lên án chế độ thực dân Pháp đã có những hành động dã man bạo ngược đối với phụ nữ ở các xứ thuộc địa, chương này tác giả nói rõ hơn, cụ thể hơn các hành vi tội ác của các nhà "khai hoá". Có tên "khai hoá" gọi người phụ nữ An Nam là " con đĩ, con bú dù", có tên dùng roi gân bò, dùi cui đánh phụ nữ, tự do hãm hiếp phụ nữ bất kể là người già hay trẻ em. Không những thế , họ còn phá nhà cửa, bất súc vật, bắt giam họ không cần lý do. Qua đó, chúng ta thấy ' chế độ thực dân là chể độ ăn cướp" và chúng ta tán thành với ý kiến tác giả lên án, tố cáo thêm chế độ thực dân " là hiếp dâm và giết người". Những dẫn chứng xác đáng kể tội chúng. Đó là những vụ bạo hành ghê tởm như hành hung phụ nữ, có tên thực dân đã đổ nhựa cao su vào âm hộ một phụ nữ, bắt phơi nắng tới chết. Có nơi, binh lính còn vây làng, hãm hiếp phụ nữ, không từ bà già trẻ em; cảnh hãm hiếp một cô gái "trói lại, nhét giẻ vào miệng, rồi một tên cầm lưỡi lê đâm vào bụng cô, chặt ngón tay cô để lấy chiếc nhẫn và cắt đầu cô để lấy cái vòng cổ". Cảnh một tên thưc dân bắt " một người phụ nữ An Nam phải hiến thân cho con chó của hắn. Chị không chịu. Hắn liền đâm một nhát lưỡi lê vào bụng chị, chết tươi." Các nhà  "khai hoá" đủ hạng như Tây đoan, binh lính, sỹ quan, bọn chủ hung ác đều gây tội ác ghê tởm đối với phụ nữ thuộc địa làm cho họ phải chịu cực hình, làm cho họ phải chịu đói rách, tàn tạ...Tác giả lên án nền tự do, công lý ấy còn "được tượng trưng bằng hình ảnh người đàn bà dịu hiền", thế mà mọi tội ác lại đổ lên đầu người phụ nữ bản xứ, làm cho họ đã phải chịu thương đau vì chồng con bị bắt đi lính chết thay cho bọn người thống trị da trắng, lại còn phải chịu nhục nhã mà chẳng có pháp luật nào bảo vệ, chở che. Tác giả đã kêu gọi " Hỡi những người mẹ, nhữmg người vợ, những người phụ nữ Pháp, chị em nghĩ gì về tình trạng đó? Và các bạn, những người con, những người chồng, những anh em người Pháp nữa?" Hãy nhìn vào những hành động dã man của bọn thực dân trên các xứ thuộc địa mà lên án, kết tội chúng.

Chương XII: Nô lệ thức tỉnh . Nguyễn Ái Quốc đã phản ánh sự thức tỉnh của nhân dân các nước nước thuộc địa. Thời kỳ này, tác giả đã gia nhập Đảng Xã hội Pháp, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đi theo con đường Cách mạng tháng Mười của Lê nin. Trong những trang viết này, tác giả đã nêu lên sự tự ý thức của nhân dân các nước thuộc địa. Trước tiên là ở Đông Dương, tháng 11 năm 1922, 600 công nhân thợ nhuộm Chợ Lớn ( Nam Kỳ) bị bớt lương đã quyết định bãi công. Cũng như thế, các cuộc bãi công, những " cuộc phản công bọn chủ diễn ra khắp nơi và khắp nơi giai cấp công nhân đã bắt đầu giác ngộ về quyền lợi và giá trị của mình". Giai cấp công nhân đã nhận thấy nỗi cực khổ của bản thân mình, do sự áp bức bóc lột tàn nhẫn của bọn chủ tư sản, đã dần dần giác ngộ, ý thức về giai cấp mình, biết đoàn kết, biết giác ngộ lẫn nhau, cần phải giáo dục cho họ về ý thức tổ chức và phương pháp tổ chức.
Nhân dân Đahômây bị áp bức, bị  bóc lột, đã nổi dậy. Mặc dù bị đàn áp dã man, nhưng chứng tỏ họ cũng đã thức tỉnh.

Ở Xi ri, nhân dân đã bắt đầu có ý thức đòi giải phóng, họ coi các nước trong khu vực là anh em một nhà, biểu tình chống chế độ uỷ trị, chính sách chia đề trị thâm độc của bè lũ thực dân nhằm chia rẽ dân tộc, rồi lại kêu gọi " liên bang", hoặc lừa bịp bằng những ngôn từ hoa mỹ, đưa ra những chiêu bài độc lập giả hiệu. Nhưng nhân dân Xi ri, đã có những tổ chức đấu tranh cho độc lập và thống nhất chân chính. Họ bắt đầu gửi thư đến Hội nghị Lôdannơ( hội nghị giữa các nước đồng minh và Thổ Nhĩ Kỳ) thể hiện nguyện vọng chân chính của các dân tộc Xi ri; hoặc đã gửi thư cho thủ tướng Pháp đề nghị các chính sách chính đáng của mình như công nhận nền độc lập, thống nhất thật sự, tiến hành bầu cử theo hình thức phổ thông đầu phiếu để bầu ra quốc hội, thầnh lập một chính phủ chịu trách nhiệm trước quốc hội và quốc hội có toàn quyền lập pháp...
Và cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa đã bước vào thời kỳ quyết liệt hơn. Những quả bom đã nổ ở Quảng Châu, ở Ăngtinơ, những cuộc đấu tranh, quyết liệt đẫm máu đã xảy ra ở Ađơlúp, Bidéctơ, Hamănglíp và Tuynidi... Tát cả đã chứng tỏ nô lệ các nước thuộc địa thực sự thức tỉnh.

Thời kỳ này, Nguyễn ái Quốc đã là một người cộng sản nên tác giả trực tiếp tuyên truyền về Cách mạng tháng Mười Nga. Cách mạng vô sản Nga đã hoàn toàn thắng lợi, do sự lãnh đạo tài tình của Lê nin và Đảng Cộng sản Nga, ý nghĩa và ảnh hưởng của nó rất lớn đến các dân tộc thuộc địa. Cách mạng tháng Mười đã mở ra con đường giải phóng dân tộc như tuyên bố ủng hộ các dân tộc bị áp bức " dạy cho họ đấu tranh", " giúp đỡ họ về tinh thần và vật chất", đúng như " Lê nin đã viết trong luận cương của Người về vấn đề thuộc địa". Cách mạng Nga đã triệu tập các đại biểu đến dự Đại hội Bacu. Tại đại hội này, hai mươi mốt dân tộc phương Đông đã cử đại biểu đến dự, các đại biểu các đảng công nhân các nước phương Tây cùng tham dự." Đó là lần đầu tiên trong lịch sử, giai cấp vô sản ở các nước xâm lược và giai cấp vô sản ở các nước bị xâm lược đã nắm tay nhau trong tình anh em và cùng nhau tìm cách đấu tranh có hiệu quả chống chủ nghĩa tư bản là kẻ thù chung của họ". Tác giả nêu lên những cố gắng bước đầu của Cách mạng Nga là thành lập Trường Đại học phương Đông. Tromg bài tác giả đã nêu mục tiêu đào tạo của trường là giáo dục cho các chiến sỹ cách mạng trong tương lai nắm được nguyên lý đấu tranh, giáo dục cho họ về tinh thần quốc tế vô sản, đặt cơ sở cho một liên minh công nông vững chắc, phấn đấu nêu một tấm gương đấu tranh giải phóng các dân tộc bị nô dịch. Tác giả là một nhà cách mạng đã có lời kêu gọi anh em vô sản và nông dân các nước thuộc địa. Trong bài, tác giả đã phân tích tình hình thế giới sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Trên các nước thuộc địa và nửa thuộc địa đã nổ ra " một loạt những cuộc bùng nổ cách mạng", nhưng mới ở dạng tự phát, giai cấp tư sản dân tộc cũng đã nhận thấy sự  áp bức bóc lột  tàn nhẫn "công nhân và nông dân của mình", không cam chịu, đã giương cờ đấu tranh đã được nhân dân " hoan nghênh nhiệt liệt và ủng hộ mạnh mẽ". Để mọi người tin tưởng hơn, tác giả đã khẳng định: " Quốc tế Cộng sản đấu tranh không ngừng chống bọn cá mập tư sản, ở tất cả các nước trên thế giới". Tác giả đã trích Tuyên ngôn của Ban Chấp hành Quốc tế thứ ba:" Quốc tế Cộng sản đã công khai tuyên bố ủng hộ và giúp đỡ cuộc đấu tranh ấy và trung thành với mục tiêu của mình; Quốc tế Cổng sản vẫn tiếp tục ủng hộ cuộc đấu tranh ấy". Để củng cố niềm tin cho anh em nông dân lao động thuộc địa, tác giả có trích: Một bản hiệu triệu của Quốc tế nông dân giử nông dân lao động các nước thuộc địa. Bản hiệu triệu ấy, đã nói lên nỗi cực khổ của nông dân, họ bị bọn tư bản bóc lột thậm tệ, bị đối xử tàn nhẫn, bị chìm trong cảnh tối tăn, bị đầu đọc bằng thuốc phiện và rượu cồn, bị đẩy đi lính chết một cách đau thương. Hiện tai nông dân đã có tổ chức Quốc tế nông dân. Vì vậy nông dân:" Hãy đoàn kết lại! Hãy tổ chức lại! Hãy phối hợp hành động của anh chị em với hành động của chúng tôi, chúng ta cùng nhau đấu tranh cho công cuộc giải phóng chung!"

Cuối cùng, tác giả  nêu việc: Tổ chức công đoàn ở thuộc địa. Ý nghĩa của tổ chức này rất lớn là chống lại sự áp bức bóc lột của tư bản thực dân, phá bỏ được nền móng của chủ nghĩa đế quốc, đoàn kết giai cấp vô sản ở thuộc địa với giai cấp vô sản ở các nước tư bản, các nước đế quốc, gắn kết phong trào công nhân, những người lao đông trên thế giới, chú ý giúp đỡ các tổ chức công đoàn các thuộc địa dựa trên tình hữu ái giai cấp, không phân biệt dân tộc, chủng tộc. Nhiệm vụ của các tổ chức công đoàn ở các nước tư bản là ủng hộ và giúp đỡ các tổ chức công đoàn thuộc địa chống lại sự áp bức bóc lột của bọn tư bản thực dân.

Tác giả còn nêu: "Tuyên ngôn của Hội liên hiệp thuộc địa". Bản Tuyên ngôn đã kêu gọi những anh em ở các thuộc địa, hãy tỉnh ngộ nhận ra kẻ thù của mình là bọn thực dân xâm lược đã tước hết quyền tự do, đã bóc lột, đã đầu độc họ bằng thuốc phiện và rượu cồn, bị phân biệt đối xử, bị lừa bịp nữa. Hội kêu gọi anh em hãy dũng cảm đứng lên đấu tranh giải phóng nhưng phải nhớ công thức của Các Mác đã nói với anh em rằng," công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em". Hội liên hiệp thành lập chính là để giúp đỡ anh em trong cuộc đấu tranh ấy. Biện pháp hoạt động của Hội có thể bằng ngôn luận báo chí, tổ chức mít tinh, nói chuyện, diễn đàn nghị viện, bằng tất cả các biện pháp mà chúng ta có thể làm. Hội kêu gọi các bạn bị áp bức ở chính quốc , hãy giúp đỡ cuộc đấu tranh của anh em bị áp bức các nước thuộc địa và nửa thuộc địa để tự giải phóng. Các bạn hãy nhớ lời kêu gọi của Các Mác:" Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!".

Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn ái Quốc còn thêm phần phụ lục, bổ sung vào phần nội dung chính. Tác giả có lời nhắn gửi tới thanh niên An Nam, lực lượng cách mạng tương lai của nước nhà. Đó là nỗi đau nhận thấy dân tộc ta bị chìm đắm trong đêm trường nô lệ, khi mà các dân tộc, các nước khác như Nhật Bản, Trung Hoa, Nga đã có những biến đổi sâu sắc bằng các cuộc cách mạng lớn lao; các dân tộc bị áp bức đã vùng lên đòi giải phóng như người Airlan, Ai cập, Triều Tiên, Ấn Độ... "Riêng người An Nam thì vẫn cứ thế: sãn sàng làm nô lệ". Tác giả đã phê phán lớp thanh niên trí thức đã không biết nỗi nhục mất nước, cam phận làm nô lệ, ca ngợi nhà nước thực dân, bọn thực dân, có tên là những tên tội phạm đã từng gây tội ác với dân tộc. Có thanh niên An Nam được đi du học lại tìm đến chốn ăn chơi sa đoạ, chìm đắm trong sự ngu muội và biếng nhác. Trong khi đó thì hơn hai nghìn thanh niên Trung Quốc ở Pháp và hơn năm chục nghìn thanh niên Trung Quốc ở châu Âu, châu Mỹ đang lao động, học tập với mục đích lớn lao là để " chấn hưng đất nước". Họ là những thanh niên sinh viên - công nhân" Sinh sống bằng lao động của bản thân và vừa học vừa lao động". Họ không xin tiền của chính phủ, không xin tiền của gia đình coi đó là vấn đề danh dự. Họ sống có tổ chức, bảo vệ nhau, lập quỹ tương tế giúp đỡ nhau, ra báo bằng chữ Hán để năng cao dân trí, trình độ hiểu biết, ban ngày lao động, ban đêm học tập. Kiên trì, quyết tâm, đoàn kết như thế, chắc chắn họ sẽ đạt được mục đích. Tác giả khẳng định rằng, không bao lâu nữa:" Trung Quốc sẽ có một địa vị trong hàng các cường quốc công nghiệp và thương nghiệp thế giới.". Để khuyên thanh niên ta giác ngộ, hãy sống vì mục đích cao cả, không sống cam chịu thân phận nộ lệ nữa, tác giả kêu gọi:" Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh".

Ngày nay, chúng ta đọc Bản án chế độ thực dân Pháp, thấy rõ tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp với người bản xứ, trong đó chủ yếu là người Việt Nam. Chúng ta càng thấy giá trị của độc lập tự do, mà cha ông đã bao đời hy sinh đấu tranh giành lại cho chúng ta. Đất nước ta, dân tộc ta đã dược giải phóng, không còn phải chịu cảnh nô lệ như cha ông chúng ta hồi đầu thế kỷ XX. Nhưng chúng ta nhận thức thấy rằng, chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân mới vẫn còn đang tồn tại. Chính chúng là thủ phạm gây ra chiến tranh, cho nên chúng ta phải  cảnh giác với những thủ đoạn, âm mưu thâm độc của chúng. Từ đó, chúng ta càng cố gắng giữ gìn hoà bình, ổn định, chống lại các cuộc chiển tranh phi nghĩa do chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc gây ra. Chúng ta phải nhớ bài học về "Thuế máu" mà giữ gìn hoà bình và tự do độc lập dân tộc, chúng ta không tham gia các liên minh quân sự, không biến nước mình làm căn cứ quân sự để tiến công nước khác, giữ vững ổn định trong nước và khu vực, góp phần gìn giữ hoà bình thế giới.

Hiện nay, nhân dân ta, dân tộc ta có Đảng công sản đội tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo, có chính quyền nhân dân vững mạnh. Chúng ta đang xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hoá và hiện đại hoá, làm cho dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Từ nền kinh tế quan liêu bao cấp, chúng ta đang chuyển sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ khi đổi mới, kinh tế đã phát triển, đất nước đã khởi sắc, nhưng chúng ta còn gặp không ít khó khăn, do những tiêu cực xã hội, mặt trái của nền kinh tế thị trường gây ra. Khi xây dựng chế độ mới, trên cơ sở từ chế độ cũ, chúng ta thấy những di chứng của chế độ cũ vẫn còn. Có  những cái tưởng đã chết rồi, thế mà còn sống dai dẳng mãi như đám cỏ dại gặp mưa, có điệu kiện lại phát triển. Như những tư tưởng, hành động tham ô, tham nhũng, cậy quyền, cậy thế, hách dịch, nhũng nhiễu, chạy chọt chức quyền, chạy án gỡ tội. Nó làm tổn hại uy tín của Đảng, chính quyền, đe doạ đến sự tồn vong của Đảng, của chính quyền cách mạng. Sự sụp đổ các nước thuộc Liên Xô cũ và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu cũng đủ để cho chúng ta bài học kinh nghiệm xương máu. Trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái quốc đã chỉ ra những căn bệnh quan liêu của các quan thống đốc, quan toàn quyền, các quan cai trị, những di hại của nó và sự hách dich của các nhà " khai hoá" liệu có còn trong lề lối làm việc của  cán bộ, nhân viên trong bộ máy chính quyền cách mạng của chúng ta không? Còn vấn đề dân chủ có thực sự cho người dân chưa? Hay chỉ nói và nói còn làm thì không làm, có cần nói và làm ngay không? Biết bao cán bộ cấp Bộ, cẩp tỉnh, cấp huyện... đã bị sa ngã, khi có cái địa vị thì quay lưng lại với đồng bào, vô ơn với cách mạng; còn cán bộ nhân viên nữa bao người đã biến chất tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực, làm tổn hại kinh tế, làm mất quyền lợi của nhân dân, ảnh hưởng xấu đển uy tín của Đảng và chính quyền?

Trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã lên án bọn thực dân, phong kiến đã đầu độc dân ta bằng thuốc phiện và rượu cồn. Vì siêu lơi nhuận, chúng bắt dân ta hút thuốc phiện, uống rượu, bất chấp dư luận, lương tâm. Ngày nay, chúng ta có chính quyền cách mạng, có chính sách quản lý xã hội bằng pháp luật của Nhà nước, thế mà cứ để người dân tự nấu, tự uống tự do. Nhiều nơi tự sản xuất rượu đã làm ô nhiễm môi trường, nhiều nhà máy rượu bia sản xuất với công suất lớn cứ mọc ra. Nạn nghiện rượu, nạn nghiện thuốc phiện, ma tuý trở nên nặng nề, gây thiệt hại nặng cho kinh tế gia đình và Nhà nước, gây nhũng nhiễu xã hội, làm tan nát gia đình. Số người buôn bán thuốc phiện ma tuý và số vụ án về chứa chấp, buôn bán thuốc phiện, ma tuý ngày càng nhiều, càng nghiêm trọng. Số người nghiện rượu có đến hàng mấy triệu người, số người nghiện thuốc phiện, ma tuý cũng đến mấy chục vạn người. Tệ nạn xã hội ngày càng tăng, bệnh tất ngày càng hoành hành trên người và động vật. Từ năm 1981, trở về trước chúng ta chưa có ai bị bệnh AIDS, nhiễm HIV, đến nay chúng ta đã có 149.000 người bị bệnh. Đấy chỉ là tảng băng trôi, phần nổi là con số đó, còn phần chìm là bao, còn chưa ai biết. Vấn đề đặt ra là chúng ta quản lý xã hội thế nào? Cán bộ, Đảng viên đang học tập đạo đức Hồ Chí Minh chúng ta suy nghĩ gì, làm gì? Trước những tệ nạn xã hội hiện nay.

Bản án chế độ thực dân Pháp, tố cáo tội ác bóc lột dã man của bọn chủ tư bản, thực dân đối với nhân dân ta, kêu gọi nhân dân ta đứng lên chống lại, tiêu diệt chúng. Trên tám mươi năm qua, bộ mặt thế giới đã thay đổi. Các nước châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, châu Đại Dương trên danh nghĩa đã giành được độc lập. Chế độ thực dân cũ đã đổi bằng chế độ thực dân mới. Như vậy là chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc vẫn còn đang tồn tại, đang thắng thế. Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, ở Đông Âu tan rã, cách mạng thế giới đang ở vào thời kỳ thoái trào. Cách mạng Việt Nam nhờ đổi mới mà tồn tại và phát triển, nhưng thử thách không phải là nhỏ, chúng ta phải tỉnh táo đề phòng trước những âm mưu thâm độc của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc. Cho nên chúng ta vừa chú ý đến mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, vừa chú ý đến công tác xây dựng Đảng và chính quyền vững mạnh, củng cố mối quan hệ quốc tế. Hiện nay làn sóng đầu tư vào Việt Nam rất lớn, nhưng phải chú ý đến mặt an sinh xã hội, đời sống của nhân dân lao động, không để công nhân, người lao động bị bóc lột, chịu cuộc sống cực khổ như thời trước. Vấn đề là phải tạo niềm tin cho người lao động vào Đảng và chính quyền, vào tương lai dân tộc, đất nước và vào chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa của chúng ta.

Bản án chế độ thực dân Pháp đã tố cáo" chính sách ngu dân" của bọn xâm lược, cứ "1000 làng mới có 10 trường học". Trẻ em phải chịu nạn thất học, dẫn đến kết quả 95%  người dân không biết chữ. Từ Cách mạng tháng Tám đến nay, nền giáo dục của chúng ta đã phát triển vượt bậc, các làng, các xã đều có trường mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, trình độ dân trí được nâng cao, đáp ứng với yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng. Trong thờ kỳ đổi mới, giáo dục chúng ta đã tiến những bước dài, cùng với sự nghiệp đào tạo, đã đáp ứng với sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Xã hội chúng ta là xã hội học tập, nền giáo dục chúng ta là nền giáo giáo dục tiên tiến. Hiện nay, chúng ta cần giáo dục cho hơn hai mươi triệu học sinh sinh viên tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, phấn đấu học tập tu dưỡng tốt để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Đặt cơ sở vững chắc để xây dựng chế độ xã hôi chủ nghĩa trên đất nước ta.

Phụ nữ Việt Nam không còn phải sống cực khổ, nhuc nhã như thời thực dân phong kiến như trong Bản án chế độ thực dân Pháp đã nêu. Phu nữ ngày nay được Đảng và Nhà nước quan tâm, có chính sách ưu tiên, được đảm bảo về quyền lợi, được pháp luật bênh vực, địa vị trong xã hội, trong gia đình được nâng cao. Tuy nhiên, cũng cần phải chăm lo giáo dục, đào tạo để phụ nữ Việt Nam có điều kiện phát triển hơn, có một cuộc sống tự do, hạnh phúc hơn. Hiện nay, do mặt trái của nền kinh tế thị trường, tệ nạn xã hội vẫn còn đó. Đấu tranh chống tệ nạn xã hội, là công việc chung của toàn xã hội, nhưng cũng là việc riêng của chị em. Việc quản lý xã hội muốn tốt cần phải có sự tham gia của toàn thể chị em. Không để tồn tại hiện tượng bạo hành với phụ nữ, mua bán phụ nữ, giữ gìn phẩm hạnh  và đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho phụ nữ của chúng ta.

Về thanh niên, có vị trí vô cùng quan trọng trong cách mạng. Thanh niên Việt Nam được Đảng và Bác Hồ giáo dục và rèn luyện đã làm nên những kỳ tích trong sự nghiệp giải phóng, trong kháng chiến, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay thanh niên ta cần phải ra sức học tập, lao động, tu dưỡng, phấn đáu tốt, để góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng của dân tộc, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành một nước phát triển có nền công nghiệp hiện đại và văn minh.
Bản án chế độ thực dân Pháp ra đời cách đây hơn tám mươi năm, tạo ra một tiếng vang lớn giữa thủ đô Pari và ảnh hưởng của nó rất lớn tới các nước thuộc địa, trong đó có Đông Dương. Tác phẩm đã thức tỉnh các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh, đã làm cho dân tộc Pháp có lương tri nhận thấy tội các của bọn thực dân Pháp đối với nhân dân các nước thuộc địa, đã gắn kết các phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc với nhân dân lao động ở các xứ thuộc địa. Sau Cách mạng tháng Tám thành công một năm ( 1946), tác phẩm được xuất bản, đã có tác dụng rất lớn trong giáo dục nhân dân lòng căm thù chế độ thực dân Pháp, nhận thưc về giá trị của độc lập tự do dân tộc và phẩm giá của con người, đã anh dũng đấu tranh chống lại sự xâm lược của bọn thực dân, đế quốc bảo vệ độc lập tự do và thống nhất Tổ Quốc. Ngày nay đọc tác phẩm này, chúng ta nhận thức rõ hơn về bản chất của chế độ thực đân, đế quốc, càng thấy giá trị của độc lập tự do, hoà bình, thống nhất đất nước, thấy trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi công dân trong sự nghiệp cách mạng, thấy được ý nghĩa của sự đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, ghi sâu công ơn của Đảng và Bác Hồ kính yêu.
                                                                                            
 CAO THỊNH

Hồ Chí Minh toàn tập - Bản án chế độ thực dân Pháp,  NXB Chính trị quốc gia, HN, 2004, tập 2, tr 21- tr 133...


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo