Tiếp tục xây dựng văn học Việt Nam trong thời kì mới dựa trên nền tảng mĩ học Marxist

Chủ nhật - 08/11/2015 01:00
. LƯU THANH
Giữa thập niên 80 của thế kỉ XX, trước sự khủng hoảng kinh tế và xã hội, Tổng Bí thư Trường Chinh đã khẳng định: “Đổi mới là con đường vươn lên đáp ứng đòi hỏi của thời đại, đối phó thắng lợi với mọi thử thách, đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của nhân dân; đối với nước ta, đổi mới là yêu cầu bức thiết, là vấn đề có tầm quan trọng sống còn”. Để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khó khăn, Đại hội VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Đổi mới không chỉ là yêu cầu cấp bách, mà còn được Đảng và Nhà nước ta xác định là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, trải qua nhiều nấc thang.
Trong lĩnh vực văn học, một trong những nguyên nhân trực tiếp đưa đến sự đổi mới thành công đó là sự thay đổi thiết chế văn hóa văn nghệ. Sự đổi mới thiết chế văn nghệ Việt Nam từ thập niên 80, 90 được thể hiện rõ trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 82-CT/TƯ của Ban Bí thư về “Công tác tư tưởng” (1986), Chỉ thị 52-CT/TW của Ban Bí thư về “Đổi mới và nâng cao chất lượng phê bình văn học, nghệ thuật” (1989)… 
Về lĩnh vực lãnh đạo, quản lí văn nghệ, Đảng ta đã thực hiện đổi mới sâu sắc tư duy và nâng cao trình độ lãnh đạo quản lí, khắc phục những biểu hiện giản đơn, bảo thủ, thiếu dân chủ, do dự không dám đổi mới, đồng thời chấp nhận những thử nghiệm, tìm tòi táo bạo, giải phóng năng lực sáng tạo tiềm tàng của các văn nghệ sĩ, mở rộng đa dạng hóa các hoạt động văn nghệ, đưa văn học, nghệ thuật phát triển lên một bước mới. Đổi mới mạnh mẽ về tư duy lãnh đạo, quản lí văn hóa, văn nghệ, Đảng ta vẫn kiên trì xây dựng và phát triển nền văn nghệ Việt Nam dựa trên nền tảng chủ nghĩa Marx - Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986), đồng chí Nguyễn Văn Linh phân tích, đổi mới là tất yếu, mục đích của đổi mới là để “thấy đúng và thấy hết sự thật, thấy những nhân tố mới để phát huy, những sai lầm để sửa chữa, nhằm vận dụng tốt chủ nghĩa Marx - Lenin vào hoàn cảnh nước ta”, đổi mới để giữ vững chế độ, đồng thời phát huy bản chất ấy phong phú hơn, đẹp đẽ hơn. Nghị quyết 05-NQ/TW (tháng 11/1987) tiếp tục khẳng định “nền văn hóa mới Việt Nam xây dựng trên cơ sở của chủ nghĩa Marx - Lenin là một nền văn hóa xã hội chủ nghĩa đậm đà bản sắc dân tộc”, “văn học nghệ thuật phải không ngừng nâng cao tính đảng”, “để văn hóa, văn nghệ có thể làm tròn được chức năng cao cả của mình, các nhà hoạt động văn học nghệ thuật phải là những chiến sĩ của Đảng trên mặt trận văn hóa, văn nghệ, chăm lo bồi dưỡng thế giới quan Marx - Lenin và nhân sinh quan cách mạng, đề cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, với nhân dân…”. Về lĩnh vực sáng tác, trên cơ sở sự cởi trói tư tưởng, văn nghệ sĩ đã nhìn nhận, đánh giá lại hiện thực trước năm 1975, khắc phục cái nhìn đơn giản, xuôi chiều, máy móc, định kiến về con người, chiến tranh; đồng thời mạnh dạn mở ra những hướng tiếp cận hiện thực mới, thẳng thắn phản ánh, phân tích, lí giải có chiều sâu, có cá tính về những vấn đề nóng bỏng, gai góc của cuộc sống trên tinh thần dân chủ, nhân văn. Về lĩnh vực dịch thuật, nghiên cứu và giới thiệu, du nhập mĩ học, lí thuyết văn nghệ nước ngoài, chưa bao giờ tư tưởng văn nghệ nước ngoài (bao gồm cả tư tưởng mĩ học, lí luận marxist phi truyền thống) được giới thiệu ở ta sôi nổi, cởi mở, đa dạng như thời kì Đổi mới, làm thay đổi các quan niệm về chức năng, đặc trưng của văn học, chức năng của nhà văn. Về lĩnh vực phê bình văn học, nhiều vấn đề của mĩ học marxist chính thống được đưa ra thảo luận sâu sắc hơn, bên cạnh sự tiếp thu, vận dụng những khung tri thức mới, những phương pháp phê bình mới (thi pháp học, kí hiệu học, phân tâm học, mĩ học tiếp nhận…).
Bên cạnh những thành công, thành tựu to lớn đã đạt được, để lại nhiều bài học kinh nghiệm sâu sắc, văn học thời kì Đổi mới cũng có những giới hạn của nó (văn học nào cũng có giới hạn), mà theo chúng tôi có ba vấn đề nổi bật, liên quan mật thiết chẳng những đến việc đánh giá, nhìn nhận văn học cách mạng, mà còn cả việc xây dựng nền lí luận văn nghệ Việt Nam hiện đại hiện nay. Phủ nhận những vấn đề sau là phủ nhận đặc trưng của văn học cách mạng, của xã hội học văn học marxist, phủ nhận nền tảng kiến tạo văn nghệ Việt Nam: chủ nghĩa Marx - Lenin.
Thứ nhất, vấn đề tính giai cấp của văn học. Đây là một trong những vấn đề đặc trưng của mĩ học marxist. Theo các nhà marxist, văn học nảy sinh và phát triển trong xã hội phân chia giai cấp, đấu tranh giai cấp, không thể không biểu hiện hệ tư tưởng của giai cấp sản sinh ra nó. Điều này đúng không chỉ với văn học phong kiến, tư sản, vô sản mà còn đối với bộ phận sáng tác dân gian trong điều kiện xã hội có giai cấp - ở đó luôn hiện rõ các dấu vết ý thức hệ của giai cấp nhất định. Trong phong trào đổi mới văn học giữa thập niên 80, trên tinh thần dân chủ, cởi mở, khoa học vì sự phồn vinh của văn học dân tộc, vấn đề tính giai cấp của văn học đã được đưa ra thảo luận, đánh giá lại. Phương pháp kiến tạo của các diễn ngôn lí luận phê bình thời kì đó là đem đối lập tính giai cấp với tính nhân loại, cho rằng ở ta có một thời kì văn học, có một khuynh hướng xã hội học dung tục phủ nhận tính nhân loại, tính người trong khi đề cao tính giai cấp. Lâu nay, khi sơ kết, tổng kết những thành quả, những bước tiến về tư duy của văn học đổi mới, không ít người cũng quan niệm rằng, một trong những thành quả quan trọng là khẳng định tính người, tính nhân loại của văn học. Vấn đề này tưởng như đã xong xuôi, đã có “kết luận cuối cùng”, khiến cho nhiều người yên trí hay lầm tưởng rằng, luận điểm tính giai cấp của văn học đã lỗi thời, không còn khả dụng nữa và nhiệm vụ đầu tiên của các bộ môn văn học sử, phê bình, lí luận là lãng quên nó đi. Song thực tế (sau gần 30 năm nhìn lại) đây chính là một giới hạn của các diễn ngôn đổi mới. Không có tính nhân loại chung chung, trừu tượng, không có con người phi lịch sử quyết định bản chất của các diễn ngôn. Con người trong xã hội có giai cấp là con người giai cấp; lịch sử xã hội là lịch sử đấu tranh giai cấp, giai cấp là chủ thể kiến tạo mọi diễn ngôn, mỗi giai cấp có một loại hình diễn ngôn thể hiện nhãn quan giai cấp của nó, phục vụ lợi ích giai cấp của nó. Con người là con người của một hệ thống quan hệ xã hội, không có con người ở bên ngoài hệ thống quan hệ xã hội, con người bao giờ cũng do hệ thống quan hệ xã hội cụ thể nào đó quy định, do điều kiện giai cấp nhất định tạo nên. “Nhà văn thuộc bộ phận thiết kế lí tưởng cho một giai cấp nhất định và khi có mối đe dọa cả giai cấp thì nó sẽ trực tiếp đứng ra bảo vệ một cách kiên quyết” (Phương Lựu). “Xóa nhòa ranh giới giai cấp trong xã hội có phân chia giai cấp, từ bỏ quan điểm đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong phân tích các vấn đề xã hội và tư tưởng... có thể dẫn đến phản bội lợi ích cơ bản của cách mạng của chủ nghĩa xã hội... Các nhà tư tưởng văn hóa, nghệ thuật cách mạng một khi xa rời vận mệnh của đông đảo nhân dân cũng đứng trước nguy cơ nói trên. Thế hệ trẻ lớn lên, chưa từng trải qua gian khổ, khó khăn, chưa gắn bó với những giá trị đổi bằng xương máu của cha ông cũng dễ bị lóa mắt, mê hoặc bởi sự hào nhoáng, hấp dẫn của lối sống giàu sang xa lạ trở thành vong bản, vọng ngoại trở thành nô lệ trên thực tế và trong tư tưởng cho bọn thống trị, bóc lột bao giờ cũng là số ít trong mỗi dân tộc cũng như trong toàn nhân loại” (Trần Thanh Đạm).
Thứ hai, vấn đề tính đảng của văn học. Nói tính đảng là nói một cách cụ thể, thu hẹp, trực tiếp của vấn đề hệ tư tưởng. Cách nói cụ thể và thu hẹp này trong thực tế bị diễn giải theo hướng không tích cực, nhất là khi những diễn ngôn về tính đảng tỏ ra thiếu sự tinh tế, uyển chuyển. Thực chất của vấn đề tính đảng là vấn đề tư tưởng hệ. Hệ tư tưởng là “hệ thống quan điểm, tư tưởng và khái niệm do một giai cấp hoặc một chính đảng truyền bá. Các quan điểm chính trị, triết học, nghệ thuật, tôn giáo là những hình thức của hệ tư tưởng. Bất cứ hệ tư tưởng nào cũng đều là sự phản ánh của sinh hoạt xã hội, của chế độ kinh tế chiếm địa vị thống trị trong một thời kì nhất định. Hệ tư tưởng trong một xã hội có giai cấp là có tính giai cấp. Nó biểu hiện và bênh vực lợi ích của giai cấp này hay giai cấp khác đang đấu tranh” (Từ điển triết học). Đặt vấn đề văn học và tính đảng cũng chính là đặt vấn đề văn học và tính giai cấp. Văn học thể hiện tính giai cấp, tính hệ tư tưởng của giai cấp, diễn ngôn văn học chính là diễn ngôn tư tưởng hệ. Ngay trong thời kì Đổi mới, các văn kiện của Đảng ta một mặt điều chỉnh, đổi mới thiết chế văn nghệ nhằm tạo ra động lực cho văn học phát triển phồn vinh, đáp ứng nhu cầu mới của thực tiễn và phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, nhưng mặt khác cũng luôn khẳng định tính giai cấp, tính đảng của sáng tác văn học nghệ thuật, nghĩa là nền văn học, nghệ thuật của ta không thể xa rời hệ tư tưởng là chủ nghĩa Marx - Lenin. Hiến pháp sửa đổi năm 1992 của nước ta cũng khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Tuy nhiên, trên thực tế thì vấn đề tính đảng của văn học có phần bị coi nhẹ, thậm chí nếu có ai nói đến tính đảng của văn học thì gần như bị xem là người cũ kĩ, lạc hậu.  Cần thấy rằng văn học của mọi thời đại và ở bất kì đâu cũng đều là sản phẩm của các hệ tư tưởng thống trị. Nói về sự gắn bó biện chứng, nội tại giữa văn học (cũng như các lĩnh vực khác) và hệ tư tưởng không bao giờ là lạc hậu. Bởi thế, hiện tượng lảng tránh vấn đề tính đảng, tính giai cấp của văn học xảy ra ngay cả đối với một số người làm quản lí văn hóa văn nghệ hiện nay, là một vấn đề đáng suy nghĩ. Cần phải làm sao để chủ nghĩa Marx - Lenin không những giữ vai trò chủ đạo trong các hệ thống học thuyết, tư tưởng hệ được du nhập vào nước ta, mà phải làm sao để nó còn quyết định cơ bản sự kiến tạo nền văn hóa, văn học Việt Nam.
Thứ ba, vấn đề định hướng người đọc. Vấn đề này hiện nay được đặt ra một cách đầy mâu thuẫn. Trong tình huống đọc thông thường, thường ngày, người ta thấy định hướng người đọc (đọc cái gì, cái gì được đọc, nên đọc…) trở thành một biểu hiện của hiện tượng áp đặt, gò bó và cho rằng người đọc phải được tự do lựa chọn món ăn tinh thần. Nhưng ở tình huống người đọc trong hệ tư tưởng này có nguy cơ bị hệ tư tưởng khác thao túng, chi phối, điều khiển một cách lặng lẽ, người ta sẽ thấy nó trở nên cần thiết chừng nào. Một ví dụ đích đáng, có tính thời sự cho tình huống thứ hai, là trường hợp mà gần đây được một số người lên tiếng cảnh báo: tác phẩm Đạo mộ bút kí (do Nxb Thời đại và Công ti Bách Việt in ấn), một sản phẩm của hệ tư tưởng bên ngoài xâm nhập vào sự đọc của chúng ta. Nhà văn Trang Hạ cho rằng một tác phẩm như Đạo mộ bút kí xuất hiện trong sự đọc phổ thông là một vấn đề rất nhạy cảm, nó cho thấy “khâu dịch thuật và biên tập, thậm chí khâu kiểm duyệt và cho xuất bản đã xuất hiện một lỗ hổng về văn hóa và tư cách công dân của những người làm xuất bản tại Việt Nam. Nó bộc lộ ra, anh thiếu trình độ để biết nó là cái gì, có xâm phạm đến chủ quyền quốc gia và có đưa ra những thông điệp mới cho dân chúng hay không”. Trong thời kì Đổi mới, vấn đề định hướng người đọc không được đặt ra đúng với chức năng, sức mạnh như nó cần phải có. Đây là một giới hạn khác mà chúng tôi muốn đề cập. Định hướng người đọc, cái đọc, luôn là vấn đề cần thiết trong những quan hệ xã hội tư tưởng hệ mà chúng tôi đã nhắc ở trên 
L.T

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

 
Nhân vật Anna Karenina và sự soi chiếu từ nguyên mẫu đời thực

Nhân vật Anna Karenina và sự soi...

Lev Tolstoy - “con sư tử” của văn học Nga thế kỉ XIX - đã tạo ra những tác phẩm vĩ đại từ chất liệu tươi ròng của đời sống. Mỗi nhân vật được ông khắc họa luôn trở thành những điển hình nghệ thuật bất diệt, có tác động sâu đậm đến mọi tầng lớp xã hội. (NGUYỄN THỊ HỒNG​ HOA)

 
Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu thuyết của Gabriel García Márquez

Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu...

Cuộc đời của Escobar là khối mâu thuẫn lớn, bởi sự đối lập giữa thiện - ác, thiên thần - ác quỷ, nhân từ - máu lạnh, do đó, hắn có sự hấp dẫn lớn đối với quần chúng hơn bất kì tên trùm tội phạm nào. (PHAN TUẤN ANH)

 
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ - nguyên mẫu và nỗi oan của một con người

Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ -...

Trong các tiểu thuyết của tôi, nhân vật chính hay phụ đều được xây dựng từ những chi tiết rất thực mà tôi tích lũy được. Thường thì, chỉ từ một chi tiết rất nhỏ, bất chợt gặp trong đời sống mà tôi hình dung ra tính cách của một con người. (XUÂN ĐỨC)

Quảng cáo