Từ lời dạy của Bác Hồ

Thứ ba - 17/05/2016 03:11
.PHÙNG VĂN KHAI

Ê... Con chim nhông, con chim kơ tia, con công tung cánh
Này chim có hay rằng, ai thương ai quý Bác Hồ bằng người Tây Nguyên
Ơ, đỉnh núi Chư Prông bất khuất oai hùng
Dòng suối Adam trong suốt thành kính hát dâng
Bác Hồ sống mãi bên ta, trong mỗi nhà bên nương rẫy thân yêu, trong điệu sáo tiếng đàn T'rưng…

Âm hưởng của bài hát Bác Hồ sống mãi với Tây Nguyên cứ ngân nga suốt chuyến làm phim của chúng tôi dọc các tuyến biên giới theo chân các đội sản xuất của Binh đoàn 15 anh hùng.

 
images1088648 4 Cong nhan cong ty 715
Công nhân Công ty 715 - Ảnh minh họa

Tây Nguyên, nóc nhà của Đông Dương nằm trên cao nguyên Nam Trung Bộ mênh mông nắng gió. Trải nhiều biến đổi lịch sử, sự giao thoa của các tộc người không ngừng tăng lên qua các đợt di dân suốt hàng ngàn năm và vẫn đang tiếp diễn. Khi đất nước thống nhất, các dân tộc trên địa bàn Tây Nguyên càng xích lại gần nhau, chung lưng đấu cật, đoàn kết một lòng xây dựng đất nước.

Tây Nguyên kỳ vĩ, hoang sơ và bí ẩn. Ở đây có hồ trên núi. Có Đam San đi đòi cưới con thần mặt trời, có Ti Ăng nhân vật sử thi Mơ Nông, có Giông nhân vật sử thi Ba Na, có Duông nhân vật sử thi Xê Đăng với bao nhiêu huyền thoại. Thời chống Pháp, chống Mĩ, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên luôn thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”. Người Tây Nguyên với bản lĩnh và bản năng chiến đấu của mình đã góp phần tạo nên những chiến công đậm chất huyền thoại.

Sau chiến tranh, tiếp tục thực hiện lời dạy của Bác Hồ, những chàng trai, cô gái trăm miền lại cùng bà con các dân tộc khoác súng, trồng lúa, làm đường, bắc cầu, dạy chữ, cứu người, sinh sôi, ăn đời ở kiếp với Tây Nguyên.

Trong đội ngũ ấy, đến Tây Nguyên từ ngày đầu có những người lính Binh đoàn 15. Họ mang theo lời dạy của Bác Hồ đến với bà con các dân tộc Tây Nguyên.
Biên giới các tỉnh Tây Nguyên đầu những năm tám mươi.
Tàn tích chiến tranh dường như chưa ra khỏi mảnh đất này.

Đất đai xơ xác, cỗi cằn. Sự sống thưa vắng trên những vùng đất hoang hóa mênh mông. Mùa khô, nắng thiêu cháy mọi thứ trên mặt đất. Mùa mưa thối đất thối cát. Cuộc sống của bà con từng chênh vênh, khốn khó. Tháng rồi năm. Rồi lại từng năm trôi đi mà bà con vẫn chưa tìm được lối ra. Mơ ước tưởng như chỉ là để đấy. Người lớn ngày ngày bới đất, bới đá kiếm bắp, kiếm mì, đào củ mài, củ chuối tạm bợ để mưu sinh. Trẻ con lê la, chui lủi, tối tối lại về những căn lều rách nát. Cuộc sống của bà con dân tộc ở các làng diễn ra âm thầm, lầm lũi, và đói khát. Sao chiến tranh đi qua đã lâu mà vẫn không hết đói nghèo? Cái đói, cái nghèo đeo bám người Tây Nguyên đến bao giờ? Câu hỏi treo lơ lửng trên đầu nhân dân và những người lính Binh đoàn từng bám làng chiến đấu ở Tây Nguyên.

Ngày trước người lính được bà con cưu mang, nay không thể để bà con tiếp tục đói khổ, cuộc sống trở lại những ngày tăm tối. Lời dạy của Bác Hồ: “Chúng ta đều là con cháu Việt Nam đều là anh em ruột thịt sống chết có nhau sướng khổ cùng nhau no đói giúp nhau” lúc nào cũng văng vẳng trong suy nghĩ của nhiều người. Nắm bắt tâm tư ấy, Bộ Quốc phòng đã ra quyết định thành lập Binh đoàn 15. Những người lính Cụ Hồ lại có mặt ở Tây Nguyên nơi tuyến đầu với một trọng trách mới.

Thiếu tướng Nguyễn Hải, nguyên Tư lệnh Binh đoàn 15, người sớm có mặt trong những ngày đầu tiên thành lập Binh đoàn cho biết: “Năm 1985, Bộ Quốc phòng điều tôi làm Tư lệnh Binh đoàn 15. Tôi ra gặp đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Văn Tiến Dũng nhận nhiệm vụ. Đồng chí nói rằng ta trồng một triệu héc ta cao su. Tây Nguyên sẽ trồng 33 vạn héc ta. Đây là chủ trương lớn của Đảng do đích thân đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn chỉ thị. Cây cao su là cây chiến lược ở Tây Nguyên. Chính cây cao su sẽ thay đổi căn bản đời sống của bà con các dân tộc Tây Nguyên. Những người lính Binh đoàn 15 khi ấy xác định sẽ thực hiện bằng được chỉ thị của cấp trên. Khó nói hết những gian khổ cơ cực của buổi đầu để có được cơ ngơi như hôm nay. Câu chuyện diễn ra như một huyền thoại”.

Nơi biên giới hoang vu còn đầy rẫy bom đạn trong lòng đất, các nông trường, các đội sản xuất (sau này trở thành các Công ty của Binh đoàn 15) được thành lập. Những người lính vừa ngưng tiếng súng lại khoác ba lô đến làng cùng bà con lập đội sản xuất. Lao động khi ấy phần lớn là người Gia Rai, Ê Đê, Xê Đăng, Ba Na... tổ chức trồng những cây cao su, cà phê đầu tiên, đặt nền móng cho việc trồng cây công nghiệp vùng biên giới với khát vọng và niềm tin mãnh liệt.

Nhưng đất đai, thời tiết đã thử thách con người quá nghiệt ngã. Lương thực thuốc men thiếu thốn cạn kiệt. Niềm tin có lúc bị lung lay dữ dội. Hết khó khăn này đến khó khăn khác ập đến bủa vây người chiến sĩ và bà con.

Năm 1990, kinh tế trên toàn quốc vô cùng khó khăn, bà con vẫn phải bới đất lật cỏ mưu sinh từng ngày, mọi người làm việc cầm chừng vì thiếu đói. Những cây cao su mới trồng chết dần chết mòn. Trong ba năm đầu, cây chết, lương thực cạn kiệt, lòng người dao động, hàng nghìn lao động người dân tộc bỏ việc, chỉ còn vài trăm người nơi rừng hoang biên giới. Đó là những thời khắc cực kỳ khốn khó.

Trước tình hình đó, các cấp ủy đảng vào cuộc. Chẳng lẽ bao nhiêu hy sinh mất mát mà cuối cùng lại trắng tay. Chẳng lẽ vùng đất ba zan trù phú mênh mông không nuôi nổi con người. Những câu hỏi oằn xuống đôi vai người chiến sĩ. Sinh thời Bác Hồ đã từng dạy: “Không có việc gì khó. Chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển. Quyết chí ắt làm nên”.

Sau nhiều lần thất bại, từ thực tiễn, lãnh đạo Binh đoàn hiểu thấu một điều rằng muốn phát triển sản xuất trước tiên phải quan tâm đến đời sống người lao động đặc biệt là bà con các dân tộc vốn còn nhiều hủ tục chưa quen lối canh tác mới, chưa đặt niềm tin vào cây công nghiệp. Không quản khó khăn về đường sá, thời tiết, ngôn ngữ, bộ đội binh đoàn chia nhau đến từng đội sản xuất. Mỗi viên thuốc, gùi gạo, tấm vải, lít dầu là cả tấm lòng chia sẻ của bộ đội trong những ngày khó khăn, bệnh tật ấy.

Nỗi đau nào cũng qua đi, bao đói nghèo, thất học, bệnh tật bị con người đẩy lùi vào dĩ vãng. Đất hồi sinh, con người cũng hồi sinh. Bà con các dân tộc Tây Nguyên bây giờ khỏe mạnh. Bộ đội binh đoàn đã làm mới cuộc đời với một sức vóc vạm vỡ, rộng dài như cây rừng, đá núi.

Trong gần ba mươi năm, bộ đội Binh đoàn 15 có mặt ở Tây Nguyên cũng là ngần ấy năm người chiến sĩ Binh đoàn gắn bó ruột thịt với bà con. Sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau như lời dạy của Bác Hồ. Cũng trong ngần ấy năm, nhiều mô hình giúp nhau làm kinh tế giữa bộ đội và bà con, giữa người Kinh và người dân tộc triển khai mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, làm thay đổi suy nghĩ và những hủ tục lạc hậu của người dân Tây Nguyên.

Mô hình “Hộ gắn kết” giữa người Kinh và người dân tộc được các đội sản xuất trong toàn Binh đoàn thực hiện. Chỉ sau thời gian ngắn, mô hình này đã phát huy hiệu quả và đang được nhân rộng. Hàng nghìn“Hộ gắn kết” đã tạo ra một sức mạnh mới không chỉ cho sự phát triển kinh tế mà còn tạo sự ổn định bền vững trên mặt trận Quốc phòng - an ninh.

Tầng tầng cao su nối nhau xanh miên man các vùng biên giới. Mới ngày nào hoang vu xơ xác đầy cỏ dại. Những khu làng mới mọc lên san sát bên các trục đường. Trường học, trạm điện khắp các buôn làng ở Tây Nguyên. Những căn nhà khang trang mọc ra từ đôi bàn tay, khối óc người lao động Binh đoàn. Đó chính là chiến công của người lính, của người dân Tây Nguyên đối với tâm nguyện của Đảng, của Bác Hồ.

Sinh thời, Bác Hồ từng ao ước được “Đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Mơ ước giản dị ấy của Người hôm nay đã trở thành hiện thực ở Tây Nguyên. Ngày trước, người già ở đây chẳng nghĩ được sẽ có ngày có điện. Những đứa trẻ quen sống trên lưng mẹ nay được đến trường, đến lớp. Không ít trẻ ốm đau bệnh tật đã vĩnh viễn không được nhìn thấy ánh sáng mặt trời, không được nghe tiếng trống, tiếng chiêng, nói gì đến cơm ăn quần áo mặc. Chẳng bao giờ có chỗ vui chơi, có cô giáo dạy học. Bây giờ tất cả đổi khác. Ngay những người lạc quan nhất cũng không tưởng tượng ra ước nguyện của Bác Hồ đã trở thành hiện thực. Bộ đội và nhân dân đã thành một khối thống nhất đang cùng nhau hưởng ấm no hạnh phúc ở Tây Nguyên.

Việc khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho bà con các dân tộc Tây Nguyên là một việc làm dài lâu của bộ đội Binh đoàn Tây Nguyên. Ngày trước có những lúc sốt dịch cả làng, cả vùng không còn khỏe mạnh. Người sống không còn đủ sức để đi chôn người chết. Nay đã khác. Hàng trăm trạm y tế đã mọc lên nơi những người lính Binh đoàn đứng chân. Người dân được chăm sóc sức khỏe. Dân đã được ăn no, mặc lành, đến trường và được hưởng những dịch vụ y tế.

Không riêng gì ở Binh đoàn 15, nhiều người trong cả nước đã biết đến người đàn ông có tên RơMăh Mrao. RơMăh Mrao đã từ lâu trở thành tỷ phú được đưa lên báo, lên đài truyền hình. Nhưng với RơMăh MRao, việc được mặc quân phục, được trở thành người lính cụ Hồ mới là điều thích thú nhất. Từ một người Jơ Jai từng cầm đầu dân làng chống đối bộ đội đến trồng cao su ở làng Boong nay đã là đảng viên, đội phó Đội 13 là cả một bước ngoặt. RơMăh MRao đang trở thành điển hình mới của một Tây Nguyên mới.

Con chim nhông, con chim kơ tia, con công tung cánh/ Này chim có hay rằng, ai thương ai quý Bác Hồ bằng người Tây Nguyên… Lời bài hát của nhạc sĩ Lê Lôi như phảng phất trên các tầng rừng, theo sát mỗi bước chân người lao động, chất chứa tình cảm của đồng bào dành tình cảm cho vị Cha già kính yêu cũng chính là tấm lòng của bộ đội, tấm lòng của bà con nhân dân dành cho mảnh đất Tây Nguyên. Lớp lớp, lớp lớp, điệp trùng bước theo Người. Ánh mặt trời vinh quang muôn năm ngời sáng. Dân mình, nước mình tự hào có Bác Hồ. Người sống mãi cùng Tây Nguyên.

Hai mươi tám năm qua, phát huy phẩm chất cao đẹp bộ đội cụ Hồ, những người lính Binh đoàn đã cùng ăn, cùng ở, cùng làm với đồng bào Tây Nguyên. Cũng hai mươi tám năm, Binh đoàn đã được đồng bào Tây Nguyên cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ hết lòng như những ngày còn trong trận mạc. Đó là cội nguồn sức mạnh mang lại cuộc sống ấm no, thanh bình trên dải đất biên cương phía Tây của Tổ quốc. Đó cũng là niềm tự hào của người lính Binh đoàn khi thực hiện lời dạy của Bác Hồ. 

Từ những thành tựu Binh đoàn đã đạt được, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các đoàn thể Trung ương và địa phương đã coi đây là hướng đi đúng đắn, một chiến lược phát triển bền vững. Sự vận dụng tinh tế lời dạy và tư tưởng gần dân, gắn bó mật thiết với nhân dân của Bác Hồ. Mọi hoạt động của Binh đoàn luôn cùng phối hợp tốt với cấp Chính ủy, chính quyền, các đoàn thể địa phương, vận dụng nhiều nội dung hình thức như xây dựng các khu kinh tế quốc phòng, gắn điều chỉnh dân cư, tạo việc làm ổn định cho nhân dân. Nổi bật là giúp đồng bào nâng cao nhận thức, thay đổi tập quán, cách thức sản xuất.

Một trong những điều đặc biệt, khát vọng đặc biệt của rất nhiều người là dựng được tượng đài Bác Hồ trên đất Tây Nguyên. Thấy được nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân, sau thời gian dài ấp ủ, việc xây dựng tượng đài uy nghi đã được Bộ Tư lệnh Binh đoàn 15 thực hiện. Đây là nguyện vọng không chỉ của cán bộ, chiến sĩ Binh đoàn mà còn là ao ước của bà con các dân tộc Tây Nguyên.

Những người lính Binh đoàn đã xây dựng tượng Bác với một tình cảm và trách nhiệm rất cao. Sau một thời gian thi công, Lễ khánh thành tượng đài và dâng hương Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được tiến hành trọng thể. Bác như càng gần gũi và thiết thân hơn với bà con các dân tộc Tây Nguyên. Từ khi có tượng đài Bác Hồ, bà con nhân dân, các đoàn khách đến thăm quan, đặc biệt là cán bộ chiến sĩ, cán bộ Binh đoàn đã nhiều lần đến viếng thể hiện tấm lòng đối với Đảng, với Bác Hồ.

Tây Nguyên hôm nay bạt ngàn cà phê, cao su xanh miên man. Người lao động ở Tây Nguyên, không kể là người Kinh, Ba Na, Ê Đê, Gia Rai đều quyết tâm thực hiện lời dạy của Bác Hồ. Vượt qua những khó khăn, thách thức, sát cánh với bộ đội Binh đoàn xây dựng Tây Nguyên. Tây Nguyên hôm nay là mái nhà tinh thần, chở che, nuôi dưỡng những ước mơ, khát vọng. Thật diệu kỳ, từ những lời dạy của Bác Hồ, trên mảnh đất Tây Nguyên, Bộ đội Binh  đoàn 15 và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên đã thực hiện được những ước mơ và khát vọng của mình.
 
P.V.K


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

Quảng cáo