Kỉ niệm 65 năm Ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2011)

Thứ hai - 19/12/2011 20:51
CỚ SAO HỠI TẰM

Tùy bút của NGUYỄN CHÍ TRUNG


Khi cách mạng tháng 10 đã thành công, ở những thập niên đầu thế kỷ 20, không mấy ai tin các dân tộc thuộc địa có thể tự giải phóng trước lúc giai cấp vô sản chính quốc làm nên sự nghiệp giải phóng cho chính mình. Nhưng Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã khẳng định niềm tin đó. Lấy sức ta mà giải phóng cho ta. Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8 thắng lợi chỉ trong 15 ngày, từ 13 tháng 8 đến 28 tháng 8 năm 1945, một khoảng thời gian hết sức ngắn, tựa như “cái chớp mắt của lịch sử”. Thắng lợi ấy đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chính quyền công nông đầu tiên do Đảng Cộng sản lãnh đạo ở một nước thuộc địa.


Thực dân Pháp hung hăng như một con sư tử đói mồi sau đại chiến. Họ tuyên bố với thế giới: Trên đất đai thuộc địa rộng lớn của họ không có từ “giải phóng thuộc địa”. Họ xua quân đánh chiếm Việt Nam lần thứ 2. Họ gởi tối hậu thư đòi Quân đội giải phóng non trẻ của ta đầu hàng. Hơn nửa thế kỷ trước, năm 1873 chỉ cần 200 quân viễn chinh và sau đó năm 1882, chỉ cần 500 quân tấn công Hà Nội, Pháp đã buộc Triều đình nhà Nguyễn với hơn 5 ngàn quân tại chỗ phải nhanh chóng quỳ gối. Lần này, năm 1946, lại không thể như thế một phen nữa hay sao?

Pháp đã lầm to. Họ không hiểu rằng thời đại đã thay đổi. Mục tiêu của chiến tranh cách mạng, bắt nguồn từ mục tiêu của chính cuộc cách mạng ấy đã được xác lập. Đó là giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn liền với cách mạng vô sản, gắn liền với Chủ nghĩa xã hội.

Đêm 19 tháng 12 năm 1946. 20 giờ 3 phút. Đèn điện Hà Nội vụt tắt. Đại bác từ pháo đài Láng gầm lên.

Đến thăm lại di tích Pháo đài Láng hôm nay chắc ai cũng ngạc nhiên bởi hai khẩu pháo ngày ấy nhỏ nhoi và đơn sơ đến thế. Nhưng tiếng gầm đó là tiếng gầm của một dân tộc đã đứng lên, nòng cốt là công nông liên minh với trí thức, của đội quân yêu nước và cần lao quyết đánh trả sự xâm lược man rợ và xảo trá của kẻ thù. Tiếng gầm đó là tiếng gầm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, dù hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Mất nước là mất hết, mất luôn cả chế độ mới.

Một tác giả Pháp được chứng kiến cuộc đọ sức giữa quân ta và quân Pháp ngày 19 tháng 12 và những ngày sau đó ở Hà Nội đã viết rằng: Khi quân Pháp tiến công vào Bắc Bộ phủ, những người chiến sĩ Vệ quốc đoàn đã chiến đấu tới viên đạn cuối cùng trong tiếng hát và tiếng đàn măng-đô-lin.

Người chiến sĩ nhỏ tuổi nhất của Trung đoàn Thủ đô là em Trương Công Lũy, mới lên bảy. Lũy đã ném lựu đạn giết chết 3 tên lê dương.

Có nghe được chăng, giữa tiếng ồn ào rộn rã của Hà Nội nhộn nhịp hôm nay, tiếng đục tường ngày ấy, 65 năm trước, để khoét những lỗ thủng ở hàng trăm căn nhà, tạo thành con đường xuyên phố trong lòng Hà Nội, con đường giao hòa của những trái tim yêu nước.

Trong hàng trăm câu chuyện anh hùng, có câu chuyện của một cô gái tuổi 20, mắt một mí, mặt trái xoan, lúc nào cũng mặc bộ quân phục ka ki, đầu không rời chiếc mũ sắt. Cô trốn nhà ở lại với Hà Nội, đi trinh sát và khâu vá quần áo cho anh em.

Một lần đi trinh sát, cô vào một ụ chiến đấu ở ngã tư Hàng Mã - Hàng Đồng mượn một khẩu súng leo lên gác bắn tỉa. Cô hạ gục một tên Pháp. Khi tụt xuống định trả súng thì một loạt liên thanh của bọn Pháp từ Cống Đục bắn tới. Cô ngã xuống. Biết cô khó bề qua khỏi, trạm quân y hỏi cô: Em tên là gì? Cô chỉ trả lời: Em tên là Hoàng Hà, rồi từ từ nhắm mắt.

Ngày khởi nghĩa cướp chính quyền, Ủy Ban Việt Minh Đà Nẵng đặt cho Tòa Đốc Lý của Pháp ở Đà Nẵng tên mới là Tòa Nhân Dân.

Tiểu đội trưởng Tiếp phòng quân Nguyễn Đỏ, sau khi chiến đấu bảo vệ tòa Tòa Nhân Dân suốt một ngày, hết đạn, hết lựu đạn và chai xăng, từ tầng hai, đã lao xuống, dùng báng súng đánh giáp lá cà với địch. Chí gan góc truyền qua người gan góc. Non sông mây gió sững sờ trông.

Lời kêu gọi tòan quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh

*
* *

Phần tôi, mẹ sinh ra trong một đêm giao thừa. Đầu lọt ra trước, pháo giao thừa chưa nổ. Hai chân lọt ra sau khi pháo giao thừa mới nổ một hai bánh. Ông thợ cắt tóc bên vách tường nhà số 2 phố Lý Nam Đế, ngày đó còn thuộc quyền quản lý của Viện kiểm sát, thường hay hỏi thăm ngày sinh tháng đẻ của khách.

Ông ấy bảo: Nếu bác sinh vào đêm giao thừa năm Tỵ đó, thì đời khổ. Mà sinh ra vào những giờ đầu năm Canh Ngọ, con ngựa năm Canh, mang trước cổ một thanh kiếm, phi nước đại thì kiếm phạt đứt cổ, còn đi lờ đờ thì chủ quất vào mông, thuở nhỏ xa nhà, lớn lên xa nước, tuổi về già mới trở về cố hương.

Tôi chỉ cười, nhưng trong bụng cứ nghĩ: Ông này mới quen mình mà bói đúng ghê. Mười một tháng, mẹ tôi không nuôi nổi tôi, gởi tôi cho bà. Bà nuôi tôi lên năm thì gởi tôi ra cho ông chú, ở nhờ để đi học. Bảy tuổi, tôi lại được ông chú chuyển ra ông bác, ở nhờ cho đến tháng 3/1945. Ông bác mất, gia đình ông bác kiệt dần, nạn đói đang hoành hành ở phía Bắc.

Tôi liền tìm về với mẹ, chun đụt trong một căn lều, cánh cửa ban ngày mở ra để dọn sạp hàng, ban đêm đóng lại gài bằng một chiếc đòn tre bóng nhậy. Đó cũng là những ngày tôi được hiểu về cách mạng. Khởi nghĩa được mấy hôm, tôi làm liên lạc cho Ủy ban Việt Minh huyện, xin phép mấy anh ở huyện đi theo một đội tuyên truyền xung phong ở mặt trận rồi gia nhập Vệ quốc quân khi mặt trận Nha Trang - Ninh Hòa sắp vỡ.

Dòng đời là dòng sông không phẳng lặng. Có lúc tôi thầm nghĩ đời tôi như con thuyền nan nhỏ, từ một ven làng không tên trôi theo lũ. Sông còn có bến, dòng lũ lại không. Con thuyền đời tôi tròng trành buông mình giữa dòng xoáy, nước lút ngọn tre.

Năm 1964, đúng vào cơn lụt năm Thìn, trăm năm mới có một lần, tôi về phá “ấp chiến lược” ở Minh Thành. Lũ cứ cao dần, ngập đến mái nhà. Hoặc là chết trong cái rào vi bọn Mỹ và ngụy rào quanh “ấp chiến lược” hoặc tìm cách vượt qua rào vi để thoát lên vùng đồi cao phía Minh Long? Tôi cập rập chống chiếc bè chuối nhỏ đến gặp ông Bốn Đường bán mắm, có chiếc ghe bầu lớn.

- Anh Bốn ơi, không lẽ chịu chết na?
Anh Bốn Đường nhìn tôi, chăm chăm không nói.
- Anh Bốn ơi, hay là ta đổ hết nước mắm để lấy ghe chở dân?
Anh Bốn nuốt nước miếng đánh ực, không nói.
- Không đưa được dân lên Gò cao thì xóm mình chết hết thôi, anh Bốn!

Không có gì tàn bạo hơn trời mùa bão khi trút nước. Lúc ấy, trời cũng như Thượng Đế dìm thế gian trong nước lụt ngày xưa, thản nhiên, vô tư, vô cảm, không một chút lòng thương xót.
- Anh Bốn!
Tôi nói. Nước mắt hòa với nước mưa lạnh buốt.

Anh Bốn Đường lội tới sát chiếc ghe bầu, trèo lên ghe. Anh dùng đôi tay lực lưỡng của người đi biển, bưng bổng từng vại nước mắm, đổ ụp xuống nước lũ mấy chục vại. Anh gằn từng tiếng, giận dữ và đau đớn:
- Ghe không đây!
Chiếc ghe bầu của anh Bốn Đường đã đưa người già và trẻ con vật lộn với nước cuốn, tấp vào Gò cao.

Đến được Gò cao, một tiếng thét, cũng hung dữ như lũ:
- Mấy người nhà giàu! Đổ gạo vào đây, để nấu cơm mang cho người già và trẻ nhỏ ăn!
Mưa và gió vẫn táp vào mặt phía trước và lưng trần phía sau. Tôi thầm nói: Anh Bốn Đường ơi! Tôi biết ơn anh!
Thôn Minh Thành từ đó trở thành cái bến cho thân đời còn xanh lá của tôi.

*
* *

Không chỉ có Minh Thành. Con thuyền đời tôi, đi qua trên một trăm trận đánh, được gặp mấy ngàn con người, ban đầu xa lạ, nhưng vui buồn trong đói no, trong bom đạn đã bện chặt nhau thân thương như ruột thịt. Mỗi túp lều, mỗi xóm nhỏ, mỗi đơn vị, mỗi căn hầm đào âm trong lòng đất mà tôi được đến là một bến đậu của thuyền đời. Mỗi bến đậu là một nơi nương tựa nồng ấm bồi đắp thêm cho cho tôi niềm tin và nghĩa lớn.

Trong trăm ngàn thứ bận rộn của kháng chiến trường kỳ, có được một chút rảnh rỗi, dù ngắn và ngắt quãng, tôi lại ngồi viết về các bến đậu ấy, dưới ngọn đèn dầu đỏ quạch. Những con người ở bến cho tôi niềm say mê để tôi làm ra cái riêng tôi, bằng đời họ và với máu họ.

Có một lần cơ quan hết gạo. Anh Đức dẫn một đoàn cán bộ đi lấy gạo. Gạo rẫy chứ không phải gạo đồng bằng. Đến nơi ông thủ kho mà anh em thường gọi đùa là “to hơn thủ trưởng” lạnh lùng nói: Chu cha, mấy anh à, kho hết gạo nửa tháng nay rồi!
Chúng tôi rời kho, ỉu xìu. Đói quá, từ lúc mang chiếc gùi không ra đi. Trên đường về, sau mấy ngày ăn rau, đi ngoài cứ xanh lè như ruột nhuộm dương. Anh Đức nói:
- Ông Trung ơi, chịu khó chạy vô cái nóc kia, xin ít bắp.

Tôi đi vội vào cái nóc ven đường. Nóc là một xóm nhỏ ở miền núi. Chiều rồi. Tôi năn nỉ:
- Có bắp cho bọn tui một gùi, nếu không, bọn tui mượn. Mùa tới tỉa bắp được, tui sẽ gùi đến trả.
Có nóc nào no, thời ấy. Bà con nhìn tôi từ đầu đến chân. Đôi mắt vàng, nước da bủng. Một bà già leo lên sàn, lọ mọ một lúc rất lâu rồi mang xuống một gùi bắp.

Tôi cõng gùi bắp ra đường. Tôi đặt gùi bắp xuống đất trước những cặp mắt bỗng sáng bừng.
- Tui mượn được một gùi đây. Tui hứa mùa rẫy sau mình trả.
Hồi đó, cái gì cũng thực. Sống thực và chết thực. Không thực không sống nổi, không làm việc nổi, không ăn ở với nhau nổi. Không kẻ nào sống thử, “sống nháp” mà có thể sống chung. Cái giả dối và ươn hèn lộ ra ngay như cái kim để trong túi áo.
Thực như nhân dân và người chiến sĩ, thầm lặng chiến đấu và bình thản hy sinh.

Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ dày xéo tơi bời nước Mỹ bao nhiêu thì cuộc kháng chiến chính nghĩa của chúng ta lại nâng cao lồng lộng lương tâm và phẩm giá, vang xa và sâu thẳm, đánh thức một thế hệ vì Việt Nam trên toàn bộ trái đất. Vẻ đẹp ấy bao la và tiềm ẩn chỉ có thể nhận ra bởi vẻ đẹp trong chính tâm hồn mình, mà tâm hồn riêng mình lại được gây dựng bởi tâm hồn nhân dân.

Nhưng cơ quan đâu có đóng nguyên một chỗ. Tính ra mười mấy năm đánh Mỹ, phải dời cơ quan hai chục lần có thừa. Đến ngày giải phóng Đà Nẵng, tót hết về xuôi. Đến nay gùi bắp mượn, nào tôi đã trả!

Ở rừng và sống trong dân, cái gì cũng phải dựa vào dân, cũng xin ở dân. Dân thương mới có. Đất để ở, cây rừng để làm nhà, lá mây để lợp, ngọn nước đầu nguồn để uống, khúc suối bằng để đêm đêm thả lưới bén, một nền an ninh kỳ lạ giữa vòng vây. Có gì để trả cho đủ ơn nghĩa sinh thành. Nào đâu chỉ một gùi bắp.

Có người thích nói: Chiến tranh đi qua, đau khổ còn ở lại. Do đau khổ triền miên của mấy đời nô lệ, một cổ ba tròng, không có một tấc đất cắm dùi, cần lao vẫn kiếp cần lao tôi đòi, cho nên nhân dân phải đứng lên làm chiến tranh chính nghĩa. Đã kháng chiến thì có hy sinh. Không có hy sinh thì không có ngày toàn thắng. Cuộc chiến tranh chính nghĩa trường kỳ chỉ để lại đau khổ ư?

- Cuộc chiến tranh chính nghĩa ấy đã để lại cho ta một giang sơn độc lập và thống nhất toàn vẹn, ruộng đất cho dân cày, quyền làm chủ cho người lao động, chính quyền về tay nhân dân. Bà mẹ Việt Nam đau khổ nhưng rất đỗi tự hào. Người mẹ Mỹ đau khổ nhưng biết bao dằn vặt vì con mình cầm súng cho bọn cường quyền áp bức làm những điều phi nghĩa đối với một đất nước lương thiện xa tít.

Không phải chỉ còn nợ một gùi bắp! Lớp người viết văn ngày ấy và lớp người kế tục - thế hệ viết văn ngày nay và mai sau - còn nợ ở cuộc chiến tranh chính nghĩa trường kỳ của chúng ta những món nợ nặng hơn núi. Món nợ ấy vô hình mà hiện hữu, có thể thấy được, nghe được, trực tiếp đong đếm và ghi lại bằng những chứng từ rậm rạp như rừng thiêng. Cái đã qua vẫn còn đó, mỗi ngày đều bắt gặp. Tùy theo lòng dạ mà nó ghim chặt hay phai mờ và biến dạng trong lãng quên.

Nghệ thuật là nét đẹp vô ngần của dân tộc được các nghệ sĩ tài năng khắc họa. Bởi vậy, được trả món nợ ấy là hạnh phúc. Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ. Cớ sao suốt một đời ăn dâu lại không nhả ra tơ, hỡi tằm?

4-12-2011
NGUYỄN CHÍ TRUNG


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo