Một thoáng lính tăng

Chủ nhật - 23/10/2011 01:00
Trong chuyến về nguồn tìm hiểu truyền thống bộ đội Tăng - Thiết giáp, chúng tôi đã được nghe Thiếu tướng Lê Xuân Tấu, Anh hùng lực lượng vũ trang, nguyên Tư lệnh Binh chủng Tăng - Thiết giáp, người trực tiếp tham gia trận Tà Mây, Làng Vây tháng 2 năm 1968 kể về trận đầu ra quân của bộ đội Tăng - Thiết giáp. Đó là cuộc hành quân bằng bánh xích dài nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh (hơn 1000km) mà kẻ địch, với rất nhiều trang thiết bị do thám hiện đại vẫn không phát hiện được. Đây là trận ra quân thắng giòn giã của bộ đội Tăng - Thiết giáp và có sự hiệp đồng của các binh chủng, khẳng định vai trò và sức mạnh của binh chủng Tăng - Thiết giáp trong việc đánh đột kích, thọc sâu và hiệp đồng tác chiến với các binh chủng khác.

Người tướng già lặng đi khi nói đến những kỉ niệm, những người đồng đội đã ngã xuống. Ông lấy ra một mô hình xe tăng, giảng giải cho thế hệ trẻ về phương pháp ngụy trang của xe tăng trong trận ra quân đầu tiên của bộ đội Tăng - Thiết giáp. Từ chiến thắng Làng Vây đã đặt nền móng cho khẩu hiệu truyền thống của Binh chủng Tăng - Thiết giáp: “Đã ra quân là đánh thắng”.


Trong cuộc trò chuyện với Thiếu tướng, Chính ủy Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp Nguyễn Đức Cường, cả hội trường lặng đi khi anh nói đến những chiến công và hi sinh của đồng đội. Anh nói đến nắm cơm cháy của kíp xe tăng 377 trong trận chiến Đắc Tô - Tân Cảnh trên mặt trận Tây Nguyên ngày 24/4/1972. Hình ảnh chiếc xe tăng 377 dưới sự chỉ huy của thiếu úy Nguyễn Nhân Triển trưởng xe, tả xung hữu đột giữa vòng vây khép chặt của xe tăng địch. Xe tăng 377 đã bắn cháy 7 xe M41 của đối phương và cả kíp xe đã hi sinh anh dũng. Khi tìm thấy các anh, đồng đội còn tìm thấy nắm cơm bị cháy đen các anh mang theo khi hành quân chưa kịp ăn. Cảm giác nhoi nhói nơi lồng ngực, các anh đã nằm lại núi rừng Tây Nguyên, hòa vào non sông Tổ quốc, nơi các anh đã chiến đấu đến giây phút cuối cùng, cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh.


Tìm theo những chiến công của bộ đội Tăng - Thiết giáp, chúng tôi lên đường thăm Lữ đoàn tăng 201 tại thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, Hà Nội. Đường lên Xuân Mai vào buổi sáng mùa thu, những đồng lúa xanh rì còn hơi mờ một chút sương sớm, và khi đã đứng giữa một khoảng đồi xanh những bóng cây, không nghĩ mình đang đứng trong doanh trại một đơn vị xe tăng đầy những sắt thép lạnh lùng. Màu xanh của cây lá, núi rừng yên bình, hòa dịu bên những cỗ xe tăng oai hùng. Lữ đoàn xe tăng 201 được thành lập ngày 18/11/1971, ban đầu là Trung đoàn xe tăng 201 và đến ngày 25/10/1973, Trung đoàn xe tăng 201 có quyết định trở thành Lữ đoàn tăng 201. Trong chiến tranh chống Mỹ, các đơn vị thuộc Lữ đoàn đã chi viện, tham gia nhiều trận đánh, ghi được nhiều chiến công. Năm 2001 Lữ đoàn được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang thời kì đổi mới và cũng là một trong những đơn vị dẫn đầu trong toàn quân về mọi mặt, luôn được các đơn vị bạn đến tham quan, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm.


Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện cởi mở với kíp xe 206, trung đội tăng 20, đại đội 7 tiểu đoàn 3 ngay tại thao trường. Đó là trưởng xe: trung úy Chu Hải Quang; lái xe: thượng úy Phạm Xuân Đà; pháo thủ: thiếu úy Nguyễn Đình Thông; nạp đạn: thiếu úy Phạm Minh Tuấn. Chu Hải Quang là người Phú Thọ có bố cũng là lính xe tăng, từng bị thương ở chiến trường Campuchia. Anh tâm sự, khi còn nhỏ thường được nghe bố kể những câu chuyện đầy xúc động, hấp dẫn về những người lính xe tăng anh hùng, tình yêu với bộ đội tăng cứ lớn dần lên trong anh. Mơ ước được trở thành người chiến sĩ xe tăng cũng ngày càng mãnh liệt và anh đã quyết định trở thành người lính xe tăng giống như người cha thân yêu của mình. Tình yêu với lính tăng thật tự nhiên giản dị, từ chính mái nhà và người thân, vì thế mà bền chặt, lắng sâu. Và muốn biết tình yêu của các anh với “người bạn sắt thép” thế nào, chúng tôi đã đề nghị được mục kích tận nơi “nội thất” của cỗ máy oai hùng. Khi mũ công tác đã ngay ngắn, thận trọng từng bước “thâm nhập” xe tăng, trực tiếp sờ nắn cần lái, ống ngắm, nòng pháo và yên lặng vài phút để hòa cảm xúc bên trong “cọp sắt”, cảm nhận bầu không khí nóng bức trong một không gian chật hẹp, chúng tôi chợt hiểu thêm sự vất vả của chiến sĩ xe tăng. Quang nói thêm, hôm nay trời mát, vào thu rồi như thế còn khá dễ chịu, những buổi diễn tập dưới nắng nóng mùa hè còn vất vả hơn nhiều, các thành viên của kíp xe tăng, ai cũng mang nhiều vết sẹo trên mình vì phải thường xuyên hoạt động trong môi trường chật hẹp, toàn sắt thép.


Tác giả cùng kíp xe tăng 206


Dựa lưng vào mũi chiếc T55, thượng úy lái xe Phạm Xuân Đà, người được mệnh danh là “bác sĩ xe tăng” nhớ lại kỉ niệm lần hành quân cơ động cách đây ít lâu. Hôm ấy mưa trắng trời, qua hai khe hở của kính nhìn, chỉ thấy mù mịt một màn mưa giăng, thi thoảng một cành cây bất thần hiện ra quệt sàn sạt trên nóc. Đang đi, xe bỗng hẫng một cái, người chúi nhủi về phía trước, một màu nâu thẫm của bùn đất choán toàn bộ tầm nhìn. Nước từ bên ngoài theo khe hở bắt đầu chảy vào trong xe và cả kíp xe tăng phải vận dụng mọi phương cách để khắc phục sự cố. Phạm Xuân Đà bảo những tình huống như thế với những người lính tăng không phải hiếm, có những lần xe bị trục trặc, phải ăn dầm nằm dề ngoài bãi cả chục ngày để khắc phục. Khi nghe tôi bảo rằng quả thật người lính tăng, dù suốt ngày tiếp xúc với sắt thép nhưng chất lãng mạn của họ thì khó có binh chủng nào đuổi kịp, bằng chứng là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Hữu Thỉnh vốn xuất thân cũng là bộ đội xe tăng, và hai vị tư lệnh binh chủng, một trước đây và một hiện nay là Đoàn Sinh Hưởng và Phạm Trung Kiên cũng là những nhà thơ, thì Phạm Xuân Đà mỉm cười. Anh không lý giải ý kiến của tôi nhưng lại kể về những lần khi cho xe vượt qua đỉnh đồi cao, khi ấy hoàn toàn lái bằng cảm giác, bởi trước mắt là một khoảng trời xanh vời vợi. Lúc đó thì không nghĩ gì đâu mà phải tập trung tinh thần để điều khiển xe, khi về nhà nghĩ lại giây phút ấy, thấy cũng có cái gì đó như là cảm xúc dâng dâng… Lan man chuyện gia đình, anh kể, vợ anh - một cô giáo cấp ba cũng rất yêu màu xanh áo lính. Tình yêu ấy có từ thuở nhỏ qua những câu chuyện mà chú của cô, hiện vẫn còn đang công tác trong quân đội kể cho cô nghe. Đó cũng là một trong những yếu tố thuận lợi để anh phát huy truyền thống “đã ra quân là đánh thắng” để chinh phục “mục tiêu”. Ánh mắt lấp lánh, anh tâm sự, với anh, hạnh phúc nhất có lẽ là khoảnh khắc sau mỗi lần hành quân vất vả, ngồi dựa vào thành xe tăng hay nằm trên bãi cỏ, ngửa mặt nhìn trời gọi điện về cho gia đình và được nghe hai con tranh nhau hát Năm anh em trên một chiếc xe tăng… Bài hát ấy, chính vợ anh đã dạy cho các con.


Khi đã mục kích những cỗ xe tăng hùng dũng và hiểu rằng để vận hành, điều khiển chúng không phải dễ dàng chút nào, mong muốn được tìm hiểu nơi đào tạo ra những sĩ quan chỉ huy và kíp xe tăng chuyên nghiệp, chúng tôi có chuyến ngược về miền trung du Tam Đảo, Vĩnh Phúc thăm Trường Sĩ quan Tăng -Thiết giáp và Trường Trung cấp Kĩ thuật Tăng - Thiết giáp.

Đường lên Tam Đảo, Vĩnh Phúc xanh rì, những khóm hoa bên đường đang độ vào thu, tươi rói trong ánh nắng vừa dịu. Trung du có những thứ rất riêng mà đồng bằng hay miền núi không có được. Một cảm giác vừa thanh bình, yên ả khi đứng trong khuôn viên rợp bóng cây của Trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp, “cái nôi” đào tạo ra những người lính tăng thiện chiến. Ngôi trường đã có lịch sử gần 50 năm (trường thành lập ngày 22/6/1965) là nơi đào tạo sĩ quan chỉ huy chiến thuật tăng và thiết giáp cấp phân đội, trình độ cử nhân quân sự, bậc đại học và cao đẳng cho quân đội


Chúng tôi về trường ngay sau ngày khai giảng và trên nét mặt giảng viên, học viên, ai cũng hồ hởi bước vào một năm học mới trên một ngôi trường giàu thành tích, tựa lưng vào dãy núi Tam Đảo thơ mộng. Tiếp chúng tôi, hiệu trưởng, đại tá Phạm Văn Ất bằng một chất giọng đặc trưng vùng chiêm trũng Hà Nam kể về truyền thống nhà trường. Trong buổi giao lưu, anh đã “cháy” hết mình, anh say sưa với những bài dân ca của vùng quê chiêm trũng Hà Nam và đọc thơ. Những cử chỉ rất gần gũi, lãng mạn, đời thường của người chỉ huy, huấn luyện ở một mái trường dường như chỉ biết tới sắt thép, súng đạn. Thế mới biết, ở môi trường nào, người chiến sĩ xe tăng cũng không thiếu chất lãng mạn, nghệ sĩ, bất kể là công việc nặng nhọc, khó khăn bội phần.


Là trung tâm nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ Tăng - Thiết giáp của quân đội, các hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường luôn được đẩy mạnh. Chúng tôi đã được tham quan tìm hiểu những công trình nghiên cứu khoa học phục vụ cho việc huấn luyện như: Súng kẹp nòng 23 ly bắn thay pháo trên xe tăng trong huấn luyện; nguyên lý hệ thống máy nói P124 trên xe tăng; phim diễn tập chiến thuật vòng tổng hợp đại đội, ứng dụng công nghệ mô phỏng… và nhiều bộ giáo trình tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy, huấn luyện. Hơn 46 năm xây dựng và trưởng thành, nhà trường đã đào tạo, bồi dưỡng, cung cấp cho binh chủng và toàn quân hàng vạn cán bộ chỉ huy, cán bộ kỹ thuật có phẩm chất, năng lực toàn diện, có trình độ kỹ thuật, chiến thuật, góp phần xây dựng lực lượng Tăng - Thiết giáp của quân đội ngày càng lớn mạnh. Năm 2009 trường vinh dự được phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang thời kì đổi mới.


Thượng sĩ Hoàng Minh Phương, học viên lớp 35DH2 đã kể cho chúng tôi câu chuyện tình đầy chất lãng mạn của người lính xe tăng. Khi Phương vừa nhập học Trường sĩ quan Tăng - Thiết giáp, trên đường trở về thăm nhà, trong chuyến xe tốc hành liên tỉnh anh đã gặp một cô gái rất dịu dàng dễ thương cùng chuyến xe. Chỉ trong chớp mắt, hai bên đã bắt được “tín hiệu” của nhau và bắt đầu những lời tâm tình hẹn hò. Chàng học viên xe tăng và nàng bắt đầu trao đổi thư từ với nhau. Qua một thời gian tìm hiểu đối phương, giờ “G” đã đến, phát huy truyền thống của binh chủng “Đã ra quân là chiến thắng”, Phương ngỏ lời yêu và thực hiện đúng chiến thuật: “thần tốc táo bạo”. Chàng học viên Trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp đề nghị “đối phương” trả lời ngay sau “phát súng” đầu tiên. Em trả lời luôn, có nhận lời yêu anh ngay trong hôm nay hoặc cùng lắm là đến ngày mai thôi. Bọn anh là lính tăng - thiết giáp, hành quân thần tốc, không có nhiều thì giờ để lưỡng lự, chần chừ, chậm trễ một chút là địch xông đến tiêu diệt liền.


Và trong một cảm giác rất lãng mạn và có phần hơi e ấp khi bị “đối phương” tấn công dồn dập “phủ đầu”, cô gái đã nhận lời yêu chàng lính xe tăng mạnh mẽ, lãng mạn. Nhưng tình yêu trong thế kỉ 21 không thể đi với tốc độ “cua bò”, một ngày không nhìn thấy nhau, không được nói lời yêu thương thì… không thể chịu được. Nhưng người chiến sĩ trong môi trường quân ngũ thì không phải khi nào cũng có thể thực hiện được điều đó, nhưng khó khăn thế nào cũng phải có cách, chàng lính tăng không chịu khuất phục một cách dễ dàng. Trong ngày lễ kỉ niệm truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, cô gái đã trao tặng người yêu cuốn sổ nhỏ để ghi chép tâm tình và chàng học viên sĩ quan xe tăng đã nảy ra một sáng kiến rất hay. “Em à, cuốn sổ em tặng cho anh, nhưng anh muốn nó là sở hữu chung của chúng ta. Anh giữ một nửa, em một nửa, một nửa anh viết những tâm tư tình cảm của anh và một tháng sau khi chúng ta gặp nhau, em lại giữ cuốn sổ và viết những tình cảm của em”. Và cứ thế cuốn sổ truyền đi, truyền lại, nuôi dưỡng một tình yêu giản dị của người lính. Một lần, đến sinh nhật người yêu nhưng Phương bận việc không thể liên lạc ngay được, phải gọi mấy cuộc điện thoại qua phòng trực ban, cô gái mới chịu nhấc máy nhưng nàng vẫn hoàn toàn im lặng, chàng học viên lại phải trổ tài “dân vận” của mình: trình bày, thanh minh, rồi đến thuyết phục nhưng cô gái vẫn… im lặng. Tưởng như đã thất bại đến nơi rồi nhưng tinh thần của lính tăng vẫn không hề nao núng, anh vẫn kiên nhẫn “mai phục” và cuối cùng cô gái cười òa và bảo rằng: “Em thử sức kiên nhẫn chịu đựng của các anh thôi, anh không phải thanh minh nữa, khi chấp nhận yêu bộ đội, lính tăng các anh, em đã dự đoán được tình huống này rồi. Anh gửi cho em một nụ hôn say đắm qua điện thoại là được”. Và hôn… Đến đây, tôi lại nhớ một câu nói rất dí dỏm của một chiến sĩ ở Lữ đoàn 201 trong việc chinh phục bạn gái. Rất xe tăng: “Húc đổ, đè bẹp nhưng không… nghiền nát”. Tình yêu của người lính luôn lãng mạn, mạnh mẽ và thần tốc, giống một khẩu lệnh rất duyên của lính tăng: “Đạn xuyên, tăng chính diện, tạm dừng, bắn!”


Còn Đỗ Huy Trình và Bùi Khánh Trung quê ở Vĩnh Phúc, đều là học viên sĩ quan tăng năm thứ 4 thì lại có lý do khác để đến với Binh chủng Tăng - Thiết giáp . Các anh chọn làm người lính xe tăng bởi từ khi còn nhỏ đã vô cùng ngưỡng mộ những anh bộ đội tăng mạnh mẽ kiêu hùng trong các trận chiến ác liệt. Tình yêu với lính xe tăng bắt đầu từ… chiếc mũ rất “oách” của “Năm anh em” đã thôi thúc họ phấn đấu để được đứng trong cái tập thể mà “một người đau thì tất cả không ăn”. Trình và Trung đều chưa có người yêu nhưng cả hai tủm tỉm cười bảo rằng, có lẽ sau này chúng em sẽ chọn một cô giáo, bộ đội thường có duyên với những cô giáo. Tôi nhìn những gương mặt trắng trẻo thư sinh của Đỗ Huy Trình, Bùi Khánh Trung, thầm cảm phục ý chí sẵn sàng nhận những nhiệm vụ nặng nề của người lính xe tăng. Cho dù Trình đã từng khóc khi thi trượt môn bắn súng AK và Trung cũng từng như vậy khi có môn học chưa đạt được kết quả như ý. Khóc không phải vì yếu đuối mà khóc cho những khát khao hi vọng chưa đạt được, biết rằng có thêm những giọt nước mắt, mồ hôi chảy trên thao trường thì khi ra chiến trường sẽ bớt xương máu, hi sinh. Những lần thất bại nho nhỏ đó giúp các anh trưởng thành hơn, vững vàng hơn. Hai anh hồ hởi khoe rằng khi về thăm gia đình thì ai cũng ngạc nhiên, những cậu học sinh ngây thơ ngày nào, giờ đã trở thành những anh bộ đội chững chạc, nghiêm trang. Môi trường quân đội nói chung và lính xe tăng nói riêng đã rèn luyện các anh rắn rỏi, tự tin hơn. Khi cùng nhau dạo một vòng quanh khuôn viên đơn vị, nghe chuyện của các anh, chúng tôi hiểu thêm vì sao những người lính tăng lại có sự đáng yêu như vậy. Đó là sự kết hợp của sức mạnh vũ khí, thao trường và sự lãng mạn cần thiết trong đời thường. Những người như Phương, Trình, Trung sẽ là những sĩ quan chỉ huy đủ tâm, đủ tài, sẵn sàng với những nhiệm vụ thử thách sắp tới.


Tạm biệt trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp, chúng tôi tiếp tục đến nơi trực tiếp “cho ra lò” những kíp xe tăng thiện chiến: Trường trung cấp Kỹ thuật Tăng - Thiết giáp, nơi đào tạo ra những nhân viên chuyên môn kỹ thuật Tăng - Thiết giáp có trình độ trung cấp và sơ cấp cho các đơn vị Tăng - Thiết giáp trong toàn quân; hạ sĩ quan chỉ huy thành viên kíp xe tăng - thiết giáp, kíp xe BMP-1; tổ chức tập huấn, thi thợ bậc cao, thi giữ cấp lái xe cho nhân viên ngành Tăng - Thiết giáp toàn quân.


Trò chuyện với học viên lái xe tăng Nguyễn Thanh Vàng quê ở Quảng Ngãi, một trong những người ở xa nhất trong đơn vị, mới biết Vàng từng là thợ điện trước khi vào quân ngũ, và những kinh nghiệm khi làm thợ điện đã có những thuận lợi nhất định cho anh khi tham gia khóa học lái xe tăng. Làm việc với những thiết bị điện của xe, anh tự tin hơn và đôi khi còn giúp đỡ được các học viên khác. Vàng tâm sự, cái khó khăn nhất khi điều khiển xe tăng là vấn đề tâm lí, tâm lí sợ không vượt qua được những cung đường, chướng ngại vật khó, nhưng khi mình đã rèn luyện, khắc phục được vấn đề tâm lí thì công việc sẽ tốt hơn nhiều. Nhìn ánh mắt đầy nghị lực và quyết tâm của Vàng, chúng tôi tin rằng anh sẽ vượt qua được những khó khăn để trở thành một người lái xe tăng chuyên nghiệp.


Chúng tôi cũng tranh thủ đi tham quan những mô hình học cụ, sáng kiến kĩ thuật đem lại kết quả thực tiễn cho nhà trường và có tính ứng dụng cao cho các đơn vị Tăng - Thiết giáp trong những năm qua như các sáng kiến: Cải tiến khóa nòng pháo 100mm; giá nâng hạ hộp số xe T54, T55; mô hình pháo 73mm trên xe BMP1… Trên con đường chạy ngang dọc khuôn viên nhà trường, giữa một miền trung du đầy nắng, các chiến sĩ, học viên đang tích cực tăng gia trên những mảnh đất của mình. Những đôi bàn tay rắn chắc, mạnh mẽ quen tiếp xúc với cần lái, kính ngắm, ống pháo lại sẵn sàng nâng niu dịu dàng, mềm nhẹ những hàng rau non ngay hàng, thẳng lối.


Những người lính tăng ở thời nào cũng vậy, cho dù chưa có điều kiện đi hết các vị Tăng - Thiết giáp trong toàn quân nhưng chúng tôi có một niềm tin mạnh mẽ rằng, dù ở đâu và bất cứ khi nào, người lính Tăng - Thiết giáp vẫn luôn là những người lính thiện chiến, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ được giao và “Đã ra quân là đánh thắng”


UÔNG TRIỀU



 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo