Nhật ký Nguyễn Văn Hợi - Kỳ 2: Trận đầu, chiến đấu hụt

Chủ nhật - 29/04/2012 10:09
Nhật ký Nguyễn Văn Hợi : Từ Khe Sanh đến Thành cổ Quảng Trị
Kỳ 2: Trận đầu, chiến đấu hụt


Ngày 14 tháng 6 năm 1968

Chiều hôm qua, ngày 13-6-1968, đã biết thế nào là bom đạn khi cùng với Tảo ở Trung đội 3 từ trận địa về thì máy bay nó ném bom trúng ngay đoạn đường chúng tôi đi. Nghe tiếng rít của bom và tiếng rú của phản lực, hai chúng tôi chỉ còn biết nằm úp mặt xuống đất. Những tiếng nổ rung chuyển trời đất, khói lửa ngút trời, đất đá vung vãi tứ tung, cây to đổ rầm rầm, đất cát phủ đầy trên lưng áo. Dứt tiếng bom nổ, tôi hỏi Tảo: Có việc gì không? Và thật hú vía, hai anh em chúng tôi, chẳng thằng nào bị gì cả. Con đường mòn chẳng còn một tí dấu vết. Hai chúng tôi vừa gạt cây cối chắn lối đi, mò mẫm mãi mới tìm được đường về cứ. Đây là đêm đầu tiên suýt chết vì bom Mỹ.

Đêm nghe anh Hưng nói chuyện về việc phấn đấu vào Đảng, tôi mới tự nhận thấy thời gian qua, sự phấn đấu của bản thân có những lúc còn chưa liên tục. Chính trị viên nói: Bắt đầu vào chiến đấu phải cố gắng thật nhiều. Tối đến, tôi cùng đại đội trưởng chuyển ra chốt của bộ đội ở mỏm A và B cao điểm 622. Ngày qua, cối 82 của Đại đội 12 cũng bắn thử mấy quả nhưng không trúng mục tiêu. Hơn 11 giờ đêm mới ở trên chốt về 519.

Ngày 16 tháng 6 năm 1968

Đêm nay, cùng đại đội trưởng đi với anh Hoành, Đại đội trưởng Đại đội 18 ra trận địa tìm vị trí đặt 12,7 ly và đại liên rồi lên chốt luôn. Cái đường mòn hôm qua lên chốt giờ không còn nữa. Bom đạn của địch cày xới lung tung. Chúng tôi phải vạch lau lách theo đồng chí Hùng, trinh sát mặt trận, mà đi (ở 622 và 689 toàn lau lách và cây con). Pháo của địch veo véo trên đầu. Thỉnh thoảng địch lại bắn pháo sáng. Tất cả chúng tôi nằm úp xuống đất như những khúc gỗ và có những lúc phải nhảy xuống hố bom, hố pháo bên cạnh, mỗi khi pháo địch bắn gần.

Khi gần lên đến đỉnh 622, máy bay lại thả ngay một loạt bom tọa độ cách chỗ anh em chúng tôi vài trăm mét. Ở trên chốt nhìn lên 689, địch lên công sự nhiều, đường chim bay cũng khoảng bảy, tám trăm mét thôi, chúng phì phèo hút thuốc trông ngứa mắt. Gió nồm nam thổi, bỗng thấy mình thanh thản khi đã bắt đầu bước vào những cuộc chiến đấu sinh tử. Lúc về 519, sở chỉ huy đặt ở đó. Qua cao điểm 400, nhìn xuống làng Vây 1, làng Vây 2 rất rõ. Lúc về đến trận địa cối 82 thì đã khuya, ngủ luôn ở đây. Tôi, anh Tỉnh mò xuống một cái hầm chữ A cũ. Muỗi nhiều quá, chúng bay loạn xì ngầu như đàn ong vỡ tổ. May mà anh Tỉnh mang theo lọ thuốc chống muỗi. Hai anh em xoa thuốc vào tay, vào chân, vào mặt, vào cổ rồi lăn ra ngủ.

Ngày 23 tháng 6 năm 1968

Bắt đầu chứng kiến cái chết của đồng đội. Để chuẩn bị chiến trường, mặt trận điều xuống cho Đại đội 1 một trinh sát giỏi. Đồng chí thông thạo địa hình như lòng bàn tay của mình và nhanh nhẹn như con sóc. Đồng chí tên là Trần Phi Hùng, 24 tuổi, quê ở Đức Trung, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Đồng chí là một trinh sát giỏi, đã ở địa bàn này 3 năm. Vừa buổi sáng đồng chí Hùng còn phổ biến cho mấy đồng chí trinh sát của trung đoàn và tiểu đoàn kinh nghiệm tiền nhập vào căn cứ của Mỹ. Và ngay đêm 16-6-1968, khi ở trên chốt 622, tôi vừa giơ cái bi-đông lên định ngửa cổ uống nước thì đồng chí Hùng ngăn tôi lại và nói: Đồng chí giơ bi-đông lên trong điều kiện đêm tối như thế này, cái ánh sáng phản từ kim loại làm bi-đông, chắc là đồng chí ăn pháo của địch ngay. Chúng tôi kính phục kinh nghiệm trận mạc của đồng chí. Thì đầu giờ chiều nay, ngay ở cứ 519 một loạt pháo của địch bắn vào đã cướp đi tính mạng của đồng chí Hùng. Mảnh pháo găm đầy người, đồng chí vùng vẫy, thều thào, kêu uống nước rồi tắt thở. Nhìn cái chết của đồng đội, mà lòng trào dâng căm thù.

Ngày 26 tháng 6 năm 1968

Cùng đơn vị lên chốt trên cao điểm 622, ở mặt trận Khe Sanh này chắc sẽ khó quên lắm. Những cái tên Tà Cơn, làng Vây, Khe Sanh và bao cái tên khác của miền Tây Quảng Trị, cách đây vài tháng thôi nó còn có vẻ xa lạ, khiến chúng tôi ước ao sớm được đến với nó. Nhưng giờ đây ước mơ đó đã thành sự thật. Tôi đã trở thành một chiến sĩ giải phóng quân, người chiến sĩ đang ngày đêm cùng đơn vị vây ép quân Mỹ ở 689. Những tên Mỹ nào liều lĩnh ra khỏi hầm, lập tức bị súng bắn tỉa và cối 82 của chúng tôi tiêu diệt.

Bom đạn L19, VO10 và B52 đối với chúng tôi bây giờ quen thuộc lắm rồi. Những tối lên chốt cùng đại đội trưởng, nghe tiếng cắt gió của đạn cối, đạn pháo không còn bị hoảng loạn như những ngày đầu. Những lúc như thế, cảm thấy mình lớn lên nhiều. Đêm cuối tháng ngồi bên sườn hố bom Mỹ trên đỉnh 622, đếm sao rơi và quan sát động tĩnh của lính Mỹ trên 689, nghe gió nồm nam thổi bỗng thấy xôn xao.

Tôi kiếm được cái hầm Triều Tiên cũ (nghe nói là hầm của một đồng chí cán bộ tiểu đoàn), tôi và Khoát cũng chỉ là những "ông chủ" thừa kế. Cũng vì thế mà gỗ trong hầm mối mọt nhiều, đêm nằm thỉnh thoảng cát và mùn gỗ lại đổ xuống mặt. Bữa ra ngoài chốt về, khi qua chỗ đại đội cũ ở, nhặt được một cái tăng rách. Mang về lót lên phía trên, thấy thế là tạm ổn. Còn phần ánh sáng, cái đèn pin của tổ được phát ở Ngọc Trạo, Thanh Hóa bị mát không thể dùng được. Mỗi khi có việc sờ đến nó, bực không chịu nổi. May mà vừa rồi, ngoài hậu cứ gửi vào cho 2 bi-đông dầu ma-zút. Làm một cái đèn dã chiến, bỏ cái bật lửa ra dùng thế là đoàng hoàng. Sau một ngày công tác, vào hầm yên trí làm một giấc đến sáng.

Ấy thế mà cũng có những đêm đang ngủ say, phải choàng tỉnh dậy vì pháo của địch nổ ngay trên nóc hầm. Mảnh pháo rơi rào rào, thế rồi một lúc sau lại lăn ra ngủ. Nhưng cái nhà này hay phản chủ lắm, ông chủ nào mà suốt ngày ở trong nhà thì nó sẽ cho ông chủ béo ra và lên sơn ngay (sốt rét, mặt phù xanh rớt). Biết vậy nên chúng tôi rất ít ở trong hầm ban ngày.

Kỳ thực những ngày này, công việc của anh em liên lạc quá nhiều, chúng tôi còn đâu thời gian chui vào hầm nữa. Suốt ngày chạy đi, chạy về đưa tin, đưa lệnh rồi trực điện thoại. Tôi còn phải làm thêm nhiệm vụ, chiều chiều dịch báo cáo để báo cáo tiểu đoàn. Những ngày này tôi chỉ ước ao, tụi Mỹ ở 689 nống ra. Tôi từ 519 vận động ra chốt, dọc đường gặp địch, tiểu liên xả hàng loạt. Đồ dùng dạo này của chúng tôi phong phú lắm. Anh em trinh sát đi làng Vây lấy về nhiều vô kể, thịt hộp thuốc lá, dùng toàn đồ của Mỹ. Nhưng lúc tối về, nằm trong hầm, lại nhớ Hoa Huyền (cô bạn gái của ông Hợi - PV). Trong trái tim lại sống lại phút giây hai đứa phải xa nhau ở chân núi Thanh Tước. Hai đứa chúng tôi hẹn hò thi đua, xem đứa nào được vào Đảng trước. Có lẽ, Hoa Huyền sẽ vào Đảng trước tôi. Lý tưởng của tuổi trẻ lại giục giã, thôi thúc tôi phải phấn đấu bằng được. Đêm nay, Chính trị viên Hòa và Khoát lên chốt. Tôi mang súng lên hầm đại đội trực điện thoại. Anh Thưởng hôm nay ốm nặng quá. Tôi nằm thức nghe Đài Tiếng nói Việt Nam, khi gần hết chương trình "Tiếng thơ" thì chuông điện thoại réo vang. Tôi vồ lấy máy, tưởng đánh nhau, hóa ra Chính trị viên Hòa báo không về mà ngủ lại trên chốt.

Ngày 28 tháng 6 năm 1968

Sáng vừa ngủ dậy là cập rập rồi. Chiều nay, tổ liên lạc cử một người sang đi chiến đấu với đồng chí Phạm Ngọc Khánh, Trung đội trưởng Trung đội 1 (vì có sự cố, khi Trung đội 1 được lệnh đi đánh 689 thì Đại đội phó Mai Viết Cát, người được phân công trực tiếp chỉ huy trận này lại bị cơn sốt rét ác tính quật ngã, nên đồng chí Trung đội trưởng, Trung đội 1 Phạm Ngọc Khánh được trung đoàn bổ nhiệm chức đại đội phó).

Tôi và Khoát, hai anh em tranh nhau đi, cuối cùng ỷ vào là tổ trưởng tôi tranh đi được. Thế là với súng đạn, gạo rang, xẻng tôi chạy gấp sang 519. Sau gần 40 phút chạy đến hết hơi mới sang đến nơi. Tôi vừa thở, vừa nói báo cáo anh Khánh, tôi được lệnh sang đi với anh. Anh Khánh nói ngay: “Anh có thằng Ghi rồi, thôi Hợi để lần sau đi vậy (Ghi là sinh viên Trường Trung cao Cơ điện, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, nhập ngũ 12-1967 cùng với tôi). Dọc đường hành quân, anh Khánh vẫn dùng Ghi làm liên lạc cho trung đội. Thất vọng đến phát khóc nhưng làm sao được. Tưởng được đi chiến đấu lại không được đi. (Và trong trận đánh này, đồng chí Ghi, người thay ông Hợi làm liên lạc cho anh Khánh đã hy sinh - PV)

Ngày 29 tháng 6 năm 1968

Đêm 28 rạng 29-6-1968, hai tiểu đội của Trung đội 1 và tiểu đội của đồng chí Nhỡ, ở Trung đội 2, dưới sự chỉ huy của Đại đội phó Phạm Ngọc Khánh, tập kích 689 (chỉ tiếc là tôi lại không được đi). Cả đêm, đơn vị hồi hộp, nóng ruột chờ tin chiến thắng. Gần sáng, cả cao điểm 689 rộ lên tiếng súng. Trận đánh đầu tiên của chúng tôi bắt đầu rồi, nhưng do đánh không có trinh sát, không nắm được địa hình và cách bố trí lực lượng của địch, nên trận đánh mở màn thương vong khá cao, hy sinh 13 đồng chí: Khánh, Ba, Nhỡ, Hồi, Bằng, Bảo, Lữ, Quý, Lượng, Bình (Bình quê ở Vĩnh Yên), Ghi, Ảnh… và một số đồng chí bị thương: Anh Đàn, Sinh ở Vĩnh Yên; Vi, Thức, An và một đồng chí công binh tăng cường.

Ngày 30 tháng 6 năm 1968

Đêm nay, cả Đại đội 10 của tôi được lệnh tập kích 689. Anh Sơn (người miền Nam), Đại đội trưởng Đại đội 11 sang thay anh Thưởng ốm đi viện. Tôi được phân công đi chiến đấu cùng với Đại đội trưởng Sơn. Cả đại đội hành quân sang đến chỗ Đại đội phó Cát đã gần 9 giờ tối. Tôi lại phải ở lại với Huy để đợi bộ phận thông tin của tiểu đoàn tăng cường. Đi với thông tin đến 519 thì lại hết dây điện thoại. Tôi điện về hỏi chỗ anh Hưng, tiểu đoàn lệnh cho dùng máy 2 oát để liên lạc. Tôi vội vã chạy vào 689 cho kịp đơn vị. Đến chân đồi C, cao điểm 622 thì gặp đồng chí Hồng và mấy đồng chí nữa bị thương vì pháo kích của địch, đang nằm rên rỉ trên đường. Tôi liền để đồng chí Hợi (Trung đội 3) dẫn đồng chí Hồng và các đồng chí bị thương nhẹ quay lại. Còn tôi, tiếp tục đến chân cao điểm 689 thì gặp được Đại đội trưởng Sơn và lao ngay vào đào công sự trên đó. Vì đại đội trên đường vào thì bị ngay một loạt pháo bắn trúng đội hình, đồng chí Khoa, Trung đội phó Trung đội 1 và đồng chí Kỉnh hy sinh. Gần 10 đồng chí khác bị thương. Bởi thế, kế hoạch tập kích 689 đêm 30-6 không thực hiện được.

Kỳ 3: Đây là sự "đầu hàng" của quân giải phóng!

Nguồn: Qdnd (Hồng Hải)


 
Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Xếp hạng: 4 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo