Nhật ký Nguyễn Văn Hợi: Từ Khe Sanh đến Thành cổ Quảng Trị (Kỳ 1)

Thứ sáu - 27/04/2012 15:03

Cựu chiến binh, thương binh hạng 1/4 Nguyễn Văn Hợi ở số nhà 550, đường Trường Chinh, thành phố Nam Định cho tôi xem cuốn nhật ký chiến đấu của ông trên chiến trường Quảng Trị với các địa danh đã đi vào lịch sử như: Khe Sanh, Đường 9 – Nam Lào, Thành cổ Quảng Trị, rồi nói: Cho đến bây giờ, đã 40 năm trôi qua mà tôi vẫn còn bàng hoàng, ngơ ngác khi chợt hỏi, giữa làn bom đạn dày đặc như thế làm sao mình vẫn sống, vẫn vượt qua và cùng đồng đội đi đến chiến thắng?

Trân trọng giới thiệu tới bạn đọc một số trích đoạn trong “Nhật ký chiến đấu” của Cựu chiến binh Nguyễn Văn Hợi để chúng ta có thể hình dung ra phần nào sự thật cùng chiến công và sức chịu đựng phi thường giữa mưa bom, bão đạn mà người chiến sĩ giải phóng đã trải qua...

Kỳ 1: Đường ra trận

Đôi nét về Nguyễn Văn Hợi


Những dòng nhật ký mà chúng tôi lược trích dưới đây là nhật ký của một người lính đặc biệt, thương binh hạng 1/4 Nguyễn Văn Hợi, nguyên trợ lý quân lực Tiểu đoàn K3-Tam Đảo huyền thoại với lời thề “K3 Tam Đảo còn, Thành cổ Quảng Trị còn”. Ông là người đã trải qua những trận đánh giáp lá cà với quân thù trên chiến trường Khe Sanh, Đường 9 – Nam Lào, rồi theo đại quân tiến về giải phóng thị xã và Thành cổ Quảng Trị tháng 4-1972. Tiểu đoàn K3-Tam Đảo của ông có vinh dự đặc biệt, là đơn vị trực tiếp chốt giữ trong Thành cổ Quảng Trị qua 81 ngày đêm lịch sử, bi tráng, hào hùng, ác liệt, đầy hy sinh và bất tử của “mùa hè đỏ lửa” năm 1972.

Nguyễn Văn Hợi cũng là một trong hơn 10 chiến sĩ cuối cùng của Tiểu đoàn K3-Tam Đảo đã chấp hành lệnh rút lui chiến thuật ra khỏi Thành cổ vào đêm ngày 15-9-1972. Cuốn nhật ký của ông có sức sống kỳ diệu, cùng ông vượt qua những trận bom đào, pháo trộn trong 81 ngày đêm chốt giữ trong Thành cổ. Thói quen ghi nhật ký trong những nẻo đường chiến đấu cũng như nhiệm vụ của người cán bộ phụ trách quân lực của ông đã giúp chúng ta hôm nay được đọc những dòng nhật ký chân thực về cuộc sống chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn trăm bề của người chiến sĩ nơi chiến trường.

Cựu chiến binh Nguyễn Văn Hợi (đi hàng đầu, ngoài cùng bên phải) cùng các bạn chiến đấu vào thăm lại Thành cổ Quảng Trị.

Ngày 29 tháng 4 năm 1968: Quỵ xuống là không đứng dậy được


Ngày hôm nay vẫn nghỉ ở trạm. Mấy bước chân nữa thôi là chúng tôi sang đất bạn Lào. Những lúc không đi trên mảnh đất quê hương như thế này, ai mà chẳng có tâm sự khiến người ta buồn vui lẫn lộn, xao xuyến trong lòng.

5 giờ kém 15 phút bắt đầu hành quân. Chạy nhiều lúc muốn tắt thở. Mồm mũi thở hồng hộc. Hai cái quai ba lô thì cứ xiết chặt lấy 2 vai. Phải cố nghiến răng mà chịu đựng, chỉ cần quỵ xuống thì chắc không thể đứng dậy được. Trời lại đổ mưa, đại đội trưởng lại đau bụng. Trời tối như bưng. Chỉ còn biết quan sát ánh lân tinh trên mũ người đi trước và bằng cảm nhận hơi thở và tiếng gậy chống của đồng đội mà đi.
Cựu chiến binh Nguyễn Văn Hợi (đi hàng đầu, ngoài cùng bên phải) cùng các bạn chiến đấu vào thăm lại Thành cổ Quảng Trị.

Anh em ngã huỳnh huỵch. Chúng tôi cứ thế mà đi cho đến gần 2 giờ sáng mới đến chỗ nghỉ. Trời càng ngày càng mưa to. Mò mẫm đến gần 30 phút mới mắc được tăng võng. Đoạn hành quân hôm nay xe ra, xe vào nhiều. Đến đúng chỗ nghỉ thì ngã một cái như trời giáng. Ngã vừa đau lại vừa bực vì đại đội trưởng không những không thương lại còn quát “Đi như đồ trẻ con ấy”.

Ngày 1 tháng 5 năm 1968


Đường hành quân hôm nay có lẽ khó khăn, gian khổ hơn tất cả những con đường mà chúng tôi đã đi qua. Phải liên tục vượt qua những ngọn núi đá vôi cao chót vót của miền Tây Quảng Bình. Dốc thì dựng đứng, đá tai mèo nhọn hoắt. Nhiều khe đá chỉ vừa lọt một thân người, phải lựa mãi cái ba lô mới lọt được qua. Cuối cùng là phải vượt qua 2 cái thang gỗ. Lúc này người tôi muốn xịu xuống. Khát nước đến cháy cổ. Mồ hôi đổ ra như tắm. Vượt qua 2 cái thang, có lẽ người vừa bị cảm nên thấy mình run lên bần bật. Anh em ai cũng e ngại. Ai cũng động viên cố gắng vượt qua.

12 giờ trưa thì đến chỗ nghỉ. Người mệt rã rời.

Trời tối. Đường lại trơn, đến gần hầm Tiểu đội B40, trượt chân ngã một cái như trời giáng. May mà lúc đi lại mượn được anh Chi, Trung đội trưởng Trung đội 2 cái đèn pin. Xuống cùng với anh nuôi, Khoát, Thường, mò mẫm đưa được cơm lên thì đã hơn 10 giờ đêm. Nhiều tiểu đội nấu cơm xong đội mưa mò mẫm lại bị ngã đổ hết. Anh em đành bốc cơm dưới đất lên ăn tạm. Hình ảnh sâu sắc nhất là tiểu đội đồng chí Thành ở Trung đội 2, cả tiểu đội cởi truồng, rồng rắn mang được cơm từ suối lên đến chỗ ở thì lại trượt chân ngã đổ hết. Ăn tạm bát cơm ở nhà bếp của trạm giao liên rồi đi ngủ. Quần áo ướt hết. Đây là xã Thượng Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình.

Ngày 7 tháng 5 năm 1968

Hôm nay phải vượt qua 6 cái dốc, trong đó có 3 cái tương đương với đèo Ngang. Cái dốc đầu tiên leo muốn đứt hơi. Hơn 1 giờ chiều thì đến trạm. Thực phẩm lại hết. Chỉ còn ít rau khô với mì chính. Căng võng xong, xuống suối tắm thì L19 đến bắn phóng rốc két và ném lựu đạn xuống gần trạm. Sau đó phản lực đến ném tiếp 3 loạt bom. Tôi cứ thế chạy vội về hầm. Chiều vừa bưng bát cơm lên thì trời lại đổ mưa.

Ngày 10 tháng 5 năm 1968 – Gần mặt trận

Đường đi càng ngày càng khó. Máy bay trinh sát Mỹ suốt ngày bay lượn trên đầu. Ngay cả việc nấu ăn bây giờ cũng không đơn giản chút nào. Ngay chiều hôm qua, do qua loa đại khái mà cái nồi cơm của đại đội bộ đang sôi sùng sục phải bỏ ra để làm lại bếp. Chiều đi tắm giặt. Nước ít, đông người sử dụng nên có mùi hôi thối vô cùng. Cũng chẳng còn cách nào khác vì đây là chỗ duy nhất có nước. Giặt tạm, riêng cái áo xin được tý xà phòng giặt qua cái cổ. Rồi xuống tắm. Tôi phải cố gắng nhịn cả thở để cúi xuống gội cái đầu vì nước thối quá. May mà còn mẩu xà phòng nên mùi thối cũng đỡ đi một phần. Tóc tốt quá, về nhà nhờ anh em cắt hộ. Cắt tóc bữa nay thật đặc biệt. Tông đơ thì không có, anh em phải cắt bằng kéo. Nhưng cắt xong cái đầu cũng 5 thầy 3 thợ. Vì lúc đầu nhờ anh Trực cắt. Cắt được một lúc thì anh Trực lại phải đi làm việc khác. Đành ngồi chờ, sau gặp anh Sơn ở Trung đội 2 đi qua. Anh Sơn nhảy vào cắt tiếp. Cắt gần xong, trung đội lại gọi anh Sơn đi công tác. Đành lại phải ngồi chờ anh Trực đi công việc về rồi mới cắt tiếp và cạo mặt.

Ngày 27 tháng 5 năm 1968

Gần sáng khó ngủ, bỗng có liên lạc của trung đoàn xuống hỏi nơi nghỉ của ban chỉ huy tiểu đoàn. Linh tính của người lính nhắc bảo sắp chiến đấu rồi. 5 giờ sáng, ban chỉ huy đại đội được mời lên tiểu đoàn nhận lệnh, còn tất cả bộ đội tháo tăng võng chuẩn bị lên đường. Trời bỗng đổ mưa ầm ầm. Tiếng súng ở Khe Sanh dội về nghe gần quá. Hơn 10 giờ thì chúng tôi bắt đầu hành quân. Tạm biệt đại bản doanh mà chúng tôi vừa xây dựng xong (chúng tôi ở đây cũng được hơn 10 ngày). Hầm hố, bếp Hoàng Cầm vừa làm xong. Gần 11 giờ trưa thì đến trạm 10.

Ngày 29 tháng 5 năm 1968


5 giờ xuất phát. Đại đội hôm nay hành quân cuối đội hình của tiểu đoàn. Đoạn đường đi hôm nay căng thẳng (giao liên ước tính khoảng gần 30km), đi suốt 3 giờ chiều mới tới nơi. Nhiều đoạn qua trọng điểm phải chạy, chạy đến muốn tắt thở. Nếu lúc đó tôi chỉ cần ngồi xuống chắc là sẽ không thể đi được nữa. Một cuộc đấu tranh dữ dội, tiếp tục chạy cùng đồng đội hay ngồi lại, nhưng rồi ý chí vẫn chiến thắng, tôi không gục ngã. Mồ hôi vã ra như tắm, cái khăn mặt lúc lại vắt ra nước. 12 giờ trưa ăn cơm phụ xong, đồng chí Trụ, ở Tiểu đội cối 60 và mấy đồng chí nữa bị mệt, đi sau vẫn chưa đến.

Đơn vị tiếp tục hành quân, tôi và anh Hưng ở lại đón. Chỉ còn hai anh em ngồi lại giữa khu rừng bạt ngàn của tỉnh Sa-va-na-khet. Thấy buồn buồn, nhiều đoàn bạn đã đi hết rồi mà vẫn chưa thấy các đồng chí bị mệt đến. Tôi, anh Hưng quyết định quay lại. Đi 15 phút thì gặp họ, tôi cùng anh Hưng dìu đồng chí Trụ, mãi hơn 4 giờ chiều mới về đến chỗ nghỉ. Vết hắc lào ở bẹn hôm nay đau rát hơn.

Ngày 31 tháng 5 năm 1968

Sáng nay đi sau với anh Hưng cùng mấy đồng chí ở Trung đội 2 để dìu ông Quang. Ông này ngại khổ, tư tưởng không tốt. Sáng lúc hành quân, tôi cùng anh Hưng thuyết phục mãi ông ấy mới chịu đi. Đi được nửa đường, tôi, anh Hưng trao Quang về lại trung đội. Đến trạm phụ hơn 12 giờ trưa. Nghỉ tạm ở đây cơm nước để 5 giờ chiều tiếp tục vượt sông.

Hôm nay, Trương Văn Bào ở Sư đoàn 304, dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú trên cao điểm 425, ngày 5 và 6-4-1968, đến kể chuyện chiến đấu (sau này Trương Văn Bào được tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân). Ngồi nghe đồng chí Bào nói chuyện mà lòng thấy rạo rực, muốn được lao ngay vào trận để lập công. Ăn cơm xong cả đại đội lại phải rời đến bãi mới để mai còn vượt sông.

Ngày 3 tháng 6 năm1968

Dậy từ 4 giờ 30 phút sáng. Đi trước. Tối qua đổi được ít gạo nếp, được ăn bát cơm nếp thật nhớ đời. Chúng tôi bắt đầu rời đường giao liên, vòng xuống Quảng Trị. Dãy Trường Sơn lại sừng sững hiện ra trước mặt. Đường đi bắt đầu nhiều dốc, lại trống trải, L19 vè vè liên tục trên đầu. Có nhiều cái dốc cao, khi xuống hai gối run như múa.

Nhận thấy sự phấn đấu của bản thân hiện tại còn nhiều điều hạn chế, nhiều lúc nghĩ hơi chán nản, nhưng rồi lại tự nhủ, sắp bước vào chiến đấu, điều kiện phấn đấu chắc là sẽ có nhiều hơn.

Ngày 9 tháng 6 năm 1968

Thế là hơn 3 tháng hành quân đầy gian nan, thử thách, hôm nay tôi đã chính thức đến chiến trường. Ở sát ngay các cao điểm của Mỹ nên địch pháo kích liên tục. Tôi, anh Phương, văn thư đại đội, nằm chung (đồng chí Dương Quê Phương quê ở Tích Mễ, Tích Lương, Đồng Hỷ, Bắc Thái, có vợ là giáo viên cấp I, tên là Cúc; có 2 con nhỏ; đã hy sinh trong trận đánh 689 ngày 8-7-1968).

Nguồn: Qđnd (Hồng Hải)

Kỳ 2: Trận đầu, chiến đấu hụt



 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo