Ernest Hemingway: Phóng viên chiến trường kiệt xuất

Thứ ba - 19/06/2012 02:52
Khi nói về Ernest Hemingway, phần lớn người ta thường nghĩ ngay đến những kiệt tác văn học đỉnh cao của ông, mà quên mất rằng trước khi trở thành một “cây đa, cây đề” trong làng văn chương thế giới thế kỷ XX, ông đã là một phóng viên chiến trường kiệt xuất trong cả hai cuộc Chiến tranh Thế giới và chính cuộc đời lính chiến đã đưa ông đến đỉnh vinh quang văn chương sau này.


Năm 1917, Ernest Hemingway tốt nghiệp trung học ở Oak Park, Illinois, Hoa Kỳ và vì không muốn bước lên đại học, nên ông đã tới thành phố Kansas, làm phóng viên cho tờ báo "Ngôi Sao" (The Star). Cuộc đời phóng viên trong nước đã không mấy hấp dẫn được con người có cá tính mạnh mẽ, thích khám phá những miền đất lạ, Ernest Hemingway hướng sự chú ý của mình về châu Âu, nơi đang xẩy ra cuộc Chiến tranh Thế giới thứ I. Do ưa thích mạo hiểm, Hemingway đã tình nguyện tham gia vào Hội Chữ thập đỏ Hoa Kỳ và qua miền bắc Italy làm tài xế xe cứu thương. Vì Hội Chữ thập đỏ Hoa Kỳ đặt các trạm cấp cứu gần nơi trận tuyến, công việc của Hemingway là lái xe và phân phối cho binh lính các gói kẹo và thuốc lá. Hemingway đã ghi lại như sau : "Mỗi buổi chiều và buổi sáng, tôi bỏ đầy đồ vật vào túi đeo và mang theo hộp đồ ăn cùng mặt nạ chống hơi ngạt rồi chạy ra chiến hào, như thế là đủ vui rồi".

Sau Chiến tranh Thế giới thứ I, Ernest Hemingway trở về Hoa Kỳ và sau đó làm phóng viên cho tờ báo “Ngôi sao Toronto” (The Toronto Star) chi nhánh Paris và định cư ở đó. Trong thời gian làm phóng viên tại Paris, ông đã đi khắp châu Âu, gặp và phỏng vấn nhiều nhân vật danh tiếng như Lloyd George, Clemenceau và Mussolini,… Lúc này, Hemingway đã lưu tâm tới tình hình chính trị của Tây Ban Nha dưới triều đại Vua Alfonso XII. Ông đã đến miền đất này vào mùa hè năm 1931, sau khi chế độ quân chủ bị lật đổ và ông đã tiên đoán rằng cuộc nội chiến sẽ xẩy ra vào năm 1935. Đến năm 1936, khi cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha bùng nổ thực sự, Ernest viết và đọc các bài diễn văn để gây quỹ cho phe Cộng hòa của Tây Ban Nha. Đến năm 1937, Hemingway đã tới Tây Ban Nha để tường thuật về cuộc chiến bằng các bài viết cho Liên Hiệp các tờ báo Bắc Mỹ. Những trang viết nóng hổi của ông với tư cách là những phóng sự chiến trường thực sự đã gây tiếng vang trên khắp thế giới, đặc biệt là ở những vùng đang có chiến sự đang xảy ra. Khi Chiến tranh Thế giới thứ II bùng nổ, Ernest Hemingway đã tình nguyện đóng góp với Hải quân Hoa Kỳ bằng con thuyền đánh cá "Pilar" với công tác canh chừng các tầu ngầm Đức xuất hiện trong vùng biển Caribe. Nhưng mặt trận chính diễn ra tại châu Âu mới là nơi lôi cuốn Ernest Hemingway, khiến ông trở thành một thông tín viên và trưởng ban châu Âu của Tạp chí “Collier”. Do muốn tường thuật về cuộc chiến, Hemingway đã nhiều lần bay theo lực lượng Không quân Hoàng gia Anh trong các cuộc oanh tạc trên miền đất Pháp bị quân đội Đức chiếm đóng. Ngày 6/6/1944, Ernest tham dự cuộc đổ bộ của quân đội Đồng Minh lên bờ biển Bắc Âu và có mặt khi thành phố Paris được giải phóng khỏi quân đội Đức Quốc Xã.

Tại mặt trận chính, quân đội Italy bắt đầu tấn công. Khi bị quân Áo oanh tạc, Hemingway cùng bốn người tài xế khác trú ẩn trong một cái hầm nhỏ nhưng một quả đạn đại bác đã nổ rất gần, khiến cho ông bị thương nặng ở chân khi mới ở tuổi 19. Một người tài xế khác bị chết do không cầm được máu. Ernest được đưa về trạm y tế tiền phương sơ cứu, rồi được chuyển lên bệnh viện tuyến trên. Tại nơi này, chàng lại nhận được một tin mừng là sẽ được chuyển sang điều trị tại một bệnh viện Hoa Kỳ ở Milan, nơi mà nàng Catherine kiều diễm của ông đã được chuyển tới làm việc.

Ngày hôm sau, Ernest tỉnh dậy và được chẩn bệnh là mắc bệnh vàng da, lập tức ông tìm cách trốn tránh ra trận tuyến bằng cách uống rượu say sưa. Giấy nghỉ phép của Hemingway vì thế bị từ chối và chàng được lệnh phải ra mặt trận ngay sau khi bình phục. Ernest Hemingway trở lại mặt trận. Tới lúc này, quân đội Italy đang gặp thất bại. Hemingway đã lái xe cứu thương rút lui trước khi quân Đức đến. Để tránh bị tắc đường, ông rẽ sang con đường bên. Xe cứu thương bị xa lầy. Các tài xế đã bỏ của, chạy lấy người. Trong cuộc tẩu thoát này, họ suýt gặp các toán quân tuần tiễu của Đức. Có người trong nhóm bị chết vì bị bắn tỉa, cũng có người phải đầu hàng quân địch. Hemingway và nhiều người khác đi theo dòng người rút lui, tới được cây cầu bắc qua dòng sông Tagliamento. Tại phía bên kia của cây cầu, quân cảnh Italy đang lùng bắt các sĩ quan cao cấp, xét xử họ một cách sơ sài rồi đem ra xử bắn vì tội đào ngũ. Do biết nói tiếng Italy với giọng của một người nước ngoài, nên Hemingway đã bị bắt vì bị tình nghi là một kẻ gián điệp của Đức Quốc Xã. Chàng đã tìm cách lẩn trốn, nhẩy xuống dòng sông, bơi ra xa ngoài tầm đạn bắn tới. Chàng trú ẩn trong cánh đồng miền Venize rồi theo xe tải, đi tới Milan, nơi làm việc của Catherine. Nhưng tới nơi thì chàng mới hay biết là người yêu đang nghỉ phép tại Stresa, một tỉnh nằm trên bờ hồ gần biên giới Thụy Sĩ.

Nhiều người đã rất có lý khi cho rằng Hemingway là một phóng viên chiến trường thực thụ của cả hai cuộc Chiến tranh Thế giới và thời kỳ nội chiến ở Tây Ban Nha. Chính nhờ vào thời gian tham gia chiến trận với nhiều tư cách, đi nhiều nơi và quan hệ với nhiều lớp người khác nhau, mà Hemingway đã cho ra đời nhiều tác phẩm báo chí nổi tiếng, góp một phần không nhỏ vào sự thắng lợi trên chiến trường của quân đội Đông minh. Chỉ tiếc rằng do điều kiện chiến tranh, những bài báo của ông đến nay không còn lưu giữ được là bao. Mặt khác, có thể do sự nghiệp văn chương của ông sau này quá lừng lẫy mà người ta ít chú tâm đến những đóng góp của ông về khía cạnh báo chí (!?)

Ngay từ tiểu thuyết đầu tiên khẳng định danh tiếng của Hemingway là cuốn “Mặt trời vẫn mọc” (The Sun also rises, năm 1926), viết về câu chuyện của một nhóm người Mỹ và Anh sống ở Pháp và Tây Ban Nha. Họ là những người đã từng tham gia chiến trận trở về, thuộc “thế hệ lạc lõng” sau Chiến tranh Thế giới thứ I, nhưng lại sống rất thiếu ý thức đạo đức. Đặc biệt đến tiểu thuyết “Giã từ vũ khí” (A farewell to arms, năm 1929), với sự trải nghiệm của những năm tháng có mặt tại chiến trường, ông đã khắc họa một cách trung thực và sinh động về diễn biến của cuộc chiến và cùng với nó là số phận của những người lính vô danh. Đó là câu chuyện tình cảm động giữa một sĩ quan Mỹ và một cô y tá người Anh cùng phục vụ trong quân y tại Italy.

Bên cạnh một câu chuyện tình yêu, "Giã từ vũ khí" còn là một tác phẩm khảo sát chiến tranh. Hemingway viết rõ ràng và hiện thực về chiến tranh. Đây là sự tranh giành của những sức mạnh không thuộc về cá nhân, nhưng chính sự tranh giành đó đã tàn phá đi những lẽ phải thông thường. Sự nghiệt ngã của chiến tranh đã làm băng hoại hết tất cả những sở thích, ước muốn thông thường và chính đáng của những con người bình thường nhất. Tuy nhiên, tác giả đã có cảm tình và đứng về phía những người lính bình thường để chia sử những mất mát hy sinh mà bản thân họ phái gánh chịu trong những ngày tham gia chiến trận. Ernest không thảo luận về chiến lược và chiến thuật của chiến tranh, mà mô tả về số phận những con người cá nhân bị mắc vào cạm bẫy đau khổ và chết chóc bởi sự tàn khốc của cuộc chiến. Chiến tranh là nguyên nhân sâu xa làm thức dậy các bản năng sơ khai nhất của con người và chiến tranh đã tạo thành áp lực đè nặng lên đời sống tinh thần của những người trong cuộc. Tác giả đã mô tả rõ ràng các phản ứng của con người trước cái chết. Đó là lòng can đảm hay tính hèn nhát, các giá trị của con người thời chiến và con người thời bình và những người đứng ngoài cuộc chiến không thể hiểu nổi các vấn đề của trận mạc. "Giã từ vũ khí" vừa là một phóng sự - tiểu thuyết về chiến tranh, vừa là câu chuyện tình của hai người cần có nhau trong thời kỳ cuộc đời đầy biến động. Nó giống như một "Roméo và Juliet" thời chiến tranh vì nó chứa bên trong cường độ mãnh liệt và đầy chất bi hài kịch, diễn ra trên nền của cuộc chiến. Và hơn thế, "Giã từ vũ khí" là một minh chứng sinh động và hùng hồn về sự bất diệt của tình yêu. Chính trong những hoàn cảnh ác liệt nhất của cuộc chiến tranh, tình yêu thương giữa con người với con người càng đâm chồi nảy lộc và đẹp hơn biết bao nhiêu.

Là một trong những cây bút hàng đầu với cả hai thể loại báo chí và văn chương trong thời gian giữa hai cuộc đại chiến, Hemingway đã diễn tả cuộc sống của hai nhóm người trong các tác phẩm của mình. Đó là những con người mới thoát ra từ trong cuộc Chiến tranh Thế giới thứ I, ngay lập tức đã bị mất niềm tin vào những giá trị đạo đức mà họ hằng trông cậy, nên thường có thái độ yếm thế chỉ sống theo những nhu cầu xúc cảm cá nhân. Thứ hai là những người có tư chất giản đơn và xúc cảm hoang sơ, như những võ sĩ chuyên nghiệp và những tay đấu bò tót.

Như vậy, rõ ràng là Ernest Hemingway đi vào cuộc chiến và văn chương với cả hai tư cách: người lính và phóng viên mặt trận. Nhưng dấu ấn đậm nét nhất mà ông còn để lại cho chúng ta là những trang viết đầy tính thực tiễn của một phóng viên chiến trường kiệt xuất. Có thể nói chất liệu đời sống thực thi nhau ùa vào, làm đầy ắp các tác phẩm của ông dù là văn chương hay báo chí, khiến người đọc nhiều khi có cảm giác đến nghẹt thở vì những sự kiện luôn phải tìm cách chen chân tìm chỗ đứng trên các trang viết. Những trang viết của Hemingway rất khó để phân biệt rạch ròi đâu là báo chí, đâu là văn chương. Cảnh những người lính nơi mặt trận bị thương được đưa về hậu tuyến để chữa trị, trên người còn đẫm đầy bùn đất và máu; cảnh tháo chạy nhốn nháo, thác loạn của những người lính thất trận và cả những người dân thường vô tội khi chiến tranh bất ngờ ập đến; cảnh các nữ y tá, bác sĩ thay nhau túc trực và băng bó, chữa trị các vết thương cho thương binh,... trong các bài báo và tác phẩm văn học của Ernest là những trang viết có hàm lượng thông tin báo chí rất cao.

Trong một lần trả lời phỏng nhà báo nổi tiếng người Tây Ban Nha Norberto Fuentes, Chủ tịch Fidel Castro đã không ngần ngại bày tỏ cảm nhận cá nhân, đại ý là: Điều chủ yếu lôi cuốn sự lưu tâm của ông chính là tính thực tiễn hiện diện trong các tác phẩm của Ernest, cho phép độc giả có được cái nhìn thấu đáo mọi vấn đề rõ ràng và rành mạch. Ngoài những điều mô tả tuyệt vời về cuộc chiến đang diễn ra trên khắp thế giới, những vùng đất tận châu Phi xa xôi, Hemingway còn có biệt tài trong việc mô tả về biển cả với con mắt tinh tường của một nhà báo kiệt xuất. Nhưng cũng cần phải nhớ rằng Ernest Hemingway là một người có đầu óc tiên phong, giống như những người lính ngoài mặt trận. Tính tiên phong bao trùm thực sự lên mọi suy nghĩ và lời thoại trong các tác phẩm. Ông là hiện thân của một con người không bàng quan với thế giới “cố hữu” xung quanh, luôn nhận thức rõ trách nhiệm cá nhân của mình cần phải góp phần làm thay đổi thế giới đó. Thứ quan niệm mang tính tiên phong của một nhà báo - nhà văn chân chính.

Trong “Chuông nguyện hồn ai” ông đã đề cập tới cuộc sống gian khổ mà hào hùng của những người du kích. Nhưng điều đáng nói hơn cả là ý chí sắt đá toát ra từ những con người này, với đức tính của những người “thắng không kiêu, bại không nản”. Câu nói bất hủ của Hemingway: “Một con người có thể bị chà đạp hay tiễu trừ, nhưng sẽ không bao giờ là kẻ chiến bại” chính là lời hiệu triệu cho tất cả những chiến sĩ đấu tranh cho độc lập tự do, cũng như cho một nền báo chí và văn học sắc bén đầy tính thực tiễn và nhân văn trong mọi thời đại./.

26/05/2007
ĐỖ NGỌC YÊN




 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật của "Vương quốc mộng mơ"

Về hai nguyên mẫu và ba nhân vật...

Hầu hết truyện ngắn có nhân vật là người; nếu là con vật, đồ vật thì phải có tính cách và chính tính cách làm chúng trở thành nhân vật. Ông già và biển cả của Hemingway có hai nhân vật: ông già đánh cá và con cá kiếm. Có những truyện ngắn xuất hiện đến hàng chục nhân vật. (NGUYỄN TRƯỜNG)

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo