Có một dòng thơ lặng lẽ trôi

Thứ năm - 31/03/2011 13:13

Có một dòng thơ lặng lẽ trôi

Có một thực tế là trong khoảng chục năm trở lại đây đời sống văn chương nước ta có những biến đổi thật sự khó lường xét từ cả phía người sáng tác và người tiếp nhận, cũng như cả từ phía truyền thống và cách tân về phong cách, thể tài và ngôn ngữ thể hiện.

Có nhiều tác phẩm in ra được công chúng và (hoặc) các nhà lý luận phê bình hồ hởi đón nhận, thì giới chính khách lại tìm cách phủ nhận, ví như “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư, “Trăng nghẹn” của Hoài Tường Phong hay “Thời của thánh thần” của Hoàng Minh Tường,... Lại có không ít tác phẩm in ra được báo giới tung hô, một số công ty truyền thông tổ chức “hội thảo” để PR cho những cuốn sách đó, các nhà lý luận phê bình lành mạnh lại quay mặt đi, còn một vài “nhà” lý luận phê bình chạy sô ra mặt bênh vực, giới chính khách thì coi đấy là chuyện của riêng văn chương, không phải là những “hiện tượng” xã hội, ví như “Thể xác lưu lạc” của hướng dẫn viên du lịch kiêm nhà văn Tiến Đạt hay “Sợi xích” của ca sĩ Lê Kiều Như,...(?!) Chỉ lạ một điều là dường như đời sống văn chương càng phát triển thì khoảng cách của sự thẩm văn lại càng cách xa nhau hơn.

Trong cái thời bát nháo của đời sống văn chương hôm nay, còn có những người thơ điềm tĩnh trôi như dòng sông muôn đời vẫn thế, là dấu hiệu đáng mừng và đáng tin cho văn chương nước nhà. Một trong số ít những người đó là nhà thơ, nhà lý luận- phê bình văn học Lê Thành Nghị. Anh lặng lẽ đến mức nếu một ai đó muốn xem người ta nói gì về anh và anh nói về văn thơ như thế nào, mở mục tìm kiếm trên mạng internet bằng công cụ google thì số bài viết chưa đủ đếm đầu ngón.

Có lẽ vì tôi ít có cơ may tiếp xúc với người thơ này, nên thật sự bất ngờ khi biết cho đến nay, Lê Thành Nghị đã là tác giả của 5 tập thơ và 3 tập lý luận phê bình văn học là “Văn học sáng tạo và tiếp nhận” (1994), “Một số hiểu biết cơ bản về văn học nghệ thuật và thẩm mỹ” (1996), “Trước đèn thơ” (2006), trong đó có 2 tập thơ từng được giải thưởng của Hội Nhà văn là “Mưa trong thành phố” và “Mùa không gió” và 1 tập tiểu luận phê bình văn học đã được Giải thưởng Văn học Bộ Quốc phòng 1989- 1994 là “Văn học sáng tạo và tiếp nhận”. Và mới đây, Lê Thành Nghị lại lặng lẽ “trôi ra” tập thơ thứ 5 “Sông trôi không lời”. Như vậy xem ra anh không phải là người viết nhiều, viết khỏe như một số cây bút khác, nhưng đức tính cần mẫn, điềm tĩnh và niềm đam mê văn chương ở anh như mạch nước ngầm chưa bao giờ vơi cạn.

Tôi thường có sở thích đọc các tác phẩm văn chương “sốc”, xem giới trẻ bây giờ người ta thích gì, nghĩ như thế nào và viết ra làm sao, nên khi đọc thơ của Lê Thành Nghị bỗng nhận ra rằng ở đời này, ngoài những thứ văn chương truyền thống ngợi ca một chiều chủ nghĩa xã hội với phong trào hợp tác hóa rồi đến văn chương hào sảng của một thời chiến tranh ái quốc, tiếp là loại văn chương huỵch toẹt theo kiểu “nói thẳng cho nó vuông” của nhiều cây viết thuộc thế hệ 7X, 8X, 9X, thì vẫn còn có một loại văn chương “dịu nhẹ” khác. Loại văn chương này mới đọc có vẻ hơi tẻ, nhưng đọc lâu, nghĩ kỹ thì thấy ngấm, giống như thứ rượu quê nút lá chuối, với người bốc đồng, tính khí mạnh, mới nhấp vào thấy nhạt vì nó nhẹ nồng độ cồn. Còn với người sành rượu thì càng uống thấy càng ngấm, càng ngấm càng say. Đấy là khẩu vị của những người không thích ồn ào và luôn săn tìm hào quang ảo từ những đám đông người đời như Lê Thành Nghị.

Anh từng bày tỏ quan niệm của mình trong bài thơ “Im lặng” viết tặng nhà văn Nguyễn Thi, người trước đây cùng làm việc với anh ở ngôi nhà số Bốn, Lý Nam Đế: “Vẫn thường sống trong im lặng/ Vẫn như bản nhạc không lời/ Như lặng im dòng sông mê chảy/ Như lặng im trời xanh mây bay/ Đôi khi buồn nghe gió trở trên cây/ Thầm lặng khóc từng bông hoa đại rụng…”

Nỗi buồn cố nhân luôn ám ảnh anh qua những trang thơ có vẻ như không mấy ăn nhập với ông đại tá Lê Thành Nghị, người làm việc theo “lệnh nhà bình”, có lộ trình, kế hoạch thực sự nghiêm túc như chính khi anh lái chiếc xe ô tô bon trên đường Hà Nội, nơi mà: Người ta có thể bỏ ra nửa ngày đứng xem một vụ cãi nhau/ Nhưng không ai nhường ai nửa bánh xe lúc đường chật (Bên hồ sen 1), vào cái tuổi ngoại lục tuần. Phải chăng mọi sự tĩnh lặng ông dồn hết cho thơ, hay thơ chính là mảnh đất trú ngụ bình yên nhất của tâm hồn anh? Có thể là cả hai. Thời gian biền biệt ngoài khung gió/ Một vệt trăm năm loáng lưới đèn/ Chiếc lá nào buông bên cửa sổ?/ Chấn động lòng ta đến cạn đêm... (Tĩnh và Động).

Cảm thức về thời gian của Lê Thành Nghị trong bài thơ này tựa như một bức tranh thủy mặc trong các bài cổ thi. Chỉ cần một chiếc lá buông nhẹ ngoài khung cửa đã làm người thơ chấn động, thổn thức đến cạn đêm. Thời gian là một lực lượng tự nhiên biến đổi không ngừng, nhưng trong trường hợp này thời gian biền biệt trôi đến mức không còn trôi được nữa, bởi lẽ chỉ loáng một cái đã hết trăm năm. Và cuối cùng chỉ có tâm thức của người thơ hao ngót đến cạn đêm. Vậy là cái mà người đời tưởng là tĩnh lại hóa động đối với thi nhân và ngược lại.

Tứ bài thơ khá rõ, nhưng để triển khai được tứ đó thành một nàng thơ có đầy đủ thịt da và lung linh sắc màu như vậy thật không dễ chút nào. Không biết có phải Lê Thành Nghị là người đi đều bằng cả hai chân Thơ và Lý luận- phê bình không mà anh lập tứ cho thơ chặt đến như vậy? Tuy nhiên một bài thơ hay không chỉ có tứ chặt mà còn cần đến nhiều yếu tố khác như xúc cảm thẩm mỹ, giọng điệu, ngôn ngữ biểu đạt,...Với bài thơ này, Lê Thành Nghị đã đạt đến mức hoàn thiện mọi khía cạnh tạo nên một bài thơ hay.

Điều đáng nói là trong tập thơ mới đây nhất của anh những bài thơ như vừa kể trên không phải là hiếm. Đây là tập thơ được viết khá đều tay và cẩn trọng đến từng con chữ. Xem ra cung cách của “ông đồ” xứ Nghệ thời nay vẫn vẹn toàn trong tâm khảm của nhà thơ từng có thời mặc áo lính Lê Thành Nghị. Với 100 trang gói trọn 45 bài trong “Sông trôi không lời”, Lê Thành Nghị như muốn gửi đến thi hữu một cái nhìn thật “chậm” so với sự phát triển đến chóng mặt thi pháp của thời bão táp thi ca.

Nếu mở một cuộc thăm dò xem dân tộc nào trên thế giới yêu thơ và in nhiều thơ nhất trong khoảng vài chục năm trở lại đây, thì chắc chắn người Việt sẽ nắm giữ ngôi vị quán quân. Có người nói đây là hội chứng loạn thơ. Tôi quả quyết là không, vì trên đời này mọi thứ cũng như trong thơ ca, rác bao giờ cũng nhiều hơn gấp vạn lần ngọc thạch, saphia, nên cần phải có hàng ngàn tấn thơ được in ra mới có thể chọn lấy vài tập đọc được và một tập hay. Hơn bất cứ lĩnh vực nào khác, thơ vốn quí hồ tinh bất quí hồ đa. Có không ít người cứ thấy sách là vớ lấy đọc nghiến ngấu, rồi nghiến ngấu phán rằng loài người đã bị lũ chó ngao kéo tuột lưỡi ra, nên bây giờ thi ca mới không có ngôn từ. Đúng là không thiếu những cuốn sách thiếu ngôn từ toàn phần nên mới nói như băm, như bổ, nói như cấu, như cào vào mặt người ta đến thế. Nhưng như vậy mà bảo thế gian này thơ sẽ bị triệt tiêu thì đích thị đấy là cách nói của kẻ phàm phu tục tử. Thì đây thôi, trong tay tôi và trong tay bao người vẫn còn có những quyển sách như “Sông trôi không lời” của nhà thơ Lê Thành Nghị.

Có thể điều tôi vừa nói không dễ để bạn tin, nhưng chỉ cần đọc ba bài thơ “Bên hồ sen” trong tập này, sẽ thấy đây là một sưu tập sống “tục ngữ”, “thành ngữ” mang phong cách và thương hiệu Lê Thành Nghị. Bao năm binh nghiệp là bấy nhiêu năm nếm trải vị đời để rồi không còn cách nào khác Lê Thành Nghị đã trút hết vào thơ. Nàng thơ tuy có đỏng đảnh đôi chút, nhưng được cái dễ tính, ai tặng gì nàng cũng nhận, nhưng để nàng ban tặng lại cho một nụ cười thì không phải ai cũng có cơ may. Còn với Lê Thành Nghị, chắc nàng thơ chẳng nỡ nào “keo kiệt” đến như vậy khi anh trao gửi nàng những dòng suy tư: Trong Văn Miếu có kẻ đang huyên thuyên về thơ- văn/ Mà không biết những hàng bia đá này im lặng đã tăm năm/ Mỗi năm tôi vào thăm bia đá một lần/ Đúng là đá có mòn đi còn câu ca về đá thì vẫn trơ như đá!,... hay: Tôi đã bao lần ngồi trong nắng sớm/ chẳng chờ đợi gì ngoài một tiếng chim/ Tôi đã bao lần trên con đường vắng/ Chẳng chờ đợi gì ngoài khoảnh khắc bình yên/ Tôi đã bao lần trôi trên sông tím/ Chẳng ước ao gì ngoài được trôi êm,... (Bên hồ sen 1) hoặc: Có thể đếm được hạt trong một trái dưa/ Nhưng không thể đếm có bao nhiêu mùa đi qua trong hạt,... (Bên hồ sen 2) và: Chạy chọt chữa lại tuổi khai sinh/ Để kéo dài thêm một năm, một tháng/ Để phấn đấu đến hơi thơ cuối cùng cho Đảng!,... (Bên hồ sen 3).

Những đoạn thơ trên đây không hề nói về những điều quá to tát hay quá hệ trọng, ngược lại, là những cái rất đỗi bình dị trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người chúng ta, nhưng đọc lên nghe như là những triết lý nhân sinh thường được ông cha ta đúc rút lại trong những câu tục ngữ. Đấy chính là đặc điểm thi pháp khá nổi trội trong “Sông trôi không lời” của Lê Thành Nghị. Đối với thơ không phải viết về cái lớn hay cái nhỏ, cái này hay cái khác, mà điều cốt tử là viết như thế nào để khi người đọc tiếp xúc với văn bản tác phẩm cảm nhận được nét riêng trong thi pháp của nhà thơ. Đây vừa là dấu hiệu, vừa là lợi thế so sánh giữa một nhà thơ có thứ hạng như Lê Thành Nghị với những nhà thơ khác.

ĐỖ NGỌC YÊN



 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo