Đi trước về sau mở đường thắng lợi

Thứ bảy - 19/03/2016 00:19

logoBinh chủng Công binh được hình thành ngay từ những ngày đầu sau cách mạng tháng Tám năm 1945 từ các tổ, đội chuyên phá đường ngăn chặn bước tiến của quân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam. Là một Binh chủng chuyên môn có chức năng bảo đảm công trình trong tác chiến, xây dựng các công trình quốc phòng của Quân đội nhân dân Việt Nam, trong quá trình chiến đấu và xây dựng, những người lính công binh được mọi người đặt cho những cái tên hết sức thân thương.
Nhân dịp Kỉ niệm 70 năm Ngày thành lập Binh chủng Công binh (25 tháng 3 năm 1946), Tạp chí Văn nghệ Quân đội có cuộc trò chuyện với đồng chí Thiếu tướng Trần Hồng Minh - Tư lệnh và đồng chí Thiếu tướng Trần Xuân Mạnh - Chính ủy Binh chủng về những nét truyền thống cũng như các hoạt động đặc thù của Bộ đội Công binh.
8bba5d23 63e3 4b6d b51a 62720db45a33
Tư lệnh Trần Hồng Minh

PV: Kính thưa đồng chí Tư lệnh và Chính ủy. Nhắc đến Bộ đội Công binh là nhắc đến những người lính lặng lẽ, âm thầm “đi trước về sau”. Chính sự âm thầm ấy đã khiến cho họ không được nhiều người biết đến một cách tường tận như những binh chủng khác. Xin được bắt đầu cuộc trò chuyện bằng một mốc thời gian 70 năm về trước của người lính công binh…
Tư lệnh Trần Hồng Minh: Ở tuổi 70, với con người, đã là “cổ lai hi”, nhưng với một tổ chức, một đất nước, một quân đội, thì lại khác. Thời gian luôn là người bạn đồng hành với sự chững chạc và trưởng thành. Mốc lịch sử của Bộ đội Công binh mà các anh vừa nhắc đến, chính là sắc lệnh số 34/SL ngày 25 tháng 3 năm 1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí quy định về tổ chức Bộ Quốc phòng. Tại điều 13, sắc lệnh có quy định: “Công chính giao thông Cục có nhiệm vụ tổ chức và thi hành việc vận tải, thông tấn, vẽ đồ bản và tổ chức công binh dùng vào việc chuyên môn: cầu cống, đường sá, máy móc...”. Và ngày đó được lấy làm ngày Truyền thống của Bộ đội Công binh.

PV: Và những chiến công đầu tiên của lực lượng là…
Chính ủy Trần Xuân Mạnh: Chiến công của Bộ đội Công binh trải khắp ba miền. Ở Nam Bộ, ngay từ tháng 1 năm 1947, đội  công binh Huỳnh Thúc Kháng trong những trận đánh đầu tiên đã phá huỷ 5 km đường sắt, phá sập 10 cầu trên đường Mường Mán - Sài Gòn, diệt hàng trăm tên địch, lật nhào hàng chục toa xe lửa. Đội công binh thủy lôi Bạc Liêu phối hợp với một đơn vị bạn trong trận đánh Mương Điều đã diệt gọn 1 đại đội địch, nhấn chìm tàu chiến giặc, thu vũ khí. Tại Hà Nội, ba tiểu đoàn công binh gấp rút được thành lập. Thực hiện chủ trương “Trong đánh, ngoài vây”, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giao thông Công binh Cục, các đơn vị trên cùng với hàng ngàn tự vệ, học sinh và nhân dân Thủ đô đã đào hào, đắp ụ, dựng chiến luỹ, chướng ngại vật ngăn chặn bước tiến và cô lập quân địch, bảo vệ Trung ương Đảng và Chính phủ, chuyển kho tàng, cơ sở vật chất lên Việt Bắc an toàn, kịp thời.
Lực lượng công binh ở khắp nơi còn tổ chức phá nát các trục giao thông chiến lược (cả đường sắt và đường bộ), các cầu lớn bị đánh sập, nhiều đoàn tàu và xe quân sự địch bị lật nhào.

 
IMG 6838
Chính ủy Trần Xuân Mạnh
PV: Vâng. Những chiến công đầu tiên khẳng định sự lớn mạnh vượt bậc của Bộ đội Công binh. Vậy thì, đỉnh cao của sự lớn mạnh ấy trong kháng chiến chống Pháp có phải là ở mặt trận Điện Biên Phủ không, thưa Tư lệnh?
Chính ủy Trần Xuân Mạnh: Hoàn toàn chính xác. Với chiến dịch này, chúng ta không thể không nói đến công tác bảo đảm. Đường lên Điện Biên Phủ phải qua những đèo dốc cao như đèo Pha Đin, những dòng sông mùa mưa lũ hung dữ như dòng sông Nậm Na với hơn trăm ngọn thác. Trên các tuyến đường chiến dịch, địch dùng máy bay thường xuyên khống chế và thả hàng ngàn quả bom nổ chậm, bom bướm ngăn chặn ta, vì thế việc làm đường để tiếp tế bảo đảm cho chiến dịch gặp muôn vàn khó khăn, nhưng những con đường vẫn như những mũi tên dần dần chọc thẳng vào cứ điểm Điện Biên Phủ. Đại đội 124 (Trung đoàn 151) của Công binh chỉ trong 20 ngày đêm đã phá hơn trăm thác trên sông Nậm Na cho thuyền bè qua lại bảo đảm tiếp tế cho chiến dịch. Đội phá bom 83 do đồng chí Nguyễn Phú Xuyên Khung làm đội trưởng đã kiên cường bám trụ trên các “trọng điểm”, nghiên cứu quy luật hoạt động của máy bay và quy luật nổ của bom đạn địch, từ đó đúc kết phương pháp phá bom, đạn và bảo đảm giao thông. Đặc biệt trận đánh cứ điểm đồi A1. Như các anh đã biết, lần đầu tiên, bằng lòng dũng cảm, mưu trí sáng tạo, Bộ đội Công binh đã khoét đào một đường hầm dài gần 50m giữa lòng đồi A1 và bố trí vào đó gần 1000kg thuốc nổ. Khi khối thuốc được điểm hỏa, một phần hệ thống hầm ngầm cố thủ của địch trên đồi A1 bị phá sập, nhưng quan trọng nhất, tinh thần quân Pháp cũng hoảng loạn suy sụp theo, tạo điều kiện cho quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm cuối cùng giành toàn thắng trong chiến dịch, đúng như Bác Hồ đã căn dặn trước đó “Bộ binh như mũi mác, công binh như cán mác, cán có chắc, mũi có sắc thì mới đâm được giặc”.

PV: Trong chiến tranh chống Mĩ cái tinh thần “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, nghĩa đen có vẻ gần nhất với người lính công binh…
Chính ủy Trần Xuân Mạnh: Vâng. Ngày ấy, các trung đoàn công binh của chúng tôi đã phối hợp với thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến mở được hàng chục ngàn kilômét đường, tạo nên một mạng đường cơ động chiến lược nối liền hậu phương miền Bắc với chiến trường miền Nam, chiến trường Lào và Campuchia, trong đó nổi bật là tuyến đường Hồ Chí Minh lịch sử. Đường Trường Sơn đã đóng góp vai trò quyết định thắng lợi trong sự nghiệp kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta. Trên các trọng điểm ác liệt: Long Đại, Đồng Hới, Đồng Lộc, Bến Thủy, Hàm Rồng... các địa bàn xung yếu và các trục giao thông quan trọng, đâu đâu cũng có Bộ đội Công binh của ba thứ quân ngày đêm bám đường, bám bến, bắc hàng trăm cầu phao, mở thêm hàng ngàn kilômét đường tránh. Bộ đội Công binh đã  “sống bám cầu đường, chết kiên cường dũng cảm” giữ vững mạch máu giao thông chiến lược luôn luôn thông suốt trong những điều kiện địch đánh phá ác liệt. Riêng Đồng Lộc, một ngã ba nhỏ bé trên đường 15A thuộc tỉnh Hà Tĩnh, trong giai đoạn ác liệt bình quân mỗi ngày đã phải chịu đựng 20 tấn bom các loại. Hình ảnh chiếc ca nô “bất khuất” số 434 do Hạ sĩ Nguyễn Xuân Toản thuộc Trung đoàn 249 lái, dũng cảm lướt nhanh trên mặt nước (kích bom, thuỷ lôi của địch nổ sau khi ca nô đi qua) là một hình ảnh đậm chất anh hùng ca của người lính công binh. Rồi Đại đội công binh 8 trong đội hình của Trung đoàn Hải quân 126 rải thuỷ lôi ở Cảng Cửa Việt, Đông Hà đánh chìm 9 tàu địch cùng hàng nghìn tấn vũ khí, quân dụng, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, làm sông Cửa Việt tắc nghẽn gần một tuần....

PV: Và cuộc hành quân “thần tốc” vào những ngày tháng tư năm 1975 lịch sử cũng có sự đóng góp rất lớn của Bộ đội Công binh...
Tư lệnh Trần Hồng Minh: Vâng. Lần đầu tiên trong lịch sử công binh Việt Nam, một lực lượng lớn công binh gồm 2 sư đoàn, 3 lữ đoàn, 20 trung đoàn, 30 tiểu đoàn làm nhiệm vụ bảo đảm cho các quân đoàn chủ lực và binh khí kĩ thuật với hàng vạn xe, pháo các loại, cơ động hàng nghìn kilômét vào tham gia chiến dịch. Cuộc hành quân thần tốc diễn ra trong thời gian gần một tháng là một bất ngờ lớn đối với địch. Bộ đội Công binh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tạo điều kiện cho các binh đoàn thọc sâu trên các hướng. Các công việc làm cầu, gỡ mìn, bảo đảm vượt sông, mở đường đã được khẩn trương thực hiện theo đúng kế hoạch. Góp phần vào thắng lợi ngày 30 tháng 4 năm 1975 lịch sử.

PV: “Bộ binh như mũi mác, công binh như cán mác…”. Chúng ta đã thắng Pháp, thắng Mĩ. Nhưng bảo vệ biên giới và hải đảo thiêng liêng thì lúc nào cũng thường trực, cũng nóng….
Tư lệnh Trần Hồng Minh: Trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979, lực lượng công binh của các đơn vị trực tiếp bảo đảm đường cơ động cho bộ đội phản kích, dùng mìn cơ động bố trí trên các tuyến đường để ngăn chặn tiến công, rồi xây dựng hàng trăm công trình chiến đấu suốt dải biên giới đất liền. Từ năm 2005 đến nay, Bộ đội Công binh cùng với các doanh nghiệp quân đội tham gia xây dựng đường tuần tra biên giới trên đất liền. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng nhằm tăng cường tuần tra, kiểm soát, quản lí, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, củng cố quốc phòng, an ninh, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân ở khu vực biên giới. Mặc dù thi công ở địa hình rừng núi hiểm trở, đường cơ động ra biên giới chưa có hoặc rất xấu, điều kiện thời tiết khắc nghiệt, nhiều khu vực chưa được rà phá bom mìn, vật nổ, chúng tôi đã chủ động khắc phục khó khăn, “mở đường” với quyết tâm cao nhất, bảo đảm tiến độ, chất lượng công trình.
SDC12981
Lực lượng công binh sử lí ô nhiễm bom mìn trên sông      Ảnh: Vũ Quang Thái

PV: Trong một lần ra thăm Trường Sa, một nhà thơ đã rất xúc động ví người lính công binh là những người kê Tổ quốc cao thêm…. Đồng chí Chính ủy có thể chia sẻ về những gì mà Bộ đội Công binh đã làm ở quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam…
Chính ủy Trần Xuân Mạnh: Tháng 3 năm 1988 xảy ra xung đột trên vùng biển quần đảo Trường Sa, cán bộ, chiến sĩ công binh đã anh dũng chiến đấu, hi sinh vì bảo vệ chủ quyền lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc. Tiêu biểu trong những tấm gương chiến đấu đó là đồng chí Nguyễn Văn Lanh thuộc Trung đoàn công binh 83 hải quân, dũng cảm cùng đồng đội chiến đấu giữ vững lá cờ Tổ quốc trên đảo Gạc Ma.  Trong xây dựng công trình DKI tại thềm lục địa phía Nam nhằm khẳng định và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển và thềm lục địa của Tổ quốc, dù gặp nhiều khó khăn như: Địa điểm thi công xa đất liền, khí hậu thời tiết phức tạp, sóng gió lớn thất thường, nhất là mùa mưa bão, lại thường xuyên có tàu nước ngoài xâm phạm hải phận hoạt động khiêu khích… Nhưng với tinh thần nỗ lực cao nhất, tranh thủ mọi thời gian, Bộ đội Công binh đã vừa khảo sát, vừa thiết kế và nhanh chóng tổ chức thi công. Mỗi công trình với hàng trăm tấn sắt thép, cấu kiện và những yêu cầu kĩ thuật cao đã được hoàn thành chỉ trong vòng 3 - 4 tháng (cả chế tạo trên bờ và lắp dựng ngoài biển). Càng về sau, các công trình này càng được rút ngắn thời gian, thi công trên biển từ 15 ngày xuống còn 5 ngày cho một công trình, đạt chất lượng cao, giá thành hạ, tiết kiệm ngân sách Nhà nước. Kĩ thuật xây dựng công trình biển trên nền san hô và nền bùn yếu tiến bộ vượt bậc. Đến nay binh chủng đã nghiên cứu, thiết kế, tổ chức sửa chữa, nâng cấp được hàng chục công trình bảo đảm chất lượng, đáp ứng kịp thời cho nhiệm vụ phát triển kinh tế, giữ vững chủ quyền vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc. Cùng với nhiệm vụ xây dựng công trình trên các đảo chìm, Binh chủng Công binh đã được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ mở luồng trên nền đá san hô để bảo đảm cơ động các phương tiện làm nhiệm vụ bảo vệ đảo. Bộ đội của chúng tôi đã dầm mình dưới nước mặn, sóng biển để thi công, tiến hành nổ hàng trăm lượng bộc phá lớn, với phương pháp nổ đa năng, mở được những luồng dài tới gần ngàn mét, rộng bốn, năm mươi mét, sâu trên ba mét đúng các yêu cầu kĩ thuật, bảo đảm cho tàu trọng tải lớn ra vào thuận tiện phục vụ kịp thời cho nhiệm vụ bảo vệ vùng biển đảo. Nhiệm vụ mở luồng hoàn thành mở ra một triển vọng và khả năng mới của Bộ đội Công binh trong xây dựng các công trình trên biển.

PV: Thế còn các nhiệm vụ liên quan đến thiên tai, di chứng chiến tranh... tham gia phát triển kinh tế - xã hội thì thế nào?
Tư lệnh Trần Hồng Minh: Đó là rà phá bom mìn, vật nổ, xử lí bom đạn cấp 5, phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn; khắc phục hậu quả sập đổ công trình; phòng, chống khủng bố; tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp quốc; Đường điện 500KV; thủy điện Đa My, Hàm Thuận, A Vương; Âu tầu đảo Bạch Long Vỹ, công trình đê chắn sóng Nhà máy lọc dầu Dung Quất, rồi đường Hồ Chí Minh, đường Trường Sơn Đông… trong đó nhiều nhiệm vụ thực hiện trong môi trường ô nhiễm, độc hại, nguy hiểm… Chúng tôi có mặt trên khắp mọi miền Tổ quốc, từ rừng núi biên cương đến hải đảo xa xôi. Mỗi công trình dựng xây được kết tinh không chỉ bằng mồ hôi, công sức mà có cả xương máu của cán bộ, chiến sĩ công binh.
Chính ủy Trần Xuân Mạnh: Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu, những năm gần đây tình hình thiên tai, bão, lụt, động đất... diễn biến phức tạp, bất thường. Ở nước ta, mỗi năm trung bình xảy ra gần chục cơn bão. Bộ đội Công binh chúng tôi là một trong những lực lượng chủ lực của Quân đội, có mặt kịp thời ở những nơi xung yếu để tham gia cứu dân, cứu tài sản, khắc phục hậu quả do thiên tai bão, lũ, sập đổ công trình gây nên. Tháng 11 năm 1999, một trận bão lớn gây lũ lụt nghiêm trọng ở một số tỉnh miền Trung, đặc biệt  là các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Bộ đội Công binh đã chở hàng nghìn lượt người ra nơi an toàn, vận chuyển, bốc xếp được hàng trăm tấn hàng cung cấp kịp thời cho nhân dân. Những việc làm của Bộ đội Công binh được Chính phủ, chính quyền và nhân dân các địa phương đánh giá rất cao. Hay như cuối năm 2014, cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 293 và Tiểu đoàn 93 thuộc Bộ Tham mưu Binh chủng Công binh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xử lí sự cố sập đường hầm công trường thủy điện Đạ Dâng, tỉnh Lâm Đồng (chỉ trong 2 ngày đã mở thông đường hầm, cứu sống toàn bộ 12 người bị mắc kẹt bên trong ra ngoài, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho người và trang bị).

PV: Trải qua mấy cuộc chiến tranh, có thể nói, trên dải đất hình chữ S của chúng ta, rất nhiều nơi, dưới cỏ xanh không phải là đất mà là bom, mìn, vật nổ. Vì thế, người lính công binh, dù giữa thời bình nhưng vẫn là những người lính ở tuyến đầu…
Tư lệnh Trần Hồng Minh: Nhiệm vụ xử lí bom đạn cấp 5, rà phá, xử lí bom mìn vật liệu nổ, khắc phục hậu quả sau chiến tranh là nhiệm vụ rất phức tạp và nguy hiểm, đòi hỏi lòng dũng cảm và đôi khi là cả sự hi sinh. Những người lính công binh đã thầm lặng chiến đấu, khắc phục mọi khó khăn nguy hiểm, môi trường độc hại để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nhiều cán bộ, chiến sĩ hi sinh trong khi làm nhiệm vụ... nhiều đồng chí đã để lại một phần xương máu của mình để trả lại màu xanh cho đất đai và sự sống. Trung tâm Công nghệ xử lí bom mìn của chúng tôi đã phối hợp chặt chẽ với tổ chức quỹ Cựu chiến binh Mĩ tại Việt Nam hoàn chỉnh dự án “Điều tra, khảo sát, lập bản đồ ô nhiễm bom mìn, vật nổ trên phạm vi toàn quốc”. Mỗi năm, Bộ đội Công binh rà phá, xử lí an toàn hàng nghìn tấn bom, đạn cấp 5, vật liệu nổ, giải phóng hàng vạn ha đất đai. Cuối năm 2004 đã xử lí thành công quả bom cỡ 12.000 bảng Anh tại Gia Lai, giữa năm 2006 xử lí an toàn quả bom lớn tại Bình Định (chứa gần bốn nghìn tấn thuốc nổ). Những vùng đất Bộ đội Công binh đã đi qua, đất đai được hồi sinh, nhiều công trình mọc lên, nhân dân trở về lao động sản xuất ổn định cuộc sống.

PV: Và rất nhiều nhiệm vụ đột xuất khác cần đến bàn tay của người lính công binh...
Chính ủy Trần Xuân Mạnh: Vâng. Đó là phục vụ các ngày lễ lớn, các Đại hội, các Hội nghị quốc tế tổ chức tại Việt Nam. Đặc biệt trong dịp Đại hội thể thao Đông Nam Á - SEAGAMS 22 được tổ chức lần đầu tiên ở nước ta vào cuối năm 2003. Chúng tôi đã tổ chức bảo đảm bắc cầu phao PMP qua sông Hồng tại bến Khuyến Lương. Trước dịp Kỉ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, tổ chức bắc cầu phao Chèm (Từ Liêm - Hà Nội) để sửa chữa, giảm ùn tắc giao thông trên tuyến đường huyết mạch Thăng Long - Nội Bài bảo đảm cho trên ba trăm ngàn lượt xe ô tô qua cầu phao. Rồi bắc cầu phao Đuống (quận Long Biên - Hà Nội). Năm 2013, Binh chủng tham gia và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ diễn tập hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa kết hợp bảo đảm quân y trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng tại Brunei; diễn tập thực binh ứng phó thảm họa và cứu trợ nhân đạo các nước ASEAN năm 2013 (ARDEX 13), do Việt Nam đăng cai tổ chức, tại thao trường tổng hợp Lữ đoàn 249.

PV: Thế còn nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu?
Tư lệnh Trần Hồng Minh: Huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong thời bình, nhận rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của nhiệm vụ này, các đơn vị trong toàn Binh chủng đã triển khai toàn diện, thực hiện tốt phương châm “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”, coi trọng huấn luyện đồng bộ và chuyên sâu, sát đặc điểm đơn vị, yêu cầu nhiệm vụ và cách đánh của ta. Trong tổ chức huấn luyện, tập trung tăng cường huấn luyện thực hành, huấn luyện đêm, huấn luyện dã ngoại kết hợp làm công tác dân vận đồng thời gắn chặt huấn luyện với rèn luyện kỉ luật và xây dựng nền nếp chính quy, chất lượng huấn luyện toàn diện trong Binh chủng ngày càng chuyển biến tiến bộ vững chắc. Qua  diễn  tập và  kiểm  tra toàn  diện  hằng  năm, 100% đầu mối trung, lữ đoàn, nhà trường đều đạt điểm khá, giỏi. Binh chủng luôn được Bộ Quốc phòng đánh giá cao, khả năng hoàn thành nhiệm vụ tốt.
Công tác đào tạo cán bộ và nhân viên chuyên môn kĩ thuật công binh cho toàn quân thường xuyên được chú trọng quan tâm, hằng năm luôn đảm bảo đủ chỉ tiêu Bộ giao. Đi đôi với xây dựng đội ngũ cán bộ kĩ thuật, Binh chủng còn xây dựng được đội ngũ cán bộ nòng cốt, đầu ngành về những kĩ thuật riêng biệt, như rà phá bom mìn, bắc cầu phao, xây dựng các công trình phòng thủ đòi hỏi kĩ thuật phức tạp.

PV: Đối với công tác nghiên cứu khoa học, phát huy sáng kiến cải tiến kĩ thuật thì thế nào, thưa đồng chí Chính ủy?
Chính ủy Trần Xuân Mạnh: Xác định nghiên cứu khoa học phải luôn bám sát yêu cầu nhiệm vụ, chúng tôi đã hoàn thành nhiều đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp ngành tiêu biểu như: Cụm công trình nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ xây dựng công trình phòng thủ bảo vệ Tổ quốc giai đoạn 1956 - 1975; Các giải pháp khoa học công nghệ bảo đảm môi trường và xây dựng công trình bảo vệ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1969 - 1975; Mở luồng trên nền đá san hô vào đảo Trường Sa; Công trình phòng chống vũ khí huỷ diệt lớn; Các giải pháp khoa học công nghệ trong thiết kế, xây dựng Trạm dịch vụ kinh tế - khoa học kĩ thuật (công trình DKI, giai đoạn 1990 - 2010). Biên soạn nhiều giáo trình, tài liệu, điều lệ, sổ tay sĩ quan công binh, Từ điển giải thích thuật ngữ công binh, phục vụ thiết thực cho giảng dạy trong nhà trường và nghiên cứu vận dụng ở đơn vị.

PV: Xin cảm ơn đồng chí Tư lệnh và Chính ủy về cuộc trò chuyện này.

 
NGUYỄN MẠNH HÙNG ghi
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Xếp hạng: 4 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

Quảng cáo