Đối ngoại quốc phòng: Bảo vệ Tổ quốc từ xa bằng biện pháp hòa bình

Thứ bảy - 31/12/2016 00:02
v ct
Trung tướng Vũ Chiến Thắng
Ngoại giao nói chung, đối ngoại quốc phòng (ĐNQP) nói riêng đã, đang và sẽ chiếm giữ một vị trí quan trọng trong đường lối, chiến lược phát triển của mỗi quốc gia trên thế giới. Với Việt Nam, Đảng, Nhà nước, quân đội luôn coi trọng công tác ĐNQP, coi đó là phương kế bảo vệ Tổ quốc từ xa bằng biện pháp hòa bình. Chúng tôi vừa có cuộc trao đổi với Trung tướng Vũ Chiến Thắng - Cục trưởng Cục Đối ngoại - Bộ Quốc phòng, xoay quanh những hoạt động ĐNQP của Việt Nam đối với các nước, các tổ chức trên thế giới. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
 
PV: Thưa Trung tướng Vũ Chiến Thắng, hoạt động ĐNQP nên được hiểu như thế nào? Và hoạt động ĐNQP của ta đang được triển khai ra sao?
Trung tướng Vũ Chiến Thắng: Trước hết chúng ta cần phải xác định ĐNQP là một mặt trận nằm trong mặt trận ngoại giao của đất nước. Như vậy có thể hiểu hoạt động ĐNQP là để triển khai đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực quốc phòng, đó là tổng thể các hoạt động giao thiệp, hợp tác về quân sự, quốc phòng và các vấn đề cùng quan tâm giữa quân đội Việt Nam với quân đội các nước, nhằm xây dựng lòng tin, thiết lập và phát triển quan hệ quốc phòng với các nước trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng quyền và lợi ích chính đáng của nhau, cùng có lợi, góp phần củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.
Có thể ví hoạt động ĐNQP như là chơi cờ. Muốn đạt được hiệu quả, lợi ích cao nhất thì phải tính toán kĩ từng bước đi, sao cho phù hợp.  Nói vậy để thấy rằng ĐNQP là một nhiệm vụ đầy thử thách, bất ngờ. Thực ra cụm từ ĐNQP gần đây ta mới dùng, trước kia ta gọi là đối ngoại quân sự khi đất nước ta còn có chiến tranh cũng như ở thời kì đầu đổi mới. Ngày nay, bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh toàn diện không chỉ bó hẹp trong phạm vi quân sự, do đó ĐNQP có nội hàm rộng hơn, là đối ngoại của nền quốc phòng chung của đất nước. Mục tiêu của hoạt động ĐNQP trước hết là phải xây dựng được lòng tin. Lòng tin là yếu tố tiên quyết, căn bản, quyết định đến  hiệu quả của quan hệ quốc phòng giữa ta với các nước, thậm chí có thể dẫn đến thành hay bại và như chúng ta đã biết, gần đây tại Đối thoại Shangri-la được tổ chức tại Singapore năm 2013, cụm từ “lòng tin chiến lược” đã được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề cập tới trong bài phát biểu của mình và đã nhận được sự đánh giá cao của các đại biểu tham dự hội nghị. Theo đó “lòng tin chiến lược” được hiểu là sự thực tâm và chân thành, giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế, đề cao trách nhiệm của các quốc gia, nhất là các nước lớn và hiệu quả thực thi của các cơ chế hợp tác an ninh đa phương, bình đẳng giữa các thành viên và đối tác không phân biệt nước lớn hay nước nhỏ.
Với quốc phòng, lòng tin được xây dựng giữa quân đội ta và quân đội các nước nói riêng, nhân dân ta với nhân dân các nước nói chung thông qua các hoạt động ĐNQP. Trong  ĐNQP, nguyên tắc cao nhất, bất di bất dịch là bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế. Đây là điều không gì có thể đánh đổi.
Đại hội lần thứ XI của Đảng đã xác định “Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng”. Đây có thể nói là một chủ trương chiến lược, lâu dài của Đảng trước yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi để hội nhập quốc tế và ĐNQP có những bước phát triển vượt bậc trong thời gian qua, trở thành một phương thức quan trọng để bảo vệ Tổ quốc từ xa, bằng biện pháp hòa bình, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc trong thời kì đất nước đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Cho đến nay, ta đã thiết lập quan hệ, hợp tác quốc phòng với trên 80 nước và tổ chức quốc tế, trong đó có Liên Hợp quốc (LHQ), EU và 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an LHQ.

PV: Trong quan hệ ĐNQP, hai hình thức được nhắc đến là quan hệ song phương và đa phương. Vậy hai hình thức này có tầm quan trọng cũng như ảnh hưởng, liên quan đến nhau thế nào trong quan hệ ĐNQP nói chung, thưa đồng chí?
Trung tướng Vũ Chiến Thắng: Nói một cách đơn giản nhất thì quan hệ song phương là quan hệ giữa hai quốc gia, còn quan hệ đa phương là quan hệ giữa từ ba nước trở lên. Quan hệ song phương là hình thức ra đời trước, có từ rất sớm trên thế giới. Ngoại giao đa phương ra đời muộn hơn, nhằm giải quyết những vấn đề chung giữa nhiều chủ thể, nhiều quốc gia, thường là các vấn đề liên quan đến hòa bình, ổn định, an ninh khu vực và quốc tế, các vấn đề an ninh phi truyền thống như môi trường sinh thái, khủng bố xuyên quốc gia, buôn lậu vũ khí, xung đột sắc tộc và tôn giáo, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia, buôn lậu ma túy, di cư trái phép, cướp biển, rửa tiền… Nhìn chung, nhiều vấn đề nóng trong khu vực và trên thế giới thường phải giải quyết bằng quan hệ đa phương.
Có thể khẳng định hợp tác quốc phòng song phương và đa phương luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau. Quan hệ song phương tốt đẹp chính là điều kiện quan trọng để nhận được sự ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương, ngược lại hợp tác trong lĩnh vực đa phương hiệu quả là điều kiện thuận lợi để nâng cao hiệu quả của hợp tác song phương, đưa nội dung hợp tác đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực, từ đó “lòng tin chiến lược” tiếp tục được củng cố và tăng cường. Nói một cách khác, ĐNQP đa phương chính là hình thức để chúng ta cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ đối ngoại, là thành viên tích cực, chủ động, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, còn ĐNQP song phương đưa đa dạng hóa, đa phương hóa đi vào nội dung cụ thể thiết thực, cùng có lợi giữa ta và quốc gia đối tác. Hai hình thức này luôn gắn bó mật thiết và hỗ trợ cho nhau và được triển khai đồng bộ, toàn diện. 
Tuy nhiên, một vấn đề chỉ giải quyết song phương hay cần đưa ra đa phương không phải lúc nào cũng đạt được sự đồng thuận giữa các bên liên quan. Có những vấn đề cụ thể ta muốn đưa ra đa phương, nhưng bạn lại chỉ muốn giải quyết song phương, vì mỗi bên đều muốn đạt được mục đích mà mình hướng tới. Vì vậy, chỉ riêng việc đạt được thỏa thuận giải quyết song phương hay đưa ra đa phương đôi khi cũng đã là một bước thành công lớn.
 
tauhaiquan
Tàu 381 Hải Quân Việt Nam tham dự Diễn tập thực địa ADMM + về an ninh hàng hải và chống khủng bố 2016 tại Brunei và Singgapore, tháng 4/2016

PV: Thưa đồng chí Cục trưởng, hiện nay, trong hoạt động đối ngoại chúng ta đang tập trung cho những vấn đề gì?
Trung tướng Vũ Chiến Thắng: Nhiệm vụ của ĐNQP là góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược đó là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và như chúng ta đã đề cập ở trên, đó là bảo vệ Tổ quốc từ xa bằng biện pháp hòa bình. Để thực hiện nhiệm vụ đó, trước hết, chúng ta tập trung phát triển quan hệ, hợp tác quốc phòng song phương với các nước một cách thực chất, cùng nhau đạt được lợi ích trong những nội dung mà cả hai bên đều quan tâm, đều có nhu cầu. Với chúng ta, xuất phát từ những đặc điểm về lịch sử, địa lí, hiện tại trong quan hệ quốc phòng với các nước, chúng ta ưu tiên cho khắc phục hậu quả chiến tranh, tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo trong các thảm họa thiên tai. Tiếp đến là nâng cao khả năng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ cho các lực lượng thực thi pháp luật nhất là trên biển, trong đó có hải quân, biên phòng, cảnh sát biển… thông qua hợp tác về đào tạo, trao đổi kinh nghiệm, trang thiết bị. Bên cạnh đó, cần phải nâng cao vị thế, vai trò của quân đội ta trên trường quốc tế thông qua các hoạt động giao lưu, hội nghị hội thảo và đặc biệt là tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình (GGHB) của LHQ. Có thể nói, trong thời gian qua, thông qua ĐNQP, chúng ta đã thu hút được sự quan tâm và hợp tác có hiệu quả của các đối tác trong công tác khắc phục hậu quả chiến tranh, tạo dư luận rất tốt trong xã hội. Với kết quả hợp tác trong các nội dung trên, hợp tác quốc phòng song phương giữa  ta với các nước không chỉ góp phần củng cố lòng tin, tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị, mà còn góp phần tăng cường tiềm lực cho quân đội, qua đó góp phần ngăn ngừa xung đột, thu hẹp các bất đồng, đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực, tạo điều kiện thuận lợi để chúng ta xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong ĐNQP đa phương, chúng ta tiếp tục chủ động, tích cực tham gia và chủ trì các hoạt động quân sự, quốc phòng của khu vực cả trong hội nghị và trên thực địa, trong đó tập trung vào Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Đối thoại Shangri-La… Bên cạnh đó tiếp tục cử các sĩ quan đi làm việc tại các phái bộ GGHB của LHQ, cũng như hoàn tất công tác chuẩn bị để đưa Bệnh viện dã chiến cấp 2 và lực lượng công binh tham gia hoạt động GGHB của LHQ. Thông qua các hoạt động đa phương chúng ta một mặt tăng cường uy tín, vị thế, trách nhiệm của Việt Nam trên trường quốc tế, nhưng một mặt khác rất quan trọng là chúng ta kết hợp hợp tác với đấu tranh để bảo vệ độc lập, tự chủ, chủ quyền lãnh thổ của đất nước.
Tôi xin nói rõ thêm một chút về tăng cường tiềm lực quân đội. Thông qua hội nhập và ĐNQP, chúng ta có điều kiện thu hút các nguồn lực từ bên ngoài để góp phần xây dựng Quân đội ta chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, qua đó nâng cao sức mạnh phòng thủ của đất nước. Theo tôi, yếu tố quan trọng để tạo nên sức mạnh của quân đội, đó là con người, vũ khí trang bị và năng lực điều hành. Do đó trong ĐNQP chúng ta luôn chú trọng tranh thủ sự ủng hộ, trợ giúp của các nước lớn, các nước có nền công nghiệp phát triển. Về con người, đó là hợp tác về đào tạo. Về vũ khí, trang bị là mua sắm, chuyển giao công nghệ cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cũng như khả năng của đất nước. Về năng lực điều hành là trao đổi kinh nghiệm, tham gia tập huấn, hội thảo v.v... Hiện nay, chúng ta chủ trương thúc đẩy hợp tác về công nghiệp quốc phòng theo hướng ưu tiên chuyển giao công nghệ và sản xuất các sản phẩm lưỡng dụng. Vì như các đồng chí biết đấy, đất nước ta đang đẩy mạnh xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hóa, vì vậy nếu công nghiệp quốc phòng của chúng ta mà chỉ tập trung cho sản phẩm quân sự, nhất là trong điều kiện thời bình sẽ là không hợp lí mà công nghiệp quốc phòng cần phải tận dụng cơ sở vật chất cũng như con người để đóng góp cho phát triển kinh tế của đất nước.  

PV: Đối với quốc gia nào cũng vậy, mối quan hệ với những quốc gia có chung biên giới luôn được đặc biệt chú trọng. Chúng ta đang giữ được ổn định, hòa bình với các nước láng giềng, góp phần giữ gìn hòa bình chung của khu vực, vậy những điều gì được đặc biệt chú ý trong quan hệ đối ngoại với các nước này, thưa đồng chí?
Trung tướng Vũ Chiến Thắng: Quan hệ quốc phòng với các nước có biên giới liền kề luôn là ưu tiên hàng đầu trong chính sách ĐNQP Việt Nam. Việc đầu tiên trong quan hệ với các quốc gia láng giềng là tạo sự tin cậy. Muốn có lòng tin thì trước hết trong quan hệ hợp tác cần phải minh bạch, rõ ràng về lợi ích của mỗi nước. Muốn vậy, trước hết chúng ta cần phải xây dựng đường biên giới rõ ràng trên cơ sở các văn bản pháp lí. Với  Trung Quốc, Lào, Campuchia chúng ta đang thực hiện theo hướng này. Cho đến nay, chúng ta đã hoàn thành xong việc phân giới cắm mốc biên giới trên bộ với Trung Quốc và kí hiệp định về biên giới với nước bạn; cùng với Lào triển khai việc tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc biên giới và đến nay đã cơ bản hoàn thành; công tác phân giới, cắm mốc biên giới trên bộ với Cam-pu-chia đang tiếp tục thực hiện và có triển vọng tích cực.
Tuy nhiên, có được đường biên giới rõ ràng thôi thì chưa đủ. Để giữ được quan hệ ổn định, lâu dài với các nước láng giềng thì phải đạt được ba điều: Xây dựng và giữ vững được lòng tin; giữ được biên giới ổn định; và xây dựng biên giới cùng phát triển. Khu vực biên giới muốn hòa bình, cùng phát triển thì phải có lợi ích đan xen, phải có những hoạt động hợp tác thiết thực, cụ thể. Ví dụ các hoạt động giao lưu, kết nghĩa giữa các thôn bản, giữa các đơn vị quân đội đóng quân gần biên giới; tổ chức tuần tra chung giữa lực lượng bảo vệ biên giới hai bên, định kì họp, trao đổi tình hình, phối hợp xử lí các vấn đề phát sinh, tạo môi trường thuận lợi cho nhân dân hai bên biên giới có điều kiện phát triển kinh tế… Điểm nổi bật trong quan hệ với các nước có biên giới liền kề đó là từ năm 2014, ta và Trung Quốc đã tổ chức “Giao lưu Hữu nghị Quốc phòng biên giới Việt - Trung” thường niên do Bộ trưởng Quốc phòng hai nước chủ trì. Bên cạnh đó, bộ đội biên phòng của ta cũng chủ trì “Giao lưu biên cương thắm tình hữu nghị” với lực lượng bảo vệ biên giới 4 nước (Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia). Thời gian tới, chúng ta sẽ nghiên cứu tổ chức giao lưu với Lào và Cam-pu-chia như với Trung Quốc. Tôi cho rằng đây là một hoạt động mang ý nghĩa rất thiết thực, tạo nên sự gần gũi, thân thiết cũng như sự phối hợp, hiệp đồng trong công tác giữa quân đội ta và quân đội các nước bạn, được sự ủng hộ của nhân dân. 

PV: Ngoại giao nói chung, ĐNQP nói riêng, luôn mang màu sắc, dấu ấn văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc. Đồng chí có thể nói rõ về khía cạnh hóa này trong đường lối ĐNQP của chúng ta?
Trung tướng Vũ Chiến Thắng:  Mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới đều có những nét văn hóa riêng đặc trưng của mình. Ngoại giao của quốc gia nào đương nhiên phải mang màu sắc văn hóa của quốc gia đó. Với Việt Nam chúng ta, những nét đặc trưng nhất có thể kể đến như: Trọng tình nghĩa, tính cộng đồng, tính tế nhị và hòa thuận trong giao tiếp, và đặc biệt là tính hòa hiếu. Cho đến nay, bạn bè thế giới đều cảm phục Việt Nam ở quan điểm “gác lại quá khứ”. Tôi cho rằng đây là quan điểm rất nhân văn, ta “gác lại” để hướng tới tương lai chứ ta không “quên” quá khứ. Với quan điểm đó, đến nay chúng ta đã thiết lập quan hệ với các nước đã từng gây ra chiến tranh với chúng ta và chúng ta luôn trân trọng những gì họ đã làm cùng chúng ta để hàn gắn lại những vết thương do chiến tranh để lại, cùng chung tay xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.
Nói đến ĐNQP, là nói đến những người mang trên mình màu áo lính thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ xa bằng biện pháp hòa bình. Mà đã là lính thì  tính kỉ luật, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” phải đặt lên hàng đầu. Phát huy nét đặc trưng văn hóa của dân tộc Việt Nam, trong quá trình triển khai hợp tác quốc phòng với các quốc gia, quân đội ta luôn đặt chữ tín lên hàng đầu; thực hiện các thỏa thuận, cam kết một cách nghiêm túc; luôn thể hiện tính chân thành, thực tâm hợp tác vì lợi ích đôi bên, vì hòa bình của nhân loại; cam kết đi đôi với hành động; vì lợi ích của đất nước nhưng tôn trọng lợi ích của đối tác, lợi ích chung của khu vực; khi hợp tác với nước này không làm phương hại đến lợi ích của  nước khác. Đất nước chúng ta trải qua một thời gian dài chiến tranh, chúng ta xây dựng đất nước trong bối cảnh đi sau rất nhiều nước bạn bè khác, nhưng trong quan hệ hợp tác chúng ta không tự ti, luôn có thái độ cầu thị, khiêm tốn, có cách ứng xử nhân văn trong các mối quan hệ. Mặc dù chúng ta đã đổi mới đất nước được 30 năm, đất nước đã mạnh lên rất nhiều, nhưng chúng ta cũng vẫn còn nằm trong số các nước đang phát triển, phía trước còn nhiều khó khăn. Tuy vậy, với đạo lí “uống nước nhớ nguồn”, chúng ta luôn nhớ đến sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế đã giúp chúng ta trong công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước và coi đó là các nước “bạn bè truyền thống” để hợp tác. Chúng ta đã tổ chức các hoạt động tri ân đối với các cố vấn, chuyên gia, các cựu chiến binh đã từng giúp chúng ta. Thực tế đó thể hiện tình cảm quốc tế trong sáng, thủy chung của nhân dân Việt Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam với bạn bè quốc tế, đồng thời nó cũng phản ánh bản sắc văn hóa quân sự, quốc phòng của chúng ta trong quan hệ quốc tế hiện đại.
Cuối cùng, tôi cho rằng, trước sau như một, chúng ta theo đuổi chính sách quốc phòng, ĐNQP hòa bình; chúng ta chủ động, tích cực đóng góp vào việc duy trì môi trường hòa bình, ổn định của khu vực và trên thế giới; chúng ta làm tất cả để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, nhưng không phải là bất chấp luật pháp quốc tế. Trái lại, chúng ta giải quyết các vấn đề trên cơ sở luật pháp quốc tế, bằng biện pháp hòa bình, tôn trọng lợi ích chính đáng của mỗi nước cũng như lợi ích chung của khu vực, và đó chính là cái cốt lõi nhất, thể hiện bản sắc văn hóa ĐNQP Việt Nam trong thời đại ngày nay.

PV: Thật là một công việc quá bề bộn phải không ạ! Nhân đây, chúng tôi muốn hỏi thêm: Để làm công tác ngoại giao đã khó, làm công tác ĐNQP càng khó hơn, vì ĐNQP là một lĩnh vực cực kì nhạy cảm. Vậy chúng ta đang xây dựng đội ngũ những người làm công tác ĐNQP như thế nào?
Trung tướng Vũ Chiến Thắng: Các đồng chí đã nêu ra một vấn đề mà chúng tôi luôn coi là một bài toán khó từ nhiều năm nay, và chắc sẽ còn khó trong những năm tới. Tiêu chí của cán bộ làm công tác đối ngoại ngoài khả năng ngoại ngữ và tin học giỏi mà chúng tôi chỉ coi là một “phương tiện” thì cần phải có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực chính trị, quan hệ quốc tế, bên cạnh đó thì phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị là yếu tố không thể thiếu. Do đó để trở thành một cán bộ làm công tác ĐNQP giỏi, ngoài những tiêu chí tôi nêu trên thì kinh nghiệm tích lũy trong quá trình công tác cũng không kém phần quan trọng và muốn trở thành một cán bộ đối ngoại giỏi không gì hơn khác là phải luôn vận động, học hỏi và tích lũy kinh nghiệm. Hiện nay, quân đội ta chưa có trường đào tạo chuyên ngành về quan hệ quốc tế, mà mới chỉ có Khoa Quan hệ quốc tế của Học viện Khoa học quân sự, do vậy nhu cầu chưa thể đáp ứng nổi. Chúng tôi tuyển chọn cán bộ từ nhiều nguồn khác nhau, từ sinh viên tốt nghiệp các trường đại học trong và ngoài nước đến các cán bộ đang công tác ở các cơ quan trong và ngoài quân đội, chúng tôi luôn mở rộng cửa để đón họ. Tuy nhiên các ứng viên cũng phải qua kì sát hạch theo các tiêu chí trên, đây cũng không phải là một “cửa ải” dễ dàng. Hiện tại, số lượng cán bộ đối ngoại so với yêu cầu nhiệm vụ hiện nay vẫn còn rất thiếu, ở cả cấp chiến lược và chiến dịch. Do vậy, công tác tuyển chọn, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ là một trong những nhiệm vụ được lãnh đạo, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng rất quan tâm hiện nay.  

PV: Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà ngoại giao kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, Người cũng để lại cho ngành ngoại giao nói chung, ngoại giao quân sự nói riêng rất nhiều bài học. Là một người làm công tác ĐNQP lâu năm, đồng chí cảm thấy tâm đắc nhất với bài học nào của Người?
Trung tướng Vũ Chiến Thắng: Với ngành ngoại giao, Bác Hồ của chúng ta đã đúc kết trong tư tưởng của người đó là “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, tư tưởng này đã ngấm rất sâu vào trong mỗi cán bộ ngoại giao nói chung và ĐNQP nói riêng, luôn là kim chỉ nam đối với chúng tôi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong ngoại giao có thể hiểu là: nguyên tắc thì không thay đổi, biện pháp thì phải linh hoạt. Bất biến có thể kể ra nhiều, nhưng có ba điểm bất biến quan trọng ở đây đó là: độc lập tự chủ, chủ quyền lãnh thổ, lợi ích quốc gia, không gì có thể đánh đổi được. Còn vạn biến ở đây là trong quá trình bảo vệ cái bất biến thì cần phải làm sao khôn khéo, đi những bước đi phù hợp, giải quyết hợp tình hợp lí, tạo ra được lợi ích cho đối tác, tôn trọng đối tác và đặc biệt không để xảy ra đối đầu, xung đột. Chính vì nhờ có tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Người mà thời gian qua mặc dù tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến vô cùng phức tạp, chủ quyền lãnh thổ của chúng ta có lúc bị đe dọa nghiêm trọng, nhưng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Đảng, Chính phủ, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, ĐNQP của chúng ta đã góp phần xứng đáng vào công cuộc bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ, lợi ích quốc gia, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực, trở thành một trong những trụ cột quan trọng trong mối quan hệ quốc tế chung của đất nước.

PV: Tình hình thế giới và khu vực đang và sẽ còn có nhiều diễn biến phức tạp, đan xen cả thời cơ và thách thức. Theo đồng chí, để công tác ĐNQP đạt hiệu quả, thực hiện đúng nghĩa nhiệm vụ “bảo vệ Tổ quốc từ xa bằng biện pháp hòa bình”, thời gian tới sẽ phải chú trọng những nội dung gì?
Trung tướng Vũ Chiến Thắng: Chủ trương của Đảng, Nhà nước và quân đội ta là đẩy mạnh hội nhập quốc tế về quốc phòng. Quân ủy Trung ương cũng đã ban hành Nghị quyết 806-NQ/QUTW về hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Đây là định hướng cơ bản, tạo cơ sở nền tảng đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng lên tầm cao mới, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác quốc phòng song phương với các nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất. Tiếp tục ưu tiên quan hệ, hợp tác với các láng giềng có biên giới liền kề, các nước lớn, các nước ASEAN và các nước bạn bè truyền thống, đồng thời mở rộng quan hệ, hợp tác với các nước có tiềm năng, tập trung vào các lĩnh vực hợp tác đáp ứng được nhu cầu, phù hợp với khả năng của cả hai bên. Chủ động và tích cực tham gia các hoạt động hợp tác quốc phòng, quân sự trong khuôn khổ ASEAN, ASEAN với các đối tác đối thoại, để góp phần duy trì sự đoàn kết, tính đồng thuận và vai trò chủ đạo của ASEAN trong các cơ chế an ninh khu vực. Tiếp tục đưa ra các sáng kiến thiết thực, tham gia đầy đủ các hoạt động trên thực tế. Bên cạnh đó, tiếp tục chuẩn bị kĩ lưỡng lực lượng, phương tiện để tham gia các hoạt động gìn giữ hoà bình của LHQ như chúng ta đã cam kết.
Trong thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, đan xen giữa thời cơ và nguy cơ, đặt ra yêu cầu mới ngày càng cao đối với công tác ĐNQP. Chúng ta sẽ gặp nhiều thuận lợi nhưng khó khăn thách thức cũng không ít. Tôi tin rằng với nỗ lực, quyết tâm và sự phấn đấu không ngừng, ĐNQP chúng ta sẽ tiếp tục có những đóng góp to lớn trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của đất nước.
     
PV: Xin trân trọng cám ơn Cục trưởng!
 
ĐỖ BÍCH THÚY ghi
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo