Nâng cao "thế trận lòng dân" để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Thứ sáu - 11/11/2016 12:02
thieu tuong trinh van quyet
Thiếu tướng Trịnh Văn Quyết
Tiết thu, trời dâng cao ngăn ngắt, mở ra không gian vời vợi xanh, thứ màu xanh nhạt mà óng ả đặc trưng của miền trung du ấy càng làm cho cuộc đối thoại của chúng tôi, những nhà văn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội với Thiếu tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Đảng ủy - Chính ủy Quân khu 2, về quá trình 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của LLVT Quân khu thêm đậm đà, ý vị về đất và người trên một địa bàn chiến lược quan trọng của Tổ quốc…
 
PV: Thưa đồng chí Thiếu tướng Trịnh Văn Quyết, suốt những chặng đường trên vùng đất Tây Bắc tươi đẹp, chúng tôi đều cảm nhận được không khí vui mừng, phấn khởi của quân và dân Tây Bắc đang chuẩn bị kỉ niệm 70 năm ngày thành lập LLVT Quân khu 2 (19/10/1946 - 19/10/2016). Xin đồng chí có đôi nét khái quát quá trình thành lập và địa bàn hoạt động của LLVT Quân khu?
Thiếu tướng Trịnh Văn Quyết: Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công với đỉnh cao là sự ra đời của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, quốc gia độc lập đầu tiên ở Đông Nam Á. Để bảo vệ và củng cố thành quả cách mạng, tháng 10/1945, Chính phủ quyết định thành lập các Chiến khu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 9, 11. Một số tỉnh như Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang thuộc Chiến khu 1; Sơn La, Lai Châu thuộc Chiến khu 2… Đến ngày 19/10/1946, Đảng và Chính phủ quyết định thành lập Chiến khu 10 và để phù hợp điều kiện mới của cuộc kháng chiến, tiếp tục thành lập Khu 14 gồm huyện Mai Đà (Hòa Bình), vùng Tây Nam Phú Thọ sáp nhập với Sơn La, Lai Châu. Năm 1948, Khu 10 và Khu 14 được sáp nhập thành Liên khu 10, lúc này địa bàn Liên khu 10 gần như trùng với địa bàn Quân khu 2 hiện nay.
Trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, địa bàn Quân khu được sáp nhập gồm Liên khu 10 và Liên khu 1 thành Liên khu Việt Bắc. Ngoài Bộ tư lệnh Liên khu Việt Bắc còn có Bộ tư lệnh mặt trận Tây Bắc đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giải phóng Tây Bắc. Đến tháng 5/1955, thành lập Quân khu Tây Bắc đến hết cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ xâm lược thắng lợi; giữa năm 1976, Quân khu Tây Bắc sáp nhập thành Quân khu 1. Đến ngày 21/6/1978, Quân khu 2 được thành lập, bao gồm các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hà Tuyên, Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Phú.

PV: Vâng, như vậy có thể thấy, đứng trước sự biến động của lịch sử và tình hình chiến sự từng thời điểm, địa bàn Quân khu luôn được điều chỉnh cho phù hợp cuộc chiến tranh nhân dân rộng khắp của quân và dân ta. Đồng chí có thể nêu một số trận đánh tiêu biểu của LLVT Quân khu và nhân dân các dân tộc Tây Bắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cho bạn đọc được biết?
Thiếu tướng Trịnh Văn Quyết: Quân khu 2, nằm ở vị trí địa - chính trị chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại, bảo vệ các tỉnh vùng Tây Bắc và nửa phía tây của miền Bắc Việt Nam. Xuyên suốt quá trình thành lập, xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, LLVT Quân khu và nhân dân các dân tộc Tây Bắc đã anh dũng chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược, giành chiến thắng vẻ vang, góp phần quyết định vào sự tan rã thảm bại của địch, cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta giữ vững chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng, giữ vững độc lập tự do của Tổ quốc.
Trong kháng chiến chống Pháp, LLVT Quân khu 2 đã tham gia hơn 20 chiến dịch, tiêu biểu như chiến dịch Thu Đông (1947),  quân và dân Khu 10, Khu 11, Khu 14 đã dũng cảm chiến đâu tiêu diệt phần lớn cánh quân Com-muy-nan, bẻ gãy “gọng kìm Sông Lô” trong chiến dịch tiến công lên Việt Bắc của thực dân Pháp. Trung đoàn 148 tích cực chặn đánh địch bảo vệ Tây Nam Phú Thọ. Trung đoàn 92 Phú Yên chiến đấu ngoan cường chặn đứng các cuộc tiến công của địch từ Nghĩa Lộ, Than Uyên ra phía ven hữu ngạn sông Hồng. Trung đoàn 87, Trung đoàn 112 và các Trung đội pháo binh của Quân khu đã tổ chức nhiều trận phục kích, gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề trên đường số 2 và sông Lô. Đến tháng 12/1947 gọng kìm phía tây của giặc Pháp đã bị bẻ gãy. Quân và dân Khu 10 đã viết nên bản hùng ca sông Lô hào hùng với những chiến thắng Khoan Bộ, Đoan Hùng, Bình Ca, Khe Lau, Mác Khan... Trên mặt trận sông Lô, quân và dân Khu 10 đã diệt 1.200 tên địch, bắn chìm và cháy 15 tàu chiến các loại của thực dân Pháp…
Từ ngày 8/2 đến 10/3/1950, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Bắc tiếp tục mở chiến dịch Lê Hồng Phong 1. Kết quả đã tiêu diệt 470 tên địch, làm bị thương 230 tên, bắt và gọi hàng 191 tên, phá và thu nhiều vũ khí quân trang, quân dụng của địch, giải phóng trên 1000 km2 với hơn 1 vạn dân. Trong chiến dịch Lý Thường Kiệt (tháng 10/1951), tham gia chiến dịch giải phóng Tây Bắc (năm 1952) ta đã tiêu diệt 1.005 tên địch, bắt sống 5.024 tên, diệt gọn 4 tiểu đoàn và 24 đại đội, đánh thiệt hại nặng nhiều tiểu đoàn cơ động của địch, giải phóng vùng đất rộng 28.500 km2 với 25 vạn dân. Đầu năm 1953, phối hợp với bộ đội chủ lực, quân và dân Tây Bắc đã tiến công phỉ ở khắp nơi, tiêu diệt trên 7.000 tên, hoàn thành tốt nhiệm vụ tiễu phỉ, trừ gian ở Tây Bắc.
Trong chiến dịch Thu Đông (1953 - 1954) mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, với tinh thần Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng, nhân dân các dân tộc Tây Bắc đã tự nguyện tham gia đóng góp nhiều sức người, sức của cho chiến dịch: 7.310 tấn gạo (vượt chỉ tiêu 347 tấn, bằng hơn 1/4 số lượng gạo toàn chiến dịch), 389 tấn thực phẩm, huy động 27.657 lượt dân công. Các đơn vị Trung đoàn 174, Trung đoàn 98 của Đại đoàn 316 đã trực tiếp tham gia chiến dịch với những trận đánh xuất sắc trên đồi A1, A3, C1, C2 và sân bay Mường Thanh. Đặc biệt trên đồi Al, cao điểm phòng ngự then chốt trên hướng Đông của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra giằng co hết sức gay go, ác liệt. Khối bộc phá gần 1.000 kg do bộ đội ta đào hầm và đặt trong lòng đồi A1 được phát nổ là hiệu lệnh xung phong toàn mặt trận, tổng công kích vào sở chỉ huy của quân Pháp, bắt sống tướng Christian de Castries.
Quân và dân các dân tộc Tây Bắc đã góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu buộc thực dân Pháp phải kí hiệp định Genève, chấm dứt gần một thế kỉ xâm lược đất nước ta…

PV: Ngoài chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử “lừng lẫy năm châu - chấn động địa cầu”, địa bàn Quân khu 2 còn là chiến trường chủ yếu trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (1979-1989). Xin đồng chí Chính ủy khái quát một số nét về cuộc đấu tranh kiên cường của quân và dân Quân khu 2?
Thiếu tướng Trịnh Văn Quyết: Ngày 17/02/1979 đến 16/3/1979 quân và dân các dân tộc trên địa bàn Quân khu đã cùng với quân và dân cả nước dũng cảm kiên cường đánh bại cuộc tiến công xâm lược của đối phương ở biên giới phía Bắc. Riêng hướng Quân khu 2 đã chiến đấu với 3 quân đoàn của đối phương. Sư đoàn 316, Sư đoàn 355, Sư đoàn 313 đã cùng với LLVT các tỉnh anh dũng chiến đấu đánh bại nhiều cuộc tiến công của đối phương, gây cho chúng nhiều tổn thất nặng nề, buộc phải rút về bên kia biên giới.
Ngày 16/3/1979 đến đầu năm 1989, trên biên giới phía Bắc còn phức tạp, đối phương vẫn tiếp tục lấn chiếm biên giới, tuyến biên giới Hà Tuyên trở thành điểm nóng của cả nước: ngã ba Phong Quang, khu vực 4 hầm đồi Cô Ích, đồi Đài, cao điểm 1509... đã trở thành địa danh, chiến tích được cả nước biết đến.
Trong thời gian này, LLVT Quân khu đã được củng cố và phát triển đáp ứng yêu cầu tình hình nhiệm vụ mới. Quân đoàn 29 với các Sư đoàn và các đơn vị binh chủng trực thuộc được thành lập phòng thủ hướng Hoàng Liên Sơn. Sư đoàn 356, 313, 314 cùng một số Trung đoàn của các tỉnh và chủ lực của Bộ thay phiên nhau làm nhiệm vụ chiến đấu phòng thủ tuyến Hà Tuyên. Sư đoàn 326 và một số đơn vị khác phòng thủ hướng Lai Châu… phối hợp chặt chẽ với các đơn vị và LLVT địa phương  quyết tâm chiến đấu bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.
Trước tinh thần chiến đấu quật cường của quân và dân ta, từ đầu năm 1989, đối phương buộc phải xuống thang, rút khỏi nhiều điểm lấn chiếm trái phép. Qua 10 năm chiến đấu, LLVT Quân khu 2 cùng với đồng bào các dân tộc trên địa bàn đã anh dũng chiến đấu, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, ác liệt, vừa chiến đấu vừa xây dựng, từng bước trưởng thành, hiệu suất chiến đấu ngày càng cao, ta đã buộc đối phương phải rút khỏi những dải đất nơi biên cương đã lấn chiếm. Đó là thắng lợi có ý nghĩa quan trọng đối với quân và dân các dân tộc Tây Bắc, đồng thời cũng là thắng lợi chung của toàn quân, toàn dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc.
 
IMG 0162
Duyệt binh kỉ niệm chiến thắng 60 năm tại Điện Biên Phủ - Ảnh: PV


PV: Vị trí địa - chính trị chiến lược của Quân khu có những nét nổi bật gì thưa đồng chí?
Thiếu tướng Trịnh Văn Quyết: Quân khu 2 án ngữ vùng Tây Bắc rộng lớn, bao gồm 9 tỉnh (5 tỉnh biên giới) diện tích trên 65.000 km2, dân số trên 7 triệu người với 34 dân tộc cùng chung sống; có đường biên giới quốc gia dài 1.373,5 km giáp Trung Quốc và Lào. Kinh tế còn nhiều khó khăn, có 26/62 huyện nghèo của cả nước, địa hình chủ yếu là núi rừng hiểm trở; tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội còn nhiều phức tạp; trong nội địa, các hoạt động truyền đạo trái pháp luật, di cư tự do, tệ nạn xã hội vẫn còn diễn ra. Các địa phương trên địa bàn Quân khu có tiềm năng lớn về lâm sản, khoáng sản, thủy năng, du lịch, dịch vụ... nhưng chưa khai thác được nhiều; cơ sở hạ tầng phát triển chậm; trình độ dân trí nhiều nơi còn thấp, nhất là ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, vùng cao xa xôi hẻo lánh. Tình hình khí hậu, thủy văn diễn biến bất thường, hằng năm bão lốc, lũ ống, lũ quét xảy ra ở nhiều nơi, gây thiệt hại lớn về người, tài sản của Nhà nước và nhân dân...

PV: Với tình hình địa bàn như vậy, công tác xây dựng nền Quốc phòng toàn dân (QPTD), thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân của Quân khu đã được thực hiện ra sao?
Thiếu tướng Trịnh Văn Quyết: Chúng tôi xây dựng nền QPTD trong điều kiện có nhiều thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Thế nhưng, với những cố gắng vượt bậc của Quân khu cũng như của cấp ủy, chính quyền và nhân dân các tỉnh trên địa bàn, đến nay việc xây dựng nền QPTD, thế trận QPTD gắn với thế trận an ninh nhân dân đã đạt được kết quả quan trọng trên nhiều mặt; chất lượng tổng hợp, trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh chiến đấu của các LLVT (cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng và dân quân, tự vệ) được nâng lên toàn diện và vững chắc hơn; tạo thế và lực mới về quốc phòng - an ninh, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ vững chắc biên giới quốc gia, chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc. Có được kết quả đó là do Quân khu và các tỉnh đã có sự đồng thuận và quyết tâm chính trị cao trước nhiệm vụ; đồng thời, phát huy được hiệu quả của cơ chế lãnh đạo, quản lí quốc phòng thống nhất trong toàn Quân khu. Việc các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đều là ủy viên Đảng ủy Quân khu; các Bí thư Tỉnh ủy, Huyện ủy đều là Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh, Đảng ủy Quân sự huyện càng có điều kiện phát huy tốt hiệu lực lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ xây dựng nền QPTD. Những năm qua, chế độ sinh hoạt định kì của Đảng ủy Quân khu, Đảng ủy Quân sự cấp tỉnh, huyện; các hội nghị triển khai công tác quốc phòng giữa Bộ tư lệnh Quân khu với chính quyền và các ngành của các tỉnh và tiếp theo là Chủ tịch tỉnh tổ chức hội nghị triển khai công tác quốc phòng trong toàn tỉnh đã đi vào nền nếp. Mối quan hệ giữa Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu với Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân các tỉnh, giữa các cơ quan quân sự tỉnh, huyện với cấp ủy đảng, chính quyền cùng cấp đều rất mật thiết. Cấp ủy, chính quyền các cấp đều xác định nhiệm vụ quốc phòng là một trọng tâm công tác, được tập trung lãnh đạo, được các cấp, các ngành đầu tư nhân lực, vật lực và tổ chức thực hiện chủ động, sáng tạo. Tuy kinh tế còn nhiều khó khăn, lại bị ảnh hưởng bởi thiên tai thường xuyên, luôn phải đề nghị trung ương hỗ trợ ngân sách, nhưng các tỉnh vẫn chủ động cân đối, đầu tư đáp ứng nhu cầu của quốc phòng. Thực tế cho thấy, giữ vững mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ giữa Quân khu với các tỉnh và duy trì các hoạt động của cơ chế lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng ngày càng có chất lượng là một đảm bảo chắc chắn cho việc thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, xây dựng nền QPTD trên địa bàn Quân khu.

PV: Với đường biên giới quốc gia dài 1.373,5 km giáp hai quốc gia bạn là Trung Quốc và Lào, công tác đối ngoại quân sự chắc chắn là một nhiệm vụ quan trọng để góp phần giữ vững ổn định và phát triển biên giới, xin đồng chí cho biết những nội dung chính đã và đang đạt được trong công tác này?
Thiếu tướng Trịnh Văn Quyết: Đảng bộ Quân khu đã triển khai toàn diện, chặt chẽ, có hiệu quả hoạt động đối ngoại quân sự, chú trọng xây dựng mối quan hệ với quân đội Lào, Trung Quốc; tổ chức kết nghĩa giữa các đơn vị Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Sư đoàn thuộc Quân đội hai nước Việt Nam - Lào; phối hợp tổ chức các hoạt động tham quan, trao đổi kinh nghiệm, tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ các ngành; phối hợp với các cấp ủy, chính quyền các địa phương triển khai tốt các hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần tăng cường mối đoàn kết, hữu nghị Việt Nam - Lào, Việt Nam - Trung Quốc. Tổ chức các đoàn cán bộ của Quân khu đi làm việc ở nước ngoài, đón tiếp các đoàn cán bộ nước ngoài đến thăm, làm việc tại Quân khu bảo đảm chặt chẽ, trọng thị, đúng nguyên tắc đối ngoại. Trong thời gian qua, Quân khu đã bàn giao 28 nhà tình nghĩa cho các gia đình chính sách tại các tỉnh Bắc Lào. Đó là minh chứng sinh động, thể hiện LLVT Quân khu thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ: Việt Lào hai nước chúng ta/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà - Cửu Long.
Đồng thời, Quân khu đã phối hợp các lực lượng triển khai đề án xây dựng đường tuần tra biên giới, tham gia phân giới, chỉ đạo tăng dày 291 cột mốc đường biên, hàng trăm bản làng giáp tuyến biên giới được đầu tư nâng cấp đường sá. Công tác quản lí biên giới chặt chẽ hơn, các hoạt động vi phạm chủ quyền, vượt biên trái phép được ngăn chặn kịp thời. Biên giới phía Bắc, Tây Bắc xanh hơn, lòng dân vùng biên no ấm và vững vàng hơn bởi công sức, bàn tay người chiến sĩ.

PV: Giữ vững ổn định về chính trị trên một địa bàn chiến lược rộng lớn, còn nhiều khó khăn như vậy, LLVT Quân khu 2 đã làm gì để nâng cao “thế trận lòng dân”, xây dựng mối đoàn kết quân dân ngày càng gắn bó?
Thiếu tướng Trịnh Văn Quyết: Toàn Quân khu có 1.502 xã, phường, thị trấn, trong đó một phần quan trọng các cơ sở nằm ở vùng sâu, vùng xa chỉ có các dân tộc thiểu số sinh sống. Nhìn chung, đời sống vật chất, tinh thần, trình độ dân trí, cơ sở hạ tầng, hệ thống chính trị... ở các cơ sở vùng này còn nhiều khó khăn và hạn chế.  LLVT Quân khu chủ động triển khai thực hiện tốt công tác dân vận, bám sát cơ sở địa bản vùng sâu, vùng cao với nhiều hình thức, phối hợp tuyên truyền, vận động nhân dân, tích cực tham gia phong trào Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới tại 130 xã, xóa 218 thôn bản trắng đảng viên, góp phần củng cố cơ sở chính trị, di dân tái định cư, phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng củng cố trường, lớp học, các công trình thiết yếu, các hoạt động giao lưu kết nghĩa, giúp dân xóa đói giảm nghèo.
Bên cạnh đó, các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế xã hội và củng cố quốc phòng an ninh phải được cụ thể hóa sát với nhu cầu, nguyện vọng và mang lại lợi ích thiết thực cho từng địa bàn cơ sở hay dân tộc; tổ chức thực hiện phải hết sức linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với phong tục, tập quán và truyền thống của từng dân tộc. Do trình độ văn hóa của không ít cán bộ chủ chốt ở xã, thôn, bản còn thấp, nên việc triển khai các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế xã hội và củng cố quốc phòng an ninh phải ngắn gọn, dễ hiểu, tránh dùng nhiều văn kiện; phải trên cơ sở xây dựng các mô hình xã, thôn, bản vững mạnh toàn diện hoặc vững mạnh về quốc phòng an ninh rồi tổ chức tham quan, giới thiệu kinh nghiệm cụ thể. Thực tiễn của Quân khu đã chứng minh đây là cách làm đạt hiệu quả nhất. Từ nền tảng đó nâng cao sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, tạo dựng lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày càng vững chắc.

PV: Vâng, đứng trước những thuận lợi, thời cơ và thách thức mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay, xin đồng chí cho biết những định hướng trong nhiệm vụ xây dựng, phát triển LLVT Quân khu trong thời gian tới?
Thiếu tướng Trịnh Văn Quyết: Đảng bộ Quân khu luôn quán triệt sâu sắc đường lối chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân của Đảng, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Quân khu, đề ra chủ trương giải pháp đúng đắn phù hợp nhằm xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc, đủ sức làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch. Thường xuyên chăm lo củng cố, tăng cường đoàn kết các dân tộc, đoàn kết quân dân để xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, đoàn kết quốc tế, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, hệ thống chính trị và LLVT Quân khu trong cơ chế phối hợp hành động thống nhất, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Luôn coi trọng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của LLVT Quân khu, nắm vững định hướng lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở, bảo đảm cho LLVT Quân khu luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Chú trọng củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng trong LLVT Quân khu, bảo đảm sự lãnh đạo vững chắc và có hiệu quả của Đảng trong mọi hoạt động.
Đồng thời, thường xuyên bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực, trí tuệ, tính tiền phong gương mẫu về đạo đức, phong cách, lối sống, năng lực chỉ đạo và tổ chức hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng với những phát triển mới của tình hình, nhiệm vụ… Góp phần xây dựng LLVT Quân khu 2 vững mạnh về mọi mặt, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

PV: Xin cám ơn đồng chí Chính ủy!

LÝ HỮU LƯƠNG ghi


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu thuyết của Gabriel García Márquez

Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu...

Cuộc đời của Escobar là khối mâu thuẫn lớn, bởi sự đối lập giữa thiện - ác, thiên thần - ác quỷ, nhân từ - máu lạnh, do đó, hắn có sự hấp dẫn lớn đối với quần chúng hơn bất kì tên trùm tội phạm nào. (PHAN TUẤN ANH)

 
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ - nguyên mẫu và nỗi oan của một con người

Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ -...

Trong các tiểu thuyết của tôi, nhân vật chính hay phụ đều được xây dựng từ những chi tiết rất thực mà tôi tích lũy được. Thường thì, chỉ từ một chi tiết rất nhỏ, bất chợt gặp trong đời sống mà tôi hình dung ra tính cách của một con người. (XUÂN ĐỨC)

 
Lần đầu tiên một nhân vật tiểu thuyết có chức danh này

Lần đầu tiên một nhân vật tiểu...

Ai đọc cũng nhận ra tâm thế người viết là người trong cuộc, là xây dựng chứ đâu phải là người đứng ngoài chửi đổng cho sướng miệng. (Bài viết của NGUYỄN BẮC SƠN).

 
"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh ghép kí ức

"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh...

Là truyện ngắn viết bằng nỗi nhớ và kí ức nên hầu hết các nhân vật trong truyện đều được tôi nhào nặn từ các nguyên mẫu. Nhưng để có được một nhân vật hoàn chỉnh tôi đã “thuổng” của đồng đội mỗi người một vài nét ngoại hình, tính cách

 
Thực tế đời sống và nhân vật trong "Dòng sông phẳng lặng"

Thực tế đời sống và nhân vật trong...

Trong cuộc đời viết văn của mình, rất hiếm trường hợp tôi lấy nguyên mẫu ngoài đời để tạc nên nhân vật trong tác phẩm. Nhưng không có thực tế đời sống thì không thể làm nên các nhân vật đó. (Tô Nhuận VĨ)

Quảng cáo