Phạm Huy Thông - Nhà thơ làm nghiên cứu khoa học

Thứ năm - 22/12/2016 15:24
chu phoong arial moi copy - Nhân kỉ niệm 100 năm nhà thơ Phạm Huy Thông (1916-2016), ngày 22/12, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức toạ đàm về thơ ông tại trụ sở hội, số 9 Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội.

Chia sẻ trong toạ đàm, có 6 tham luận của các nhà thơ, nhà phê bình văn học về 100 năm thơ và đời của nhà thơ Phạm Huy Thông. Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, đã kể lại những ấn tượng, khâm phục của mình về những lần gặp nhà thơ Phạm Huy Thông.

 
Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm

Thành tựu riêng
Phạm Huy Thông (1916-1998) là nhà khoa học, hoạt động chính trih xã hội và sau cùng là nhà thơ. Ông làm thơ từ năm 15 tuổi và có bài đăng trong nhiều ấn phẩm, ông cũng đã xuất bản các tập thơ gồm: Tiếng sóng, Yêu đương, Anh Nga (1934), Tiếng địch sông Ô (1935), Tần Ngọc, Tây Thi (1937),...

Thơ Phạm Huy Thông chủ yếu là thơ tình yêu, ca ngợi sắc đẹp và giãi bày nỗi hi sinh. Ông được nhà thơ Vũ Quần Phương cho là người tiên phong thổi ngọn gió lãng mạn cá nhân vào tâm hồn thanh niên lúc bấy giờ và đánh thức những tình cảm về tự do yêu đương, tận hưởng ái tình.

Đặc trưng của thơ Phạm Huy Thông là giọng anh hùng ca trong các bài thơ dài lấy điển tích lịch sử như Hạng Vũ biệt Ngu Cơ thời Hán Sở, hay công chúa Huyền Trân theo lệnh vua cha từ biệt người yêu về làm vợ vua Chiêm. Bút pháp lãng mạn đó đã phần nào huyền thoại hoá, thành chất men xúc tác cho trí tưởng tượng lãng mạn của chất thơ. Điều này đã giúp khôi phục lại các sự kiện lịch sử, cộng với đó là sự sáng tạo tâm trạng cho nhân vật khiến cho lịch sử hiện diện theo yêu cầu cảm xúc, tâm lí người đương thời. Đó là những nhận xét của nhà thơ Vũ Quần Phương trong toạ đàm.

Được coi là người khởi xướng ra lối viết kịch bằng thơ, Phạm Huy Thông đã mở rộng không gian cho thơ. Ông đã dần dần đưa lời thoại vào thơ và sau đó là dùng lời thơ diễn tả những mâu thuẫn xung đột qua những đối thoại của nhân vật, có thể diễn đạt trọn vẹn trên sân khấu và loại bỏ được vai trò có tác dụng trần thuật. Có thể thấy điều này qua các tác phẩm: Anh Nga (1934), Tần Hồng Châu (1935), Huyền Trân công chúa (1935), Kinh Kha (1936).

Thơ ông thường đi vào khai thác những khía cạnh khác thường, những bi kịch trong tình yêu. Đối với ông, tình yêu là đẹp đẽ, là cao cả nhưng lại nó thường mâu thuẫn và cản trở sự nghiệp, gây ra bao nhiêu đau khổ như mối tình giữa Hạng Vũ và Ngu Cơ hay mối tình của nàng Tần Hồng Châu.

 
 Vợ của nhà thơ Phạm Huy Thông phát biểu tại tọa đàm

Nhà khoa học đau đáu làm thơ
Nói về ông, Tiến sĩ Lưu Khánh Thơ phát biểu: "Tiếp xúc với Giáo sư Viện sĩ Phạm Huy Thông, người ta dễ bị cuốn hút bởi trí tuệ uyên bác vẻ lịch lãm của một trí thức. Những yếu tố đó đã giúp ông gánh vác nhiệm vụ khoa học, có các bài viết nghiên cứu được giới khoa học trong và ngoài nước đánh giá cao".

Chính Phạm Huy Thông đã từng nói: "Làm thơ từ những năm 1932-1937, ở tuổi 15-20, tôi mơ màng và đắm đuối những tình cảm lãng mạn, như những nhà thơ khác những năm ấy. Tôi sớn ngây vì tình, si mê vì tình, đau khổ vì tình, như những nhà thơ khác những năm tháng ấy... Tôi không tiếc đã hi sinh, dù là hi sinh thơ để đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Tôi tự hào đã có phần cống hiến khoa hoch vào sự hiểu biết về lịch sử của dân tộc. Tôi tự hào đã có phần cống hiến khoa học vào sự hiểu biết về lịch sử của dân tộc, tiếng thơm của dân tộc. Nhưng thưa các bạn, tôi không nguôi nhớ thơ luyến tiếc một sự nghiệp thơ dang dở".

Như vậy có thể thấy rằng, sự nghiệp thơ của Phạm Huy Thông tập trung chủ yếu ở giai đoạn tuổi trẻ đã để lại dấu ấn không chỉ của riêng ông mà còn trong thi đàn giai đoạn Thơ mới. Dù sau này, thơ ông không được công bố nhiều nhưng nhắc đến Phạm Huy Thông, người ta nhớ đến một giai đoạn thơ nhiều ấn tượng và sáng tạo.

Cuối buổi toạ đàm, vợ của nhà thơ Phạm Huy Thông đã cảm ơn Hội Nhà văn đã tổ chức lễ kỉ niệm để bà có thể hiểu thêm một khía cạnh nữa của chồng mình. Bà cũng chia sẻ trước khi làm thơ, Phạm Huy Thông cũng đã nghiên cứu rất kĩ ngôn ngữ để đi đến tận cùng của cách thức sử dụng ngôn ngữ trong làm thơ.

THU OANH


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)