Từ "đi đầu diệt Mĩ" đến tuyến đầu bảo vệ "khúc ruột miền Trung"

Thứ bảy - 26/12/2015 15:37
aaaa

chu phoong Arial moi copyNgày 16 tháng 10 năm 1945 thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 12 chiến khu trên cả nước được thành lập, trong đó có Chiến khu 5 và Chiến khu 6. Trong từng thời kì lịch sử, để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng đã có sự sát nhập các chiến khu và đơn vị thành viên. Sau Đại thắng mùa Xuân 1975,  Quân khu 5 được hợp nhất trên cơ sở Quân khu 5 và Quân khu 6  bao gồm các tỉnh ven biển từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến Bình Thuận và các tỉnh Tây Nguyên. Ngày 16 tháng 10 năm 1945 cũng chính thức được công nhận là  Ngày truyền thống của Lực lượng vũ trang Quân khu 5. Hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, Lực lượng vũ trang Quân khu 5 đã xây đắp nên truyền thống vẻ vang: “Tự lực, tự cường, khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, mưu trí sáng tạo, chiến đấu kiên cường, chiến thắng vẻ vang”, được Đảng, Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quý. Cũng từ chiếc nôi cách mạng Khu 5 này, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã rèn luyện trưởng thành, trở thành những cán bộ chủ chốt của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Tạp chí Văn nghệ Quân đội đã có cuộc trò chuyện với đồng chí Trung tướng Trần Quang Phương, Chính ủy Quân khu 5 về quá trình hình thành, phát triển cùng những đóng góp to lớn của bộ đội Khu 5 hôm qua và hôm nay. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

PV: Thưa đồng chí Trung tướng, Chính ủy Trần Quang Phương! Thay mặt Tạp chí Văn nghệ Quân đội xin được gửi đến các đồng chí lãnh đạo Bộ Tư lệnh cùng toàn thể cán bộ, chiến sĩ Khu 5 lời chào thân ái nhân dịp các đồng chí vừa kỉ niệm 70 năm Ngày truyền thống Lực lượng vũ trang Quân khu!
Trung tướng Trần Quang Phương: Chúng tôi mới vừa long trọng tổ chức lễ kỉ niệm 70 năm Ngày truyền thống Lực lượng vũ trang Quân khu 5 (16/10/1945 - 16/10/2015), âm hưởng hào hùng vẫn mãi vang vọng. Hôm nay, Tạp chí Văn nghệ Quân đội đến chia sẻ niềm vui, niềm tự hào của Lực lượng vũ trang Quân khu, xin được chào mừng và cảm ơn các đồng chí!
Trải qua các thời kì cách mạng, Lực lượng vũ trang Quân khu 5 luôn là Lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước, nhân dân. Đứng chân trên địa bàn Nam Trung Bộ, địa bàn chiến lược quan trọng của cả nước, Lực lượng vũ trang Quân khu 5 luôn giữ vai trò to lớn, làm tròn mọi trọng trách Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Xuyên suốt các thời kì giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, Lực lượng vũ trang Quân khu 5 đã tiến hành hàng trăm chiến dịch, hàng nghìn trận đánh lớn nhỏ, lập nhiều chiến công vang dội, góp phần cùng cả nước hoàn thành sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Có được những thành quả to lớn ấy là nhờ công lao của Đảng, công sức và xương máu của bộ đội và nhân dân cả dải đất Nam Trung Bộ hôm qua và hôm nay.

PV: Nhắc lại quá trình hình thành và phát triển, quả thật không thể không nhắc đến sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đối với các hoạt động của Lực lượng vũ trang Quân khu ngay sau khi vừa được thành lập. Điều này hẳn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mỗi người lính Khu 5?
Trung tướng Trần Quang Phương: Đúng như vậy, ngay từ những ngày đầu thành lập, trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra quyết liệt, chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Võ Nguyên Giáp đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với Lực lượng vũ trang Quân khu 5. Hồ Chủ tịch luôn theo dõi từng giờ, từng phút mọi diễn biến cuộc chiến đấu của quân và dân Nam Bộ, Nam Trung Bộ. Miền Nam luôn ở trong tim Người. Tháng 12 năm 1945, Bác đã cử đồng chí Lê Văn Hiến làm Đặc phái viên của Chính phủ vào Nam Trung Bộ, mang theo bức thư thăm hỏi chan chứa tình cảm của Người tới quân và dân Nam Bộ, Nam Trung Bộ. Khi cuộc chiến đấu bao vây quân Pháp 101 ngày đêm ở Nha Trang đang diễn ra, Người đã gửi thư khen ngợi chiến sĩ các mặt trận miền Nam, Mặt trận Nha Trang, trong đó có đoạn: “Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa rất khen ngợi chiến sĩ các mặt trận miền Nam, đặc biệt là chiến sĩ ở Nha Trang và Trà Vinh đã làm gương anh dũng cho toàn quốc. Tổ quốc biết ơn các bạn! Toàn thể đồng bào noi gương các bạn!”.
Trong thời khắc Mặt trận Nha Trang nóng bỏng, ngày 27 tháng 1 năm 1946, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp vào thị sát chiến trường. Đồng chí đã có buổi họp mặt với các cán bộ Đảng, chính quyền, Mặt trận Việt Minh, chỉ huy quân sự Mặt trận để chỉ đạo kháng chiến. Theo sự chỉ đạo đó, ta đã điều chỉnh lực lượng, thực hiện chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc, tạo ra một thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp để đánh địch hiệu quả. Một chi tiết rất đáng nhớ là đồng chí Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp ra tận trận địa thăm hỏi, động viên cán bộ, chiến sĩ chiến đấu. Điều này không chỉ thể hiện nhân cách lớn của “người anh cả” Quân đội nhân dân Việt Nam, mà còn thể hiện nét văn hóa cao đẹp của một đội quân cách mạng, đoàn kết, thương yêu cán - binh theo đúng truyền thống “tướng sĩ một lòng phụ tử”.
Khu 5, khúc ruột miền Trung, ở xa Trung ương, những ngày đầu mới thành lập còn sơ khai, sự quan tâm đặc biệt ấy vừa là nguồn động viên to lớn để quân và dân Nam Trung Bộ có thêm sức mạnh tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp kiên quyết, bền bỉ và lâu dài; vừa là cơ sở quan trọng để Lực lượng vũ trang Quân khu không ngừng phát triển, trưởng thành, hoàn thành thắng lợi trọng trách mà Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó.

PV: Đồng chí Chính ủy vừa nói đến “cuộc chiến đấu bao vây quân Pháp 101 ngày đêm ở Nha Trang”, có thể coi đây là trận chiến mở màn của bộ đội Khu 5 để rồi mở ra cuộc trường kì kháng Pháp 9 năm sau đó với rất nhiều những chiến công vang dội?
Trung tướng Trần Quang Phương: Cuộc chiến đấu bao vây quân Pháp 101 ngày đêm ở Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa diễn ra từ ngày 23 tháng 10 năm 1945 đến ngày 4 tháng 2 năm 1946. Trong điều kiện mới được thành lập chưa đầy 8 ngày, giữa muôn vàn khó khăn, gian khổ, thiếu thốn, quân và dân Khu 5 đã tổ chức chặt chẽ các lực lượng, liên tục tiến công, vây hãm quân Pháp trong thị xã Nha Trang; tiêu diệt, tiêu hao và đặc biệt đã giam chân một lực lượng lớn quân địch tại đây, làm thất bại âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” trong kế hoạch mở rộng lấn chiếm ra các tỉnh Nam Trung Bộ của chúng.

Ngày 20 tháng 12 năm 1946, cùng với Toàn quốc Kháng chiến, Mặt trận Đà Nẵng bắt đầu nổ súng tiến công quân địch. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt suốt 90 ngày đêm, đến ngày 20 tháng 3 năm 1947, lực lượng ta rút khỏi Đà Nẵng, lập thế trận mới ngăn chặn địch, bảo vệ vùng tự do từ Nam Quảng Nam trở vào. Với chiến công trên, Đà Nẵng đã được Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng cờ “Giữ vững”. Những mốc son lịch sử thể hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm, hi sinh từ những ngày đầu kháng chiến là tiền đề cơ bản truyền ngọn lửa bất khuất cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Quân khu liên tục lập nên những kì tích anh hùng.
Suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, quân và dân Khu 5 đã linh hoạt, sáng tạo, xây dựng, giữ gìn, phát triển lực lượng trong giai đoạn cầm cự, chuẩn bị lực lượng để sẵn sàng chuyển sang tổng phản công quân địch giành thắng lợi. Đỉnh cao trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, Quân khu 5 đã phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Điện Biên Phủ bằng chủ trương táo bạo, đưa toàn bộ lực lượng chủ lực Liên khu lên Tây Nguyên nhằm thu hút, căng kéo, tiêu diệt các khối chủ lực cơ động của địch, trực tiếp “chia lửa” với chiến trường Điện Biên Phủ. Với các chiến thắng vang dội Măng Đen, Măng Bút (tháng 1 năm 1954), giải phóng thị xã Kon Tum (tháng 2 năm 1954), bẻ gãy cuộc hành quân Át-Lăng của 40 tiểu đoàn quân viễn chinh Pháp đánh chiếm vùng tự do của ta (tháng 4 năm1954), chiến thắng Đắc Pơ (tháng 6 năm1954) được ví như những “cú đấm bồi”, riêng chiến thắng Bồ Bồ (tháng 7 năm 1954) còn được ví là “Điện Biên Phủ ở Khu 5”, đặt dấu chấm hết cho những nỗ lực, gắng gượng cuối cùng của thực dân Pháp. Lực lượng vũ trang Quân khu 5 đã góp phần cùng Mặt trận Điện Biên Phủ đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của thực dân Pháp, buộc chúng phải kí kết Hiệp định Genève công nhận nền độc lập, thống nhất của Việt Nam và rút quân về nước.
IMG 0625
Thanh niên Khu 5 lên đường nhập ngũ bảo vệ Tổ quốc        Ảnh: PV

PV: Bước vào cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, Lực lượng vũ trang Quân khu 5 đã lần đầu tiên “đánh Mĩ và thắng Mĩ”làm nức lòng quân dân cả nước. Có lẽ không ở đâu có được “vành đai diệt Mĩ” hiệu quả như chiến trường Khu 5?
Trung tướng Trần Quang Phương: Nói đến “Vành đai diệt Mĩ” thì xin được cung cấp con số công bố trong cuốn “Tấm thảm kịch và những bài học về Việt Nam” của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kì MC Namara như thế này: Số binh sĩ Mĩ vào xâm lược Việt Nam đầu năm 1965 là 23.300, đến tháng 7 năm 1965 là 81.400, tháng 12 năm 1965 là 184.000, và đến cuối năm 1967 là 485.400. Kèm theo đó là các loại máy bay hiện đại nhất từ do thám U2 đến cường kích và tiêm kích siêu tốc như A4D (Chim ưng), A7 (Ó biển), A6 (Kẻ đột nhập), F105 (Thần sấm), F4 (Con ma), F111 (Cánh cụp cánh xòe), B57, B52... để tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc và đánh phá trên khắp chiến trường miền Nam, chưa kể còn đủ các loại súng ống, bom đạn mới và chất độc hóa học. Nhưng khu 5 đã kiên cường đứng lên đánh Mĩ bằng tất cả những gì có thể. Không chỉ tiêu biểu là trận tập kích một đại đội lính Mĩ ở Núi Thành của bộ đội địa phương Quảng Nam khi chúng mới đặt chân lên Chu Lai mà người Khu 5 còn có nhiều cách đánh Mĩ sáng tạo, ví dụ như trận đánh của đội nữ du kích xã Kỳ Anh (Nam Tam Kỳ - Quảng Nam) ngày 20 tháng 2 năm 1966. Trong trận này, đội du kích gồm 9 đồng chí do xã đội phó Nguyễn Thị Đào chỉ huy đã dựa vào hệ thống giao thông hào quanh làng Phú Lai chiến đấu chống trả lại một tiểu đoàn lính Mĩ, diệt được 18 tên. Sau đó, do lực lượng quá chênh lệch, quân Mĩ tràn vào được trong làng, các chị em đã nhanh chóng giấu súng đạn, trở vào nhà ngồi chải tóc, trở thành con em của các gia đình trong làng. Lính Mĩ ập đến, các chị ra dấu hiệu “Việt Cộng đã chạy hết” rồi cùng dân làng đấu tranh, ngăn không cho chúng đốt nhà, phá phách tài sản. Sau một hồi lùng sục, không tìm thấy gì, bọn Mĩ đã phải rút về căn cứ. Chính nhờ tinh thần dám đánh Mĩ mà “Vành đai diệt Mĩ” đã được xây dựng quanh 4 căn cứ của Mĩ ở Phú Bài, Đà Nẵng, Hòa Vang, Chu Lai và An Khê. “Vành đai diệt Mĩ” là hiện tượng lịch sử độc đáo, một hình thức đánh giặc sáng tạo trên chiến trường Khu 5. Cụ thể hơn, “Vành đai diệt Mĩ” chính là hệ thống làng, xã chiến đấu liên hoàn bao quanh, áp sát căn cứ quân sự của Mĩ nhằm vây hãm, tiêu hao, tiêu diệt địch, là chỗ dựa để quân và dân ta tổ chức bám trụ đánh địch bằng quân sự, chính trị, binh vận, vừa tích cực tiến công, vừa kiên quyết chống càn quét, vừa làm mục ruỗng từ bên trong, vừa kết hợp đánh mạnh mẽ từ bên ngoài vào, tạo thành thế trong ngoài đều đánh, đánh liên tục, bằng nhiều hình thức, nhiều mưu kế, với mọi phương tiện sẵn có của nhân dân.

PV: Và điều quan trọng là từ những hình thức đánh địch sáng tạo ấy đã đặt ra cơ sở thực tiễn để Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng có những quyết sách chiến lược đúng đắn đánh bại các hình thái chiến tranh của đế quốc Mĩ góp phần làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước?
Trung tướng Trần Quang Phương: Đúng vậy. Chiến trường Khu 5 trong kháng chiến chống Mĩ là chiến trường ác liệt, nhưng cũng là nơi minh chứng cho tinh thần quật khởi của quân và dân ta. Đầu tiên là cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi nổ ra và giành thắng lợi ngày 28 tháng 8 năm 1959. Đây là cuộc khởi nghĩa lớn nhất, đầu tiên ở miền núi Liên khu 5 cũng như trên toàn miền Nam trong đấu tranh chống chiến lược “chiến tranh đơn phương” của địch sau khi có Nghị quyết Trung ương 15, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng từ giai đoạn giữ gìn lực lượng sang khởi nghĩa vũ trang tiến lên chiến tranh cách mạng trên chiến trường Khu 5; góp phần để Trung ương khẳng định con đường đấu tranh bằng bạo lực cách mạng ở miền Nam, làm cơ sở chỉ đạo phong trào Đồng Khởi giành thắng lợi ở Bến Tre và các tỉnh Nam Bộ. Tiếp sau đó là chiến thắng An Lão (tháng 12 năm1964), một huyện đầu tiên được giải phóng trong cuộc kháng chiến chống Mĩ bằng sức mạnh tiến công của ba thứ quân kết hợp phong trào nổi dậy của quần chúng. Thắng lợi này góp phần giúp Trung ương chỉ đạo lực lượng vũ trang phát huy vai trò hỗ trợ cho phong trào quần chúng nổi dậy phá “ấp chiến lược”, làm thất bại cơ bản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mĩ - ngụy ở miền Nam. Chiến thắng Núi Thành (tháng 5 năm1965) - trận đầu thắng Mĩ, khẳng định quyết tâm “Dám đánh, quyết đánh và quyết thắng” quân Mĩ xâm lược. Chiến thắng Ba Gia (tháng 7 năm 1965), Vạn Tường (tháng 8 năm 1965), những trận mở đầu tiêu diệt lớn quân viễn chinh Mĩ, góp phần củng cố quyết tâm đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mĩ. Chiến thắng Buôn Ma Thuột, giải phóng Tây Nguyên (tháng 3 năm 1975) được coi là đột phá khẩu chiến lược cho Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Chiến thắng chiến dịch giải phóng Đà Nẵng (tháng 3 năm1975), tạo đà trực tiếp cho Chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

PV: Trở lại nhiệm vụ của những người lính Lực lượng vũ trang Quân khu 5 hôm nay, còn nhớ, hơn một năm về trước khi giàn khoan HD 981 xuất hiện tại khu vực huyện đảo Hoàng Sa của chúng ta, có thể nói biển Đông đã “dậy sóng”, nhân dân cả nước nhìn về Khu 5, đặc biệt là Đà Nẵng, nơi được coi là “đầu sóng ngọn gió” trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền của đất nước với tâm trạng nhiều lo lắng. Những ngày đó Lực lượng vũ trang Quân khu 5 hẳn đã có nhiều đêm “mất ngủ” thưa đồng chí Chính ủy?
Trung tướng Trần Quang Phương: Đúng vậy. Và những người lính Khu 5 chúng tôi nhận thức rõ vai trò tuyến đầu trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền của mình để càng ý thức cao hơn trách nhiệm của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong thời điểm nước sôi lửa bỏng đó. Bây giờ nhìn lại khoảng thời gian ấy, có thể khẳng định lực lượng vũ trang Quân khu 5 đã làm được ba việc quan trọng sau đây:
Thứ nhất là tạo được sự đồng thuận trong cấp ủy địa phương và nhân dân về quan điểm, quyết tâm và phương pháp đấu tranh trên biển nhằm ngăn chặn giàn khoan HD 981 hạ đặt trái phép trong vùng biển của nước ta. Thứ hai là đã huy động được hàng trăm cán bộ chiến sĩ tham gia nhiệt tình cùng dân quân và ngư dân, chấp nhận mọi nguy hiểm, sẵn sàng bám dân, bám biển, kiên quyết đấu tranh với đối phương để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của tổ quốc. Thứ ba là chủ động nắm tình hình, phối hợp các lực lượng giữ vững an ninh trật tự trên đất liền, không để xảy ra các hoạt động bạo loạn, gây rối, đập phá nhà xưởng, gây mất ổn định chính trị tại các địa phương trên địa bàn.

PV: Sự kiện Giàn khoan HD 981 năm 2014 có thể coi là một “tình huống chiến lược” đặt ra đối với cán bộ, chiến sĩ Quân khu 5, tuy nhiên những khó khăn thách thức mà Lực lượng vũ trang Quân khu phải đối mặt và vượt qua trong tình hình hiện nay không chỉ có thế. Đồng chí Chính ủy có thể chia sẻ thêm về vấn đề này?
Trung tướng Trần Quang Phương: Về thách thức hiện nay, Quân khu 5 cũng có nhiều điểm chung và giống các Quân khu bạn trong cả nước, nhưng để có cách nhìn riêng hơn, sâu hơn, chúng tôi có nhiều khó khăn, thách thức, trực tiếp cả 5 môi trường hoạt động: biển đảo, biên giới, nội địa, trên không và không gian mạng.
Ở môi trường biển đảo, Khu 5 có 7 tỉnh đồng bằng ven biển với đường bờ biển dài 894 km và thềm lục địa rộng khoảng 20 vạn km2; có hàng trăm đảo lớn nhỏ, trong đó, đặc biệt là hai quần đảo có giá trị chiến lược quan trọng là Hoàng Sa và Trường Sa. Trong những năm qua, vấn đề tranh chấp chủ quyền biển, đảo diễn ra phức tạp, trở thành vấn đề “nóng”, thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận.
Ở môi trường biên giới, địa bàn Quân khu 5 tiếp giáp với Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia, có đường biên giới đất liền đi qua 5 tỉnh với tổng chiều dài 715,7 km. Những năm qua, với sự nỗ lực của cả ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, kết quả xây dựng tuyến biên giới hòa bình, hữu nghị có nhiều triển vọng khả quan. Tuy nhiên, vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp dễ gây những đột biến bất lợi, nhất là các vấn đề vượt biên trái phép, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch…
Ở môi trường nội địa, Quân khu 5 là địa bàn rộng lớn với 11 tỉnh thành trải dài trên vùng duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, là nơi sinh sống của 48 dân tộc, nhiều vùng đời sống kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, kẻ địch có thể lợi dụng lôi kéo, tập hợp lực lượng để chống phá cách mạng. Những năm qua, cũng như một số địa phương khác, vấn đề dân tộc, tôn giáo trên địa bàn diễn biến khá phức tạp, nhất là ở Tây Nguyên. Bên cạnh đó là các vấn đề nảy sinh từ quá trình phát triển kinh tế - xã hội như đền bù, giải tỏa, ô nhiễm môi trường, chính sách xã hội, giải quyết việc làm và quyền lợi người lao động… cũng rất đáng lưu tâm. Việc giải quyết mối quan hệ giữa yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường, củng cố quốc phòng - an ninh vẫn còn nhiều bất cập.
Môi trường trên không, gắn liền với tính chất phức tạp diễn ra trên biển đảo, biên giới, nội địa, kẻ địch thường xuyên tăng cường các hoạt động do thám, trinh sát, xâm nhập trái phép. Trong khi đó, khả năng, điều kiện kiểm soát vùng trời của Lực lượng vũ trang Quân khu còn những hạn chế nhất định. Mặt khác, trên địa bàn Quân khu có nhiều sân bay lớn, đặt ra vấn đề khó khăn cho công tác quản lí không lưu, an ninh hàng không, xuất nhập cảnh…
Về môi trường không gian mạng, đây là vấn đề mới. Ngày nay, các lực lượng gián điệp, khủng bố tình báo đang tích cực khai thác mạng Internet và coi đây là phương tiện hữu hiệu để tấn công đối phương. Lực lượng vũ trang Quân khu còn hạn chế về trình độ, khả năng làm chủ công nghệ thông tin, trong khi đó các nguy cơ về mất an toàn an ninh mạng luôn hiện hữu, đe dọa trực tiếp đến tình hình quốc phòng an ninh.
Bên cạnh những vấn đề trên, một khó khăn, thách thức đối với Lực lượng vũ trang Quân khu là điều kiện tự nhiên khắc nghiệt của địa bàn Khu 5 - Nam Trung Bộ, dải đất miền Trung “sáng chắn bão giông, chiều ngăn nắng lửa”. Đặc điểm trên đòi hỏi Lực lượng vũ trang Quân khu 5 phải luôn sẵn sàng về lực lượng và phương tiện để tham gia vào các hoạt động cứu hộ, cứu nạn, phòng chống giảm nhẹ thiên tai…

PV: Từ khi đảm đương trọng trách Chính ủy Quân khu, điều gì khiến đồng chí trăn trở nhất?
Trung tướng Trần Quang Phương: Về trăn trở thì có nhiều, tuy nhiên đảm đương cương vị chủ trì Quân khu ở một địa bàn chiến lược, mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, điều làm tôi trăn trở nhất chính là đời sống của nhân dân Khu 5 nói chung, đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn Quân khu nói riêng còn quá nghèo. Mấy chục năm qua Đảng, Nhà nước đã quan tâm chăm lo đời sống cho nhân dân cùng với truyền thống độc lập tự chủ, tự lực tự cường của quân và dân Khu 5, đời sống của bà con cũng có những cải thiện đáng kể. Song, do đặc thù điều kiện địa lí tự nhiên vốn khắc nghiệt. Hậu quả chiến tranh để lại rất nặng nề với 194.860 liệt sĩ, 229.814 thương, bệnh binh, 263.262 đối tượng có công cách mạng và 28.757 bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Trong những năm qua, các thế lực thù địch cũng lợi dụng điều kiện khó khăn của Khu 5 để chống phá quyết liệt. Làm sao để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, tranh thủ phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, từ đó có điều kiện củng cố quốc phòng - an ninh, chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang, đó là điều trăn trở lớn nhất. Có lẽ không chỉ riêng cá nhân tôi, tập thể Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu, cấp ủy, chính quyền các địa phương trên địa bàn Khu 5 gian lao mà anh dũng chắc cũng đều đau đáu với nỗi trăn trở này.
PV: Xin cám ơn đồng chí Chính ủy Trần Quang Phương!
 
                                                                                Nguyễn Đình Tú thực hiện
 
 
 
 

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

Quảng cáo