Lời bình truyện ngắn dự thi "Hương thôn dã" của Nguyễn Thị Kim Hòa (VNQĐ số 777)

Thứ năm - 03/10/2013 03:43

NƯỚC MẮT CỦA TRÀ

Hương thôn dã của Nguyễn Thị Kim Hòa trước tiên là một truyện ngắn của nhiều cái khác. Nó là một truyện ngắn lịch sử, nhưng không hề dễ đọc, dễ hiểu, dễ quên như nhiều truyện ngắn viết về cùng đề tài này. Thứ nhất, bởi tác giả đã cố/dụng ý khiêu khích với tầm đón nhận của người đọc, ít nhất là trên phương diện tri thức lịch sử. Về không gian, thời gian, số phận và vai trò của nhiều nhân vật lịch sử trong truyện như Trịnh Cán, Tuyên phi (Đặng Thị Huệ), Quận Huy, Trịnh Sâm, Đặng Mậu Lân… đều không được tác giả giới thiệu, thậm chí còn không được giới thiệu tên họ đầy đủ, mà mặc nhiên xem như người đọc đã biết. Chính thủ pháp nghệ thuật này đòi hỏi người đọc phải có một lối đọc liên văn bản đến các tư liệu lịch sử khác, cả chính sử lẫn dã sử, từ công trình nghiên cứu đến các tác phẩm văn học. Trong Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1971 đến 1802 (Nxb Tri thức, 2012) của Tạ Chí Đại Trường, tác giả đã giới thiệu tổng quan về giai đoạn lịch sử này: “Trong khi con hổ non Tây Sơn gầm gừ nhìn ra thì con sư tử già Trịnh đã tàn tạ đến mức không thể cử động được… Những tai họa do nhà cầm quyền gây ra càng làm cho dân chúng điêu đứng hơn nữa” [trang 120]. Hương thôn dã viết về một giai đoạn tao loạn tại Bắc kỳ, khi chúa Trịnh Sâm mê đắm thứ phi Đặng Thị Huệ, dẫn đến việc phế con trưởng (Trịnh Tông), để lập con thứ (Trịnh Cán – con trai Huệ). Đặng Mậu Lân em Huệ thì lộng hành, làm nhục quan quân, giết sứ thần của Chúa. Sau khi Sâm chết, kiêu binh nổi loạn phế bỏ Trịnh Cán, diệt Quận Huy, tôn Trịnh Tông lên ngôi Chúa… Tuy nhiên, trong truyện ngắn Hương thôn dã, những sự kiện lịch sử ấy không đóng vai trò chính yếu, mà chính sự kiện tâm trạng mới là lãnh vực được tác giả quan tâm. Cái lịch sử bên ngoài (có tính khách quan) được thay bằng cái lịch sử bên trong (kí ức, tâm trạng… mang tính chủ quan).

Việc hướng vào cái “lịch sử bên trong” này hẳn là một dụng ý nghệ thuật của tác giả. Do đó, câu chuyện dẫu không “xuyên tạc” lịch sử, hay hư cấu quá xa so với chính sử, nhưng nó lại mở ra những “tiểu tự sự” của những cái khác. Ý nghĩa của câu chuyện chính vì vậy, không phải là một tiếng khóc hờ của một người đàn bà đã mất hết thời hoàng kim của quyền lực, mà nhằm nêu bật vẻ đẹp tinh thần của một người mẹ, người vợ đã trót dấn thân vào chốn cung cấm, dẫu không thể đứng ngoài vòng xoáy tha hóa điên đảo của con tạo, nhưng vẫn giữ được cốt cách của cô thôn nữ xứ chè. Cái câu hỏi xót xa, văng vẳng và vô vọng: “Sao quê hương không gọi ta một lần từ ngày ta mười sáu tiến cung?”, thực sự có ý nghĩa vượt lên là tâm sự của một người, của một thời, của một vấn đề cụ thể nào trong xã hội. “Tính thời sự” của câu chuyện, do đó đến từ giọt nước mắt của trà (chè), tinh khiết mà chát đắng, thơm ngát mà mong manh. Làm sao sống trong giai đoạn “Không quyền lực, kiếp con người như kiếp cỏ cây hèn mọn. Sống –chết là tùy thích (dù là bất chợt) của chủ nhân”, nhưng vẫn giữ được linh hồn mang cốt cách thơm ngát của trà, của quê hương, mà không bán linh hồn cho quỷ dữ, làm sao có quyền lực nhưng không để quyền lực làm tha hóa kẻ bề dưới, làm sao trồng được chè nhưng vẫn phải giữ được mùi thơm ngát hương bản nguyên… Những câu hỏi ấy không chỉ người xưa mà cả người nay cũng cần nối dài suy nghĩ.

Thứ hai, lối viết theo dòng ý thức nhân vật Đặng Thị Huệ khiến không -thời gian trong tác phẩm được liên tục xen cắt, đảo chiều, chủ yếu dịch chuyển giữa thực tại chứng kiến quyền lực tàn bạo với một quá khứ nơi Kinh Bắc có làng Chè êm đềm thanh khiết. Không nhiều truyện lịch sử trong văn học Việt Nam lựa chọn kiểu trần thuật ngôi thứ nhất theo dạng dòng ý thức này. Vì nó đặt ra một thách thức, giới hạn cho những diễn giải lịch sử, vấn đề tư liệu và bình phẩm về sự kiện hay nhân vật lịch sử. Nguyễn Thị Kim Hòa mạnh dạn chọn lối đi khác ấy, tức trong chị ấp ủ một khát vọng cách tân. Mọi nhân vật ngoài Thu Nhi – một cô người hầu hư cấu, đều tồn tại thông qua dòng ý thức của Đặng Thị Huệ. Tác giả ít ra đã thoát được cái bệnh diễn giải, cái óc luận đề quá dông dài của các nhà viết truyện lịch sử. Chị thực sự ý thức rằng mình đang viết truyện, chứ không phải đang viết sử, hoặc thậm chí, cũng khác xa tham vọng viết lại lịch sử như nhiều người hiện nay. Truyện Hương thôn dã đi sâu vào thiên tính nữ của nhân vật, dũng cảm bênh vực cho một “cái khác” đã bị chính sử quy loại vào hàng phản diện. Tính thách thức và sự dũng cảm của tác phẩm và tác giả do đó, là rất đáng ghi nhận. Nó chống lại tư duy “chính phi”, “con trưởng”, danh chính ngôn thuận, (kì thị sự) phế trưởng lập thứ… trong văn hóa Nho giáo nói riêng và văn hóa phụ quyền nói chung.

Tuy vậy, câu chuyện vẫn có những giới hạn, mà thật ra, mọi tác phẩm cũng đều tồn tại trong những giới hạn của nó. Đầu tiên là thuộc tính tư tưởng của quý phi Đặng Thị Huệ chưa thực sự có chiều sâu, ngoài tình thương đậm màu sắc nữ tính và việc hoài nhớ một thời ấu thơ vĩnh viễn đánh mất. Thứ đến là những kỹ thuật trần thuật dẫu hướng vào nội tâm, nhưng đôi chỗ sa đà vào tả cảnh, dẫu phải thừa nhận rằng, tác giả có một năng lực tả cảnh rất hay. Nếu kết hợp được những kỹ thuật trần thuật mê lộ của các nhà postmodernism, thì tác phẩm có lẽ sẽ hoàn thiện hơn. Một số nhân vật như Thu Nhi được đưa vào với tư cách là những chứng nhân bên lề của lịch sử, thế thì tại sao lại bắt nàng phải im lặng về mặt tư tưởng? Nói cách khác, còn có cảm giác tác giả đã vẽ nên một số cái đinh ở đầu truyện, nhưng cuối truyện vẫn không tìm ra cái áo nào để móc lên cái đinh đó – theo lối nói nổi tiếng của một văn hào. Tất nhiên, khi đọc một tác phẩm văn học, chúng ta không được phép quá cầu toàn, bởi vì chẳng phải người Pháp từng có một câu châm ngôn ý nhị rằng, với một chữ “nếu” thì người ta có thể nhét Paris vào trong một cái chai./.

YẾN THANH



 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)