Giữa bình thường và bất thường: Tôi chọn cái thứ hai

Thứ năm - 30/10/2014 23:02

Trực quán số này: Nguyễn Xuân Thủy

Khách văn: Tác giả Trần Trọng Vũ

Trần Trọng Vũ
- Sinh năm 1964 tại Hà Nội. Tốt nghiệp ĐH Mĩ thuật Hà Nội năm 1987.
- Năm 1989 nhận học bổng vào Trường Mĩ thuật Quốc gia Pháp (Ecole Nationale des Beaux Arts, Paris).
- Giải Pollock-Krasner 2011-2012, bởi quỹ Jackson Pollock – Lee Krasner tại New York.
- Tác giả của dự án nghệ thuật Những đề nghị của Lời và Hình tổ chức triển lãm giới thiệu tại Pháp, Việt Nam và một số nước. Thành phố bị kết án biến mất là cuốn tiểu thuyết đầu tay, là một trong chuỗi tác phẩm thuộc dự án.
- Hiện sống và làm nghệ thuật tại Pháp.

Bi kịch lớn nhất của con người là sự biến mất của kí ức
- Bạn đọc trong văn giới và các nhà phê bình đọc Thành phố bị kết án biến mất đều chung nhận định nó không dành cho số đông. Người đọc phải nhập cuộc, đương nhiên tác phẩm nào cũng cần nhập cuộc, nhưng với tiểu thuyết của anh, đây gần như là điều kiện bắt buộc để tham dự cuộc chơi. Tung ra một “kiểu chơi” như vậy, có vẻ như ngay từ ban đầu anh đã giới hạn số lượng bạn đọc của tiểu thuyết?
+ Người viết là người luôn trung thành với bản thân. Những gì anh ta viết ra đều bộc lộ quan niệm nghệ thuật cũng như khả năng cảm thụ của anh ta với văn học. Sau đó, có thể tìm thấy phía sau ngôn ngữ những khả năng khác, ví dụ khả năng thích nghi tốt hoặc kém của anh ta với thế giới bên ngoài, cụ thể là với cộng đồng, với xã hội… Tôi trung thành với bản thân, vậy thôi, mà không hề lường trước những kết quả khó hoặc dễ sẽ xảy ra nơi người đọc. Tôi không chủ tâm đưa ra một cuộc chơi nào. Có thể tôi nhìn nhận hiện thực một cách khác với đa số, cho nên đám đông cảm thấy khó nắm bắt hiện thực mà tôi biểu đạt. Vấn đề có lẽ nằm ở chỗ này.
- Tự tước bỏ đi phương tiện hành nghề, không sử dụng dấu phẩy, một phương tiện thông dụng, hẳn là khi viết thử thách nhân lên rất nhiều, anh có thể cho biết anh đã vượt qua như thế nào? Trong quá trình viết có khi nào anh định bỏ cuộc để lại dùng dấu phẩy cho đỡ nhọc nhằn?
+ Giống hệt như cách tôi đã làm với hội họa, là giảm bớt đi những phương tiện biểu đạt như màu sắc, hoặc chất liệu làm nền của hình ảnh… tôi chủ chương bỏ đi toàn bộ những dấu phẩy trong tiểu thuyết, như một thách thức. Cách làm này đòi hỏi người viết phải làm việc nhiều hơn về văn phong. Viết khó hơn, đương nhiên là đọc cũng sẽ phải khó hơn. Nhưng tôi cho rằng kết quả sẽ thú vị hơn. Và trên hết, tôi cũng buộc phải viết khác với thói quen mà tôi đã có. Đây cũng là một cách để tôi làm mới bản thân. Với những phương tiện ngôn ngữ thiếu thốn này, tôi phải tìm những cách diễn đạt giản dị hơn, ngôn từ mà tôi sử dụng cũng tiết chế hơn, và nhất là tôi phải tìm cho câu văn một thứ âm nhạc chạy suốt chiều dài tác phẩm, êm đềm và ngọt ngào.
Tôi không sợ nhọc nhằn, tôi chỉ lo làm sao sản phẩm của tôi đừng chìm nghỉm trong đại gia đình văn học. Chỉ có một lần duy nhất, tôi thử thêm những dấu phẩy vào. Kết quả là câu văn trơn tru hơn nhưng bình thường hơn. Giữa bình thường và bất thường tôi đã chọn cái thứ hai.
- Những người viết trẻ Việt Nam thường hay mở rộng không gian sáng tạo, thậm chí đưa vào rất nhiều địa danh nước ngoài, bối cảnh nước ngoài như tìm kiếm một sự mới mẻ. Anh có điều kiện đi xa, sống ở Pháp và đi nhiều nước trên thế giới, trong một không gian rất rộng thì ở tác phẩm lại thu về một không gian rất hẹp, quanh đi quanh lại trong một căn phòng. Có vẻ như anh rất khoái cảm được kiếm tìm, đào bới, xới xáo ở một mảnh đất hẹp do anh tự tay rào lại. Anh có thể chia sẻ về điều này?
+ Thực ra ngay từ trước khi rời Việt Nam tôi đã tìm kiếm những không gian có vẻ nhỏ hẹp cho tác phẩm hội họa. Tôi nói “có vẻ”, bởi vì những không gian này thực ra có thể mở vào những không gian khác mênh mông hơn. Tôi cho rằng, những không gian địa lí dù lớn thế nào cũng có giới hạn, trong khi đó không gian bên trong mỗi cá nhân dù bé nhỏ làm sao, cũng có thể mở rộng đến vô cùng. Thành phố bị kết án biến mất xảy ra trong những không gian hạn chế về kích thước nhưng thực ra khi tôi đào bới trong không gian riêng tư này tôi đã đào bới ngay chính bản thân. Thế giới của tôi nhỏ bé như thế trong căn phòng, nhưng tôi đi mãi mà chẳng hết. Trong lúc đào bới nó, tôi tìm được một căn phòng X, rồi hai, rồi ba căn phòng đều mang tên X. Tôi cũng tìm thấy những cửa sổ, những phố, những màu sắc và cả hơi nước nữa. Tất cả bọn chúng tuy riêng tư nhưng lại giống như ở bất cứ nơi đâu, nơi mọi không gian và châu lục khác. Chúng tồn tại, nhưng cũng có thể chưa hề bao giờ tồn tại bên ngoài tưởng tượng. Mà như anh đã biết, không gian của tưởng tượng sẽ lớn biết chừng nào, trong khi đó mọi không gian của Việt Nam, của Pháp, của Mĩ… đều đo đếm được.
- Ở Thành phố bị kết án biến mất anh đã sử dụng hình ảnh hơi nước như một biểu tượng, và đọc tiểu thuyết cũng thấy rõ triết lí “trong giọt nước có cả vũ trụ”. Ý tưởng chung của dự án Những đề nghị của Lời và Hình khiến anh quyết định triển khai tiểu thuyết theo hướng này? Anh muốn khai thác triệt để thế mạnh của một nghệ sĩ thị giác? Hay một điều gì khác?
+ Khi bắt đầu dự án Những đề nghị của Lời và Hình, tôi chỉ vì mục đích khảo sát những khả năng của chúng, để hiểu nếu như cái này có thể đứng vào chỗ của cái kia, và tôi sẽ biểu đạt bản thân thế nào nếu như tôi sử dụng chúng như những công cụ đồng thời, để làm tác phẩm. Hơi nước chỉ xuất hiện ở Thành phố bị kết án biến mất, lúc đầu như một phương tiện thị giác. Theo chiều dài tiểu thuyết, hơi nước đã trở nên một ám ảnh, và phương tiện thị giác này đã hóa thân thành biểu tượng cho những gì không thị giác. Hơi nước hầu như là một điều kiện lớn nhất, để hình ảnh xóa đi hình ảnh, để thành phố xóa đi thành phố, để người đi lạc lối về. Tức là những phủ định. Tuy nhiên, tôi không biết nếu như tôi đã khai thác thế mạnh của một họa sĩ, nhưng tôi đã viết như một người làm văn học, với đầy đủ các vấn đề mà người viết nào cũng gặp: đấy là sự dàn xếp để ưu tư cá nhân không còn là cá nhân, mà hóa thân vào những trăn trở mang tính xã hội, và trở thành văn học.
- Đọc Thành phố bị kết án biến mất cảm giác xót xa, rưng rưng trước những mất mát, trước những sự biến mất của kí ức, biến mất của những điều tốt đẹp ám ảnh đến khi những trang sách khép lại. Chắc chắn anh cũng đã có những trải nghiệm để gửi gắm những phần kí ức của mình trong đó. Tại cuộc tọa đàm mới đây tại Việt Nam anh cũng chia sẻ, kí ức là phần hành trang nặng kí nhất anh mang theo. Anh có thể chia sẻ những kí ức về Việt Nam?

“Đó là một cuộc trình diễn đẹp kì ảo của ngôn ngữ và trí tưởng tượng, đi kèm với cách sắp đặt lớp lang bí ẩn và hấp dẫn. Cuốn sách dày gần 300 trang cuốn hút ngay trang đầu bằng lối viết giàu khả năng quan sát, họa hình, họa tưởng.
Mở ra bối cảnh cô độc của một chàng trai 28 tuổi mang tên X sống trong lòng thành phố đầy hơi nước, giữa khu chung cư số Không chật hẹp, Vũ nhanh chóng ném người đọc vào cảm giác kích thích, mơ hồ.
Một căn phòng đơn sơ, một người trẻ tuổi lạc lõng và mệt mỏi trong ngày Chủ nhật sẽ chẳng khác nào những cuốn tiểu thuyết thời đại khác, nhưng người đọc chợt nhận ra anh ta có khả năng hình tượng hóa những biểu hiện nhỏ nhất trong môi trường chật hẹp và buồn chán quanh mình.
Vũ đã trộn lẫn và đưa vào tâm thức X những hình ảnh và ý niệm bất đối xứng: Giấc mơ và hiện thực. Nghịch lí và hợp lí. Hình ảnh và ngôn từ. Bức tường và cửa sổ. Bầu trời và thành phố. Máu và hơi nước. Màu sắc và con số. Những vụ bắt bớ và tính đơn độc của con người… ”
Nhà báo HỒ HƯƠNG GIANG


+ Kí ức giúp cho mỗi cá nhân lớn lên, trưởng thành hoặc nhỏ bé trở lại. Kí ức cũng giúp họ tồn tại, hoặc biến mất. Ngay cả sự vật cũng mang trên mình kí ức, ngay cả máy móc cũng được trang bị bộ nhớ của nó. Nhưng nếu với loại người này kí ức có thể kéo họ giật lùi về quá khứ, thì với những người khác kí ức lại giúp họ tiếp tục cuộc sống còn. Bi kịch lớn nhất của con người do vậy chính là sự biến mất của kí ức. Và, cũng có thể nói rằng những tiếp xúc gần đây với Hà Nội cho tôi một cảm giác tương tự như thế về quá khứ. Như thể có một Hà Nội khác chẳng hề liên quan, đã che khuất Hà Nội mà tôi đã có. Mỗi lần như vậy, tôi chỉ có một cách, giống hệt như một nhân vật trong tiểu thuyết của tôi đã làm, khi không tìm được hình ảnh: Tôi chỉ có thể nhắm mắt lại, và Hà Nội lại hiện lên dưới mi mắt khép chặt, trong một hình ảnh rực rỡ và thân thiết.
Cuộc chơi giữa hình ảnh và ngôn từ
- Anh nhìn nhận thế nào về vai trò của người làm nghệ thuật, đặc biệt là người cầm bút trong việc kiến tạo không gian sống cho cộng đồng thông qua việc sáng tạo?
+ Người làm nghệ thuật không có nhiệm vụ can thiệp vào cuộc sống theo kiểu xây dựng cho nó một không gian kiểu mẫu, với những con người kiểu mẫu trong những phong cảnh đô thị và quê mùa mẫu mực. Nghệ sĩ không hứa hẹn bất cứ điều gì với mọi cộng đồng. Đấy là công việc của chính trị hoặc quảng cáo vốn là những lĩnh vực xa mà lại gần nhau: họ rất chăm sóc những không gian ảo tưởng và thẩm mĩ để gọi chúng là những không gian sống. Vai trò của nghệ sĩ, theo tôi là đề nghị với công chúng những cách nhìn khác về thế giới mà họ đang sống, với những thái độ mà họ không có.
- Thế còn không gian cho tác phẩm? Xem triển lãm sắp đặt mĩ thuật của anh thấy tính tương tác rất lớn, người ta có cảm giác mình cũng là một phần của không gian ấy, của sự sắp đặt ấy dưới bàn tay tác giả, tương tự như thế ở tác phẩm văn học, có thể hiểu đấy là “quyền lợi” của công chúng hay là sự “cưỡng chế” đối với họ, hay họ được dẫn dụ bởi sự đồng cảm khi cùng chung một cảm giác về đời sống?
+ Không gian trong tác phẩm nghệ thuật không phải lúc nào cũng là hình ảnh chính xác của những địa điểm đã hoặc đang tồn tại nơi hiện thực, nhưng vay mượn nhiều ở kinh nghiệm của nghệ sĩ. Không gian này hoặc là bản sao của hiện thực, hoặc hoàn toàn hư cấu, hoặc cả hai, nhưng phải đủ sức chứa tất cả mọi diễn biến của tiểu thuyết. Và dĩ nhiên, không gian phải đề nghị với tiểu thuyết những gì có thể và không thể với đặc thù của nó.
Khi đến với văn học, tôi mong muốn tạo dựng được bằng ngôn từ một địa điểm (cụ thể và hư ảo), để người đọc có thể hình dung nó bằng hình ảnh, và họ có thể bước vào hình ảnh trong tưởng tượng. Khi làm tác phẩm thị giác, tôi lại muốn tạo dựng bằng hình ảnh những không gian mà người xem có thể kể về chúng bằng ngôn từ. Chính vì vậy, tôi đưa vào trong cùng một không gian (của các tác phẩm thị giác và văn học) những gì có thật và những gì không thật. Để đem lại cho công chúng những cảm giác vừa thân quen vừa xa lạ với tác phẩm. Những mâu thuẫn trộn lẫn này giúp công chúng và người đọc vừa tìm thấy bản thân, vừa khám phá những gì không thuộc về họ. Những lí do khiến họ tham gia vào tác phẩm do vậy cũng phức tạp hơn: đấy là “quyền lợi”, là “cưỡng chế”, là “đồng cảm”… gọi thế nào cũng đều đúng cả.
- Nói về tiểu thuyết của anh, nhà phê bình La Khắc Hòa đã cho rằng, đây là một tác phẩm hiếm hoi dành cho công chúng nghệ thuật, góp phần sản sinh và đào tạo công chúng nghệ thuật. Sống và làm nghệ thuật tại Pháp, chắc hẳn anh có những nhìn nhận về lớp công chúng nghệ thuật và những món ăn tinh thần dành cho họ tại Pháp?
+ Công chúng nghệ thuật ở đâu cũng hiếm. Tác phẩm thực sự dành cho họ cũng không nhiều. Nhưng ở những xã hội phát triển, ranh giới giữa họ với đại chúng không am hiểu nghệ thuật rõ ràng hơn, sự chênh lệch về số lượng cũng kém quan trọng hơn. Từ bao đời nay đã vậy, phần đông công chúng dè dặt trước những tác phẩm không tiền lệ, nhưng lại sẵn sàng cởi mở với những cái tên quen thuộc, với những giải thưởng. Để những cuốn sách đã bán chạy sẽ càng bán chạy. Vấn đề vẫn là sự lựa chọn, nơi người viết, cũng như nơi người thưởng thức. Vấn đề cũng nằm ở những gặp gỡ giữa độc giả và tác phẩm, đôi khi phải nhờ vào sự tình cờ và những may mắn không định trước.
- Với dự án Những đề nghị của Lời và Hình, đến nay, anh nhìn nhận công chúng Việt đón nhận “đề nghị” của anh thế nào?
+ Dù muốn hay không dự án của tôi cũng chia đều cho công chúng. Những người làm chuyên môn tiếp cận các tác phẩm này bằng thế mạnh của họ: hoặc họ khai thác ngôn ngữ, hoặc họ khảo sát hình ảnh. Họ cực đoan hơn và khó lòng chia sẻ với lĩnh vực mà họ không thực hành. Với công chúng không làm nghệ thuật cuộc tiếp cận với dự án có lẽ toàn diện hơn, nhưng lại kém sâu sắc hơn. Công chúng này sẵn lòng tiếp nhận cuộc trao đổi của cả hai loại hình nghệ thuật, lắng nghe cả hai. Và trong những đối thoại này, dường như ngôn từ chính là phương tiện thông tin dễ dàng hơn cho đại công chúng, để kể hình ảnh, và để cắt nghĩa cho chính bản thân… ngôn từ nữa. Kết luận này vô tình nhắc lại một trích đoạn của Thành phố bị kết án biến mất, trong một chương dành cho ngôn từ và hình ảnh: “…thực ra ngôn từ trong nhiều trường hợp có xu hướng can thiệp vào mọi nơi kể cả hình ảnh. Để thông dịch hình ảnh bằng những dấu hiệu của nó.”
- Tôi cũng không rõ có nên đòi hỏi sự rõ ràng ở một câu chuyện vốn “mù mờ” hay không, nhưng chắc hẳn anh cũng muốn nói gì đó qua Thành phố bị kết án biến mất chứ?
+ Câu chuyện “mù mờ” hay “rõ ràng”, là tùy thuộc vào dụng ý của tác giả, nếu như anh ta cố tình viết như vậy. Sự “mù mờ” này cũng có thể là bút pháp của người viết, hoặc chính là thủ pháp nghệ thuật nữa. Nhưng công chúng tiếp nhận tác phẩm cũng theo những cách mù mờ hoặc rõ ràng tương tự, tùy theo sự nhạy cảm và kiến thức của họ với văn học. Tôi muốn đưa vào Thành phố bị kết án biến mất những suy tư cá nhân về một xã hội tôn vinh cho tính dễ nhớ và nhớ dễ, về những con người buộc phải ở lại trong thân phận mà xã hội đã thu xếp cho họ. Họ không thể chống đỡ nổi những bất thường không định trước: Cụ thể là những đám loang đỏ xuất hiện trên trần nhà vào sáng chủ nhật. Là những cửa sổ bất ngờ bị xâm chiếm bởi một bức tường xây dở. Là sự bất an của cuộc sống, là khả năng yếu kém của con người không thể tự bảo vệ mình trước bạo lực, trước cả tình yêu nữa.
- Anh từng chia sẻ rằng, trong cuộc sống hiện đại, nguy cơ vô danh của con người là rất lớn, và con người rất khó chống đỡ lại nguy cơ đó. Điều này cũng được thể hiện trong Thành phố bị kết án biến mất. Tôi thì nghĩ sự “đồng phục” về tư duy mới là điều đáng sợ, và nó có trong bất kì xã hội nào, ở nền văn minh nào… Anh nghĩ sao về điều này?
+ Vô danh là một cách nói. Một anh X sẽ là một thực thể duy nhất. Muôn vàn anh X sẽ khiến tất cả mọi anh X đều trở nên vô danh. Sự đồng phục về tư duy như anh nói, phải chăng cũng cho kết quả là những bộ não vô danh? Vô danh bởi vì chúng giống nhau. Chúng giống nhau cho nên không thể phân biệt được phiên bản và biến tấu. Những tác phẩm văn học mặc đồng phục cũng sẽ cho ra đời hàng loạt bộ nhớ vô danh theo cùng một cách như vậy, nơi độc giả. Sự có mặt của tôi trong làng văn học sẽ vô nghĩa lắm nếu như tôi cũng đem tới đây một tác phẩm sơ lược như muôn vàn tác phẩm xinh đẹp khác, để phục vụ nhu cầu “dễ hiểu” của một nền văn hóa đại chúng.
- Anh nghĩ gì về việc vô danh và hữu danh của người làm nghệ thuật?
+ Tôi không cho rằng người làm nghệ thuật trong đúng nghĩa của nó, đi tìm sự vô danh hoặc hữu danh cho mình. Anh ta tìm đủ mọi cách để đứng tách ra khỏi đồng loại, để đừng trở nên vô danh. Anh ta cũng không đi tìm sự hữu danh, vì nếu vậy sẽ có muôn vàn cách thức nhanh gọn và dễ chịu hơn, để được danh tiếng. Mọi công việc anh làm trong nghệ thuật, suy cho cùng để nhằm mục đích biểu đạt bản thân anh. Đấy là công việc khó khăn và ý nghĩa nhất.
- Cám ơn anh đã chia sẻ với VNQĐ!



 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

 
Nhân vật Anna Karenina và sự soi chiếu từ nguyên mẫu đời thực

Nhân vật Anna Karenina và sự soi...

Lev Tolstoy - “con sư tử” của văn học Nga thế kỉ XIX - đã tạo ra những tác phẩm vĩ đại từ chất liệu tươi ròng của đời sống. Mỗi nhân vật được ông khắc họa luôn trở thành những điển hình nghệ thuật bất diệt, có tác động sâu đậm đến mọi tầng lớp xã hội. (NGUYỄN THỊ HỒNG​ HOA)

Quảng cáo