Mang trên tay "Xá Lợi" trái tim mình

Thứ năm - 15/01/2015 14:30

Trực Quán số này: Nguyễn Xuân Thủy

Khách văn: Ngô Liêm Khoan

NGÔ LIÊM KHOAN:
- Sinh năm 1977 tại Bình Định
- Tốt nghiệp Đại học Đà Lạt ngành Ngữ văn (năm 1999), ngành Việt Nam học (năm 2000)
- Theo học Cao học Văn học Việt Nam, trường Đại học Khoa học xã hội Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (2002– 2005)
- Ủy viên Ban Nhà văn trẻ - Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh
- Đã xuất bản: “Trở mình trong máng xối” (Nxb Hội Nhà văn, 2007); “Những tấm ván trên cầu Hiền Lương” (Nxb Trẻ, 2014)
- Hiện sống và làm việc tại TP. Hồ Chí Minh.

- Chúc mừng anh trở lại với thơ bằng tập “Những tấm ván trên cầu Hiền Lương”. Khi đọc xong tập thơ này tôi rất muốn hỏi, anh nghĩ gì về thơ thế sự?

+ Thơ, trước hết bắt nguồn từ xúc cảm, mối quan tâm của nhà thơ tập trung vào đâu thì khuynh hướng sáng tác thể hiện ở đó. Nghệ thuật, trong đó có thơ ca, trước hết đó là nhu cầu tự thân, nhưng đều hướng đến sự tác động. Nếu một bài thơ đến từ một sự rung động, một cảm xúc riêng tư thiên về cảm tính vẫn có tác động đến nhiều người, nhưng đó là những tác động nặng về cảm xúc; một bài thơ thế sự có tác động khác, nó không dừng lại ở cảm xúc, mà nó có tính định hướng cho hành động.

Những bài thơ thế sự của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm vô cùng giản dị, nhưng nước non theo đó mà liền một dải, thời cuộc thì xoay vần, nhưng lòng người thì quy về một mối.

Ở tập thơ “Những tấm ván trên cầu Hiền Lương” tôi đã chọn những bài thơ rời và sắp xếp, kết cấu sao cho chúng có chung “một mái nhà”. Có lẽ do những vấn đề đặt ra trong tập thơ có tính tập trung cao, xuyên suốt nên tạo cảm giác tác giả có khuynh hướng về thơ thế sự.

- Theo dõi tình hình thời sự mỗi ngày không khó để bắt gặp những tin nóng hổi về chiến sự ở đâu đó trên thế giới, nơi mà những con người bị giết chết dưới tay chính những đồng loại của mình. Thế giới này chưa bao giờ thôi bất ổn, chưa bao giờ hết đớn đau, tàn sát, nhưng rất may thế giới này cũng chưa bao giờ hết những trái tim biết rung cảm. Mọi binh pháp xưa nay đều để dùng cho chiến tranh, và phải chăng thơ chính là “binh pháp của hòa bình” như anh đã quan niệm và viết ngay ở lời đề từ tập thơ? Anh có thể chia sẻ thêm?

+ Ai là kẻ đầu tiên chết dưới tay đồng loại? / Ai là kẻ cuối cùng thoát khỏi lưỡi đao? Câu hỏi đầu tiên thì mịt mùng trong đêm trường “mông muội”; câu hỏi tiếp sau lại là một nan giải của thời đại này, với những con người thông minh, cùng với sự phát triển như vũ bão trên nhiều lĩnh vực. “Thơ là Binh Pháp của Hòa Bình”, là lời đề từ của tập thơ này, và tôi đã kết cấu, đã trình bày nó để người đọc cầm trên tay tập thơ như cầm một quyển “binh thư cổ”: khổ sách:12 x 22 cm; một trăm trang sách, một trăm người con dân đất Việt… Bìa một, cánh chim câu của Nhà xuất bản Trẻ, đã được thay bằng cánh chim câu - biểu tượng hòa bình của Liên Hiệp Quốc…

Nhưng điều mà tôi băn khoăn là, từ khi cánh chim câu mỏng manh và quá đỗi hiền lành được dùng làm biểu tượng, được tung lên ở nhiều nơi và kèm theo đó là những lời mong ước, những nguyện cầu nhưng những tai họa do chiến tranh gây ra, và mối lo về chiến tranh vẫn thường trực. Phải chăng cần một niềm tin, một quyết tâm sắt đá để cánh chim câu vút lên như cánh chim Bằng đủ sức rợp che. Nhưng gió dưới đôi cánh của nó không là của riêng của một lục địa rộng lớn nào, mà phải là một bầu khí quyển trong lành của một thế giới ngày càng “phẳng”, “chật” và có quá nhiều điều phải cùng chung gánh vác.

- Thoạt nghe tên tập thơ của anh người đọc sẽ nghĩ đến một tập thơ về chiến tranh Việt Nam nhưng những gì anh thể hiện ở “Những tấm ván trên cầu Hiền Lương” rộng dài hơn thế, và thực tế bài thơ được chọn làm tiêu đề chỉ như một đường link để kéo những bài thơ trong tập lại gần hơn với độc giả Việt. Anh có dụng ý gì khi làm như vậy?

+ Những cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc, bộ lạc, những cuộc chiến tranh giữa các quốc gia trong cùng một khu vực lãnh thổ, lục địa… tất cả diễn ra trong lịch sử loài người, ở mức độ có thể nhận thức được, tôi lấy một cộc mốc để phân chia: đó là những cuộc chiến tranh trước Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, và những cuộc chiến tranh sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Nhân loại đã tìm ra nhau, đã kết nối, đã tay bắt mặt mừng, và đã tiến hành những cuộc chiến quy mô. Sau cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, theo tôi, có thể tất cả mọi cuộc chiến tiếp sau đều ít nhiều có “tính nhân loại” (tức là tính toàn cầu).

Và vì vậy, tôi viết về điều gì, ở đâu, thì trước hết, trong bản chất tôi viết cho người Việt Nam.

Thế giới hiện nay rộng lớn, “phẳng”, và “chật hẹp” hơn nhiều; một cuộc biểu tình, bạo loạn, chiến tranh ở đâu đó bất kì trên quả đất này rất có thể lại liên quan mật thiết đến số phận của những con người nhỏ bé nhất, tưởng chừng như họ đang sống trong lãng quên ở một nơi hẻo lánh nào đó; không phải gián tiếp đâu, mà đôi khi rất trực tiếp, trực diện.

- Vâng, thế giới ngày càng “phẳng”, và trong nhiều thứ hội nhập, toàn cầu hóa, người ta sẵn sàng hội nhập, toàn cầu hóa cả cái ác, cái ác từ những vùng đất mông muội và cả cái ác từ những địa chỉ văn minh bậc nhất. Điều đó khiến nhiều người mất phương hướng. Và như anh nói, hòa bình mang biểu tượng cánh bồ câu dường như tồn tại trong những thấp thỏm, mong manh…

+ Như thuốc súng, thuốc nổ có thể dùng vào những việc hữu ích vì mục đích dân sinh chứ đâu phải chỉ để làm ra bom đạn, vũ khí sát thương. Như việc phát kiến ra châu Phi, châu Mĩ, Ấn Độ của Diaz, Colombo, Vasco de Gama, và chuyến đi vòng quanh thế giới lần đầu tiên của Ferdynand Magellan vào những năm giữa thế kỉ 15, thế kỉ 16 là thể hiện khát vọng khám phá, kết nối con người giữa các lục địa, chứ đâu chỉ là ước muốn áp đặt sự thống trị của châu Âu lên nhiều châu lục khác. Như “kim chỉ nam” là để con người khỏi lạc lối giữa đại dương chứ đâu phải là để một dân tộc này “cỡi sóng” khuất phục một dân tộc khác. Như Youtube, Twitter, Facebook là những phương tiện để mọi người có thể tìm thấy nhau, kết nối, thể hiện bản sắc của riêng mình, bày tỏ những thông điệp tốt lành chứ đâu phải là nơi tuyên truyền và kích động bạo lực. Chúng ta đã mất phương hướng, đã lạc lối trong nền văn minh, trong sự phát triển vượt bậc của chính chúng ta.

Có lẽ chúng ta nên bắt đầu lại từ đầu, giản dị hơn, như trồng thêm nhiều cây xanh, xay một ít bột gỗ để “phát minh” ra những trang giấy mới, và kí thác lên đó những tín hiệu mới, tốt đẹp hơn, hài hòa hơn, tin cậy hơn.

Chỉ cần đọc tên những bài thơ như “Những tấm ván trên cầu Hiền Lương”, “Câu hỏi tháng ba”, “Gò Đống Đa”, “Đền Gióng”, “Tiếng nước”, “Những câu hỏi ngây ngô”, “Điều cần thiết” và một số bài thơ khác, tôi đã nhận ra: Trong tập thơ này, Ngô Liêm Khoan viết về đề tài chiến tranh và số phận con người, sự vật trong chiến tranh rất tập trung trong một phạm vi rộng. Những bài thơ này thường ít khai thác bề mặt, hiện tượng, mà thường khai thác bề chìm, bề sâu, bản chất, xuất phát từ một cách nhìn, một cách nghĩ riêng biệt, độc lập của một cái tâm nhân bản và không phân biệt. Những bài thơ ấy đọc lên, người đọc dễ bị rơi vào một vùng xoáy lốc và rẩt dễ bị động tâm. Những bài thơ ấy, cũng là những tiếng kêu xé lòng kèm theo lời cảnh tỉnh, cảnh báo…
Sinh thời, nhà thơ lớn Chế Lan Viên từng khuyên các nhà thơ trẻ: “Các bạn hãy “đào sâu”, hãy “xoáy mạnh” trong từng tứ thơ. Đó mới là điều quan trọng”. Với “Những tấm ván trên cầu Hiền Lương”, Ngô Liêm Khoan đã làm được như thế.

(Nhà thơ Đặng Huy Giang)

- Hình ảnh “những tấm ván trên cầu Hiền Lương” lặp đi lặp lại như một ám chỉ, một sự nhắc nhớ, một vật chứng, một vết sẹo chiến tranh. Có thể nói anh đã lựa chọn chúng như một vật phát ngôn, anh có thể chia sẻ về điều này?

+ Để cho mỗi người nhìn thấy hình bóng của chiến tranh; để cho từng vân gỗ thành chỉ dấu căn cước của mỗi con người; để dòng sông trở nên thanh bình như “nước gương trong”. Dù “những tấm ván đã làm phận lát cầu, đã xong phận lát cầu” nhưng điều băn khoăn của tôi vẫn là “Những tấm ván trên cầu Hiền Lương/ Sau mấy mươi năm/ Tấm còn/ Tấm nát/ Tấm bên này vẫn nằm phía bên này?/ Tấm bên kia vẫn nằm phía bên kia?”. Và tôi xin trở lại câu đề từ: “Hơn ba mươi năm cỏ mấy bận ngút xanh/ Chỉ ngại lòng người chưa bén rễ”.

Chưa bén rễ thì “một cây” còn chưa đứng được, nói gì mong ước “chụm lại”, thành rừng, thành lũy.

- Tiếng nói, thông điệp từ những vật vô tri luôn vang lên trong những câu thơ, những bài thơ của anh như những chất vấn đối với con người. Thơ anh cũng cho người ta thấy sự vô nghĩa của hành trình “tiến hóa” từ vô thức đến tri thức và chẳng biết điều gì đang chờ loài người ở phía trước, cũng như xét cho cùng chúng ta đang hướng đến những giá trị nào… Có khi nào anh cảm thấy vô vọng với những suy nghĩ kiểu như vậy? Và theo anh, cái sự “chưa bén rễ” ấy là vì đâu?

+ Tiến hóa được dùng như một biện pháp tu từ “Từ đá ném cung tên/ Đến máy bay đại bác/ Rồi cột nấm hung tàn/ Từ những kẻ săn thú/ Đàn ông tiến hóa thành/ kẻ đi săn đồng loại/ Từ tảo tần hái lượm/ bà mẹ tiến hóa thành/ Người đi nhặt xác con”. Tức là sự “lớn lên vùn vụt” của những cỗ máy chiến tranh chứ không phải là sự tiến hóa nói chung của con người trên hành trình đến với văn minh, với tri thức, với khoa học…

Xét cho cùng là nỗi sợ: “Vì lo sợ kẻ khác/ Chúng ta tiến hóa nhiều/ Từ những cuộc chiến tranh”. Không phải kẻ nhỏ, kẻ yếu sợ đâu; mà kẻ lớn, kẻ vĩ đại cũng sợ. Nỗi sợ chi phối tất cả chứ không phải là niềm tin; khi nào niềm tin được thay vào nỗi sợ, có lẽ nhiều điều tốt lành hơn sẽ đến. Nhưng ai là người thay thế nỗi sợ bằng niềm tin. Khi nào tất cả chúng ta có đủ niềm tin để không còn lo sợ. Nếu không kể đến những nguy cơ chiến tranh, tôi vẫn là người lạc quan. Con người đã tiến rất xa, nhưng có vẻ con người vẫn chưa chịu biến những thành tựu ấy thành những phương tiện có thể phục vụ tốt nhất cho hạnh phúc của mình, và như thế, thêm một thành tựu, có khi lại thêm những khổ đau.

- Anh đã hơn một lần nhắc đến niềm tin. Tôi rất muốn nghĩ rằng những nhà thơ là những người gieo niềm tin? Anh nghĩ thế nào?

+ Tất cả chúng ta, từng cá nhân và từng cộng đồng, từng dân tộc và từng tôn giáo, từng đất nước, từng khu vực và từng lục địa,… Nhà thơ, hay bất cứ ai cũng chỉ là một thành viên đơn lẻ trong sự kết nối ấy.

- Dù “tiến hóa” đến đâu thì sự tàn bạo và lòng nhân ái, nỗi đau đớn và niềm hạnh phúc luôn song hành với con người. Nếu ai đó nói rằng họ không những không tìm được niềm tin mà còn thấy hoang mang khi đọc thơ anh, anh sẽ nói gì với họ?

+ Chúng ta biết được rằng, con người là một loài có khả năng sử dụng công cụ rất cao: công cụ lao động, công cụ săn bắt, công cụ tự vệ, công cụ tấn công. Trong tự nhiên, các con vật đồng loài, dù tranh chấp lãnh địa, thức ăn,… dù có thế nào thì cũng rất hiếm khi kết cục là một sự hủy diệt lẫn nhau. Chúng chỉ dùng sừng, dùng răng, dùng móng vuốt,… “Cuộc chiến tan” con thắng được, con thua lủi thủi đi tìm một cơ hội khác, giữa mênh mông tự nhiên, thiên nhiên. Còn con người, chiến tranh thì tàn khốc, lại còn biết hành hạ, đày đọa lẫn nhau một cách tinh vi về thể chất lẫn tinh thần. Biết chế tạo bom mìn, đủ thứ cả...

“Niềm tin lại đến khi ta què chân vì đá/ Ta biết trên đời này còn có đá/ Là để làm què chân ta”. Đó là những câu thơ của Czeslaw Milosz, nhà thơ được trao giải Nobel văn học 1980. Tất nhiên đá mà Czeslaw Milosz nói không phải là viên đá của niềm tin mà chúng ta đang nói đến. Đá ở đó là đá của tai họa, đá của sự tàn bạo, đá của sự nhẫn tâm, đá gây ra những đớn đau và mất mát cho con người.

Nhưng người Việt ta phải tin, như Czeslaw Milosz đã tin, là trên đời này còn có đá. Tin có đá để làm gì? Để mỗi người góp một viên đá cho “trụ đồng” thêm bền vững, đá đắp xây chủ quyền, đá làm nên cương vực. Thiếu đá là “đồng trụ chiết”, thiếu đá là “Giao Chỉ diệt”. Đó là niềm tin, niềm tin của đá.

- Đây đó trong đời sống văn học vẫn thấy người ta nói đến “trách nhiệm xã hội” của người sáng tác, khi đọc anh tôi thấy cái “trách nhiệm xã hội” ấy hiển hiện rất rõ, rất đậm, và quan trọng hơn, nó đã hòa quyện cùng “trách nhiệm nghệ thuật”. Quan niệm của anh về “trách nhiệm xã hội” của người làm thơ thế nào?

+ Khi một bài thơ cất lên, nếu đó là một bài thơ thực thụ thì nhà thơ đã làm nhiệm vụ mà cộng đồng giao phó. Tôi thiên về khuynh hướng xem những người nghệ sĩ là “bẩm sinh”, tức là họ sinh ra, là để đảm nhiệm “trách nhiệm nghệ thuật” với cộng đồng. Và vì vậy, “trách nhiệm nghệ thuật” cũng là một sự “phân công xã hội đặc thù”.

- Theo dõi hành trình sáng tạo của anh, thấy Ngô Liêm Khoan viết không nhiều, thay vào đó là những bài thơ có sức nặng. Nhòm vào chuyện bếp núc một chút, điều gì thường thôi thúc khiến anh không thể không đặt bút viết một bài thơ?

+ Tôi luôn có ý thức tích lũy cho thơ, ngay trong việc chọn đọc những tác phẩm văn học, những công trình khoa học nhân văn, và cả những công trình khoa học xã hội, khoa học tự nhiên mà tôi có thể tiếp thu được phần nào. Những vấn đề mà tôi quan tâm, dần dần trở thành cảm xúc, và trong một thời điểm nào đó những bài thơ được hình thành. Có những bài thơ mà trước khi viết tôi đã đọc rất nhiều tư liệu, ghi chép cẩn thận, thuộc nằm lòng từng thông tin; ngược lại, có những bài thơ tôi viết rất nhanh, như từ vô thức, tiềm thức...

- Lứa tuổi những người như anh và tôi sinh ra sau chiến tranh, tất nhiên cái bóng của nó thì còn hắt dài lên chúng ta và cả các thế hệ sau này nữa, nhưng khi đọc “Những tấm ván trên cầu Hiền Lương” tôi cảm giác vệt đen của chiếc bóng lớn ấy đã hằn in lên Ngô Liêm Khoan sậm màu hơn, suy nghiệm u hoài hơn? Anh có thể chia sẻ về điều này?

+ Sinh ra sau chiến tranh, sinh ra trước chiến tranh, sinh ra trong chiến tranh đều có một mẫu số chung là chiến tranh; phần bề nổi, bề mặt có thể khác nhau nhưng cùng chung trải nghiệm ấy, chiếc bóng ấy. Có sự khác nhau không giữa việc trải nghiệm chiến tranh bằng thực tế và việc trải nghiệm chiến tranh bằng kí ức. Trải nghiệm bằng thực tế thì ngưng tiếng súng có thể có khoảng lặng; nhưng trải nghiệm bằng kí ức thì chiến tranh dù đã qua rất lâu rồi nhưng kí ức vẫn còn ủ lửa.

- Chiến tranh khởi nguồn từ những bộ óc con người và hòa bình chỉ thực sự đến trong tim mỗi con người. Bi kịch của loài người đôi khi chỉ vì con tim thì muốn nhưng bộ óc thì không, khi anh đã viết “Từ vết thương, con trai làm ngọc / Từ nhát chém, con người làm nên hận thù” có nghĩa là anh cũng nghĩ như thế?

+ Đó là một tu từ về sự đối lập. Thêm một câu hỏi nữa: “Bao lâu rồi từ dáng dấp vỏ trai/ Người làm nên những tấm khiên/ Che đỡ mình và đâm đồng loại”. Nhưng phải chăng chúng ta luôn chờ đợi: “Bao tỉ vòng tiến hóa nữa/ Để loài thượng đẳng này/ Biết cấy vào tim mình những hạt châu”. Có lẽ chúng ta phải mang trên cổ, trên vòng tay, trên thân thể ta “xá lợi” của chính trái tim mình, theo cách mà con trai đã làm ngọc.

- Ở bài thơ cuối trong tập “Những tấm ván trên cầu Hiền Lương” anh đã viết “Nhà thơ, kẻ cần cù gieo khổ đau trên cánh đồng hạnh phúc, kẻ rèn gươm từ tủy não của mình, lửa đỏ máu qua trái tim quay bễ, miệt mài làm những cuộc sát thương”. Người ta vẫn nghi ngờ vào quyền năng của thi ca ở thời đại hôm nay nhưng khi đọc những câu thơ của anh tôi chợt nghĩ liệu chúng ta nên nghi ngờ quyền năng của thi ca hay là thay vào đó hãy nghi ngờ… tài năng của người làm thơ. Anh nghĩ thế nào về điều này?

+ Trong một khoảnh khắc tôi đã viết rất nhanh bài thơ này. Và đây có lẽ là bài thơ duy nhất của tập thơ mà tôi thuộc nằm lòng ngay từ khi viết ra mà không cần phải đọc lại.

Chức năng của thi ca, mối liên hệ giữa người đọc và thi sĩ, sự tác động và lan tỏa của cảm xúc như nắng sau mưa, như gương mặt sáng bừng sau nước mắt, như một cuộc hồi sinh.

- “Nhà thơ sống thêm một ngày nữa để làm gì? Đơn giản vì ở đó biết đâu còn một bài thơ đang chờ đợi”. Có thể coi đó là tuyên ngôn sống của anh – một người làm thơ?

+ Có thể đó là một tu từ. Nhưng tôi luôn mang theo quan niệm rằng, con người từ khi sinh ra đã mang sẵn trong mình một thiên chức – một khuynh hướng đảm nhiệm một vai trò nào đó trong xã hội. Và con người chỉ có thể đánh dấu sự tồn tại, và thực sự được tồn tại nếu anh ta thực hiện tròn vẹn thiên chức - vai trò đó. Vậy thì mục đích của nhà thơ, của thi sĩ là gì nếu không phải là một bài thơ phía trước.

- Cám ơn anh đã chia sẻ với VNQĐ



 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

 
Nhân vật Anna Karenina và sự soi chiếu từ nguyên mẫu đời thực

Nhân vật Anna Karenina và sự soi...

Lev Tolstoy - “con sư tử” của văn học Nga thế kỉ XIX - đã tạo ra những tác phẩm vĩ đại từ chất liệu tươi ròng của đời sống. Mỗi nhân vật được ông khắc họa luôn trở thành những điển hình nghệ thuật bất diệt, có tác động sâu đậm đến mọi tầng lớp xã hội. (NGUYỄN THỊ HỒNG​ HOA)

Quảng cáo