Rừng thiêng

Chủ nhật - 11/01/2015 00:00

.TRƯƠNG ANH QUỐC

Bạn ra tận ngã ba bìa rừng đón, dắt anh về nhà chủ. Căn nhà nhiều gian có gác gỗ, các ô cửa sổ mở ra phía rừng, lộng gió. Nhá nhem, ngoài sân lợn mẹ đen trùi trũi dẫn bầy con lít nhít dạo loanh quanh ụt à ụt ịt. Phía sau nhà, gà tục tục gọi nhau lên chuồng. Mấy thanh niên ở trần ra gian trước đóng hàng cho chuyến đi ngày mai. Chị chủ nhà cũng là chủ hàng còn khá trẻ ghi hàng xuất cho từng người vào những trang cuối cùng của cuốn sổ dày như lốc lịch. Bạn hỏi sớm mai đã sẵn sàng đi chưa hay còn ở nhà nghỉ mệt. Đi chứ, bắt đầu ra khỏi nhà anh đã tính từng ngày, nghỉ làm gì cho mất thời gian. Dưới ánh đèn vàng vọt, bạn chọn hàng đóng gùi. Anh cầm quai nhấc lên ướm thử, nhẹ hều, thêm chục kí nữa cũng được. Nghe giọng lạ, mấy người đang lom khom đóng hàng ngẩng đầu nhìn lên cười rôm rả, lần đầu đi không để thử sức, coi chừng nửa đường bỏ về. Chuyến đầu ít thôi, mày không cõng nổi chừng đó đâu, hôm nọ có một đứa bộ đội mới giải ngũ từng đi hành quân mang cả mấy chục kí, thêm cây súng đi bộ cả tuần lễ có khi cả tháng ròng thế mà cõng có mười lăm kí đã bỏ hàng nửa chừng, bỏ luôn nghề...

Anh cười tỏ vẻ tự tin. Lần này đi một công đôi chuyện, vừa kiếm tiền vừa tìm thứ lá cây mỗi lá có mười lăm tia lá nửa xanh nửa đỏ trên thượng ngàn về chữa bệnh cho cha. Chiều thằng bạn mới đến, bạn bỏ thêm một trái bí xanh tròn tròn bằng con lợn con dạo ngoài sân lúc sẩm tối, bày cột dây túm miệng chiếc bao bằng quai vải mềm, xỏ que gỗ nhọn đầu bằng ngón chân cái ngang qua miệng bao làm gùi, quấn dây quanh que gỗ một vòng. Khi cõng, dây sẽ thít chặt; khi mở ra lại rất dễ dàng. Bạn lấy gạo dầu lửa bỏ vào gùi. Ngày trước, chuột chạy ngã đèn dầu đổ vào thạp gạo, vo gạo bao nhiêu nước cơm vẫn còn mùi dầu. Đói, nhắm mắt nuốt mới khỏi cổ đã ợ chua sình bụng húp mặt. Sao lại cõng gạo chung với dầu, lủng can dầu đổ ra gạo thì sao? Lo gì. Bạn bọc can dầu bằng hai lớp bao ni lon đặt vào gùi, dựng đứng bao vào góc nhà khoát tay, ngủ đi mai dậy lên rừng sớm.

Mấy thanh niên trèo lên gác còn bạn cùng anh nằm ở gian dưới. Chiếc phản rộng, gỗ gõ dày cả tấc, hơi nóng còn sót lại trong thớ gỗ phả vào lưng. Cả ngày ròng ba bốn chặng xe, thân thể mỏi nhừ, anh trằn trọc lăn qua lăn lại. Bên ngoài cửa sổ, sương bắt đầu xuống, hơi lạnh len lỏi qua khe ván vào nhà, se se. Chim rừng mớ ngủ gọi nhau, vượn hú lảnh lót từng hồi, hoang vu, đêm sâu hun hút. Anh mơ hái được cả một bao đầy lá mười lăm tia. Nửa đêm mọi người lục tục thức dậy, ánh đèn điện vàng vọt vừa đủ sáng lối đi. Anh bật dậy theo cầm bàn chải ra vòi nước phía chái nhà sau. Sột soạt tiếng chân người, bầy heo ụt ịt đòi ăn cạp vào nền xi măng ken két buốt cả xương sống.

Đoàn người mở cửa vác hàng chất lên xe thoăn thoắt, tiếng đạp máy phành phạch, nổ rú trong đêm. Sương dày quánh trước ánh đèn vàng rực, một số xe đi đôi, có xe đi không, lao vút trong tiếng chó sủa, náo động cả xóm nhỏ miền sơn cước. Tối qua lúc đóng hàng, chị Hạnh thông báo, phải đi trước năm giờ sáng mới được qua trạm. Đến trạm mới hơn bốn rưỡi sáng. Chim rừng chưa thức dậy, vùng cao còn chìm trong màn đêm tĩnh mịch. Cõng chuyến lén lút đi lúc nửa đêm không khác kẻ trộm là mấy. Mỗi ngày qua trạm một người đóng một trăm ngàn, lưng bữa nửa tháng dồn lại đưa một lần. Kiểm lâm giữ rừng, quản lí cả người vào rừng. Mấy người cỡi xe không chạy trước dựng ngoài bìa rừng, hôm qua họ qua trạm không lọt đành giấu hàng lại.

Đoàn người đến bên bờ suối. Dỡ hàng xuống, đẩy xe vào vạt lau lách giấu. Lại sợ mất trộm à? Không trộm nhưng sợ bằm lốp. Dạo rày dân dữ lắm, coi chừng họ chặt cẳng. Người Kinh lên vùng cao làm cán bộ, buôn bán lấy gỗ, bao nhiêu vàng bạc của cải mang về dưới xuôi. Người Kinh chiếm đất phá rừng làm xáo trộn cuộc sống hoang dã yên bình, dân càng vào sâu trong núi phá rừng cật lực. Không còn ưng ở nhà sàn, họ phấn đấu xây nhà to mua xe máy chạy bạt mạng gây tai nạn từng ngày, rừng càng trọc. Khoảng cách giàu nghèo càng lớn, họ không còn thân thiện như trước, lòng đố kị nhen nhóm lớn dần theo ngày tháng. Chiều qua, trên đường những ánh mắt nhìn anh chằm chằm, tay họ lúc nào cũng nắm chặt cán dao quắm bén ngọt, có khi chống cây giáo nhọn hoắt bóng loáng. Ánh nhìn hình viên đạn xoáy tít dưới đôi chân mày rậm đen nhánh lúc nào cũng nhíu lại. Họ có biết loại lá cây mười lăm tia trên rừng không. Anh định hỏi nhưng lại thôi.

Có tiếng gõ ra hiệu ở phía trước, những người đi sau dừng lại. Không đứng trên trạm đếm người lại vào tận trong rừng? Mấy hôm nay chưa đóng “thuế” chắc họ kiểm tra để nhắc khéo. Sao đi mười một lại đóng có mười? Dạ, có thằng em hôm nay mới đi bữa đầu chưa kịp báo với mấy anh… Định qua mặt hả, liệu hồn!

Đoàn người lom khom men theo con suối, nước vàng khè. Cây lớn đầu nguồn bị đốn nhiều, suối lớn mới đầu mùa hè nước đã khô, đá lởm chởm. Có đoạn hai vách đá dựng đứng, không biết bao lần đoàn người bám dây rừng cheo leo vượt qua vượt lại con suối ngoằn ngoèo. Một thân cây to được chặt ngã vắt ngang làm cầu, anh chống tay bò không dám nhìn xuống dưới. Vực sâu thăm thẳm. Lưng buổi đường, phía trước đám người nhấp nhô, người chặt cây người đào người cầm vòi xịt, máy nghiền đá nổ đinh tai. Bên suối có lán căng tấm bạt xanh, có lán lợp bằng tranh kê ván làm sàn. Mấy chú gà giò, dạo luẩn quẩn quanh lán, không dám kiếm ăn xa. Trên đây cũng nuôi gà à? Gà con mới nở người ta cúng lán phóng sinh trên rừng. Chúng sợ chồn sợ rắn nên chạy đến tìm người.

Mới lên nửa con dốc, phát hiện phía trước có bóng người, chị Hạnh la lớn: Dân! Người trong đoàn cõng chuyến quay đầu chạy túa ra khắp ngả. Chạy nhiều ngả khó bị bắt. Gặp dân, tránh là tốt nhất. Hôm nay xui xẻo, toàn gặp những chuyện trời ơi. Hai người vạm vỡ ở trần đen bóng rượt theo. Anh rẽ ngang chui vào rừng lau lách núp, lá cứa vào da thịt tứa máu ngứa ngáy. Chị Hạnh đi trước tiên, khi quay lại thành ra chạy sau cùng, chậm chân bị bắt. Đòn gánh bị chặt làm đôi, chị nhào tới bê một đầu gánh chạy tiếp. Chạy sao kịp với người đi không. Tao cấm chúng mày lên núi của tao! Người dân tự cho mình quyền làm chủ núi rừng, núi rừng của họ. Bị tịch thu hàng, chị van xin vô ích. Chị khóc lóc cũng bằng thừa. Đóng tiền phạt! Người da đen nhẻm nói như cú mổ. Không đùa với dân được đâu. Năm ngoái họ chém bị thương bảy người trong đội làm đường do lội ngang rẫy của họ. Đằng nào cũng bị mất hàng. Ngứa gan, chị trợn mắt quát lại, tôi không có tiền.

Đột nhiên người đàn ông xoa hai bàn tay vào nhau, dịu giọng: Không có tiền thì phạt… cái thân. Anh ta xáp lại, thấy chị không nói gì bèn thò tay gỡ cúc áo ngực: Đứng yên, tao sẽ tha cho. Vừa nói vừa luồn tay vào ngực áo. Chị khóc thút thít. Đâm hà bá phá sơn lâm, đàn bà con gái lên rừng khổ vạn phần đàn ông. Nhìn đòn gánh bị chặt làm đôi, chị bặm môi tát một cái thật mạnh. Anh ta choáng váng nhìn chị, hai mắt đỏ long sòng sọc sấn tới tát lại hai cái cực mạnh, nắm vạt áo xé toạc, bộ ngực đồ sộ trắng nõn xổ tung, thỗn thện. Chị bị vật xuống, thân hình rắn chắc gỗ lim đè lên chị. Chống cự không nổi, chị kêu lên, bớ người ta cưỡng hiếp!

Những người cõng chuyến xông lại, số đông đã thắng thế. Hai người đen nhẻm chặt nát một đầu gánh của chị mới bỏ đi còn trợn mắt dứ dứ dao quắm bén ngọt. Tao về gọi thêm dân làng. Mấy người giúp chị xốc lại đầu gánh còn lại làm gùi. Mất hàng người đi chuyến chịu một nửa chủ hàng sẽ chịu một nửa. Đoàn người tiếp tục hành trình, lầm lũi bước. Nỗi sợ hãi ám ảnh, trước khi đi, cứ nghĩ bỏ sức sẽ kiếm được tiền nào ngờ chốn núi rừng kiếm đồng tiền không dễ. Đúng là ăn của rừng...

Tỉn nhỏ thó, chiếc gùi bè bè trên lung, cõng đến sáu chục kí bị tụt lại phía sau. Chờ lâu, đoàn người sốt ruột đi trước. Đi sau sẽ đến sau. Anh vượt qua bao lán trại. Thợ đào vàng sa khoáng dọc theo con suối, xúc đất đá đổ lên máng, trên máng gỗ đặt những thảm cỏ bằng nhựa, bắc nước suối chảy qua máng, đất đá trôi đi còn vàng giữ lại. Bãi vàng sa khoáng nối tiếp nhau, nước vàng như nghệ, bùn đất sét lắng ngập đầu gối. Dọc theo con suối, những vạt rừng bị đốn trụi, hai bên suối bị đào xới đất đá ngổn ngang, những cây to trốc gốc ngã chỏng chơ. Một tốp thợ dùng chiếc tời gỗ tự chế bằng thân cây đặt nằm ngang đóng những khúc cây nhỏ làm những cánh tay đòn hì hục kéo một hòn đá lớn lên khỏi hố. Vừa lên tới miệng hố, đứt cáp, tiếng thét thất thanh, tay thợ trẻ tránh không kịp bị hòn đá lăn xuống đè chết tươi.

Anh ngoảnh mặt không dám nhìn cảnh ấy, bước vội. Bạn bắt chuyện rù rì cho anh chóng quên cảnh tượng vừa rồi. Những người đào vàng sa khoáng chủ yếu từ Bắc vào, đa số tay nghề không cao, chỉ lấy công làm lời. Đào vàng vỉa mới là dân đãi vàng chính cống. Chừng mấy tiếng sau, nhánh suối nhỏ dần, nước quặng đen lóng lánh ánh kim. Bạn dặn tránh giẫm lên nước ấy có lẫn cianua cực độc. Đến dưới chân quả đồi lớn, từ dưới chân con dốc nhìn lên anh tròn mắt, giống như một thành phố ở lưng chừng núi. Lều bạt xanh đỏ tím vàng, lán trại dọc ngang tầng tầng lớp lớp. Tiếng gà gáy chim gù hòa quyện trong tiếng búa và máy xay đá rền vang. Bên trên là lán, bên dưới là hồ. Họ xây hồ chứa nước. Không như đãi vàng sa khoáng nước đục ngàu cả một con suối, vòi nước dùng xay đá vàng vỉa nhỏ hơn mút đũa con chảy ri rí. Nước chạy tuần hoàn lắng lại dưới hồ, bơm lên dùng trở lại. Anh ngạc nhiên, lều bạt sầm uất thế sao chẳng mấy bóng người. Bạn nói, người ta làm việc dưới lòng đất cả rồi, chỉ có chủ lán và phụ nữ bán hàng quán ngồi canh chừng. Hàng quán cũng chính của chủ lán.

Những hố tăm vàng sâu hoắm không có vàng, bỏ lại sâu như những hầm để bắt heo rừng. Anh đứng lại nhìn những cánh cửa khóa miệng hầm thông vào núi; bạn giục anh bước, không nên đứng một chỗ người ta nghi ngờ trộm cướp chạy ra chém chết tức khắc. Dân vượt ngục trốn trại lên sống trên này không thiếu. Những địa đạo thông vào lòng núi ăn theo vỉa vàng. Vàng vỉa thường trúng đậm hàng kí nhưng sụp hầm chết cũng nhiều. Nắng không sao, khi mùa mưa có khi cả một quả đồi đứt chân trôi tụt vùi mất tích vô số người.

Nắng gắt, nước mang theo đã hết. Bạn uống nhờ nồi nước của lán. Nước nguội ngắt, anh múc lên ngập ngừng, không biết nước nấu chín chưa. Lúc trước anh trai anh cũng đi đãi vàng sông Thanh, uống nước suối, muỗi chích bị sốt rét ác tính. Giữa trưa đứng bóng đắp hai ba tấm chăn không đủ ấm, mồ hôi đổ như tắm. Người bệnh sinh khó tính hay thèm thứ này thứ nọ, khi thì cây kẹo khi lóng mía tím. Uống mãi thuốc cũng không hết, da bọc xương xanh như tàu lá chuối. Người bạn cùng xóm đãi chung bãi vàng sốt rét chết, đám tang thật thảm. Lúc có vàng có tiền, bạn bè đến nhậu nhẹt tung hê, lúc chết chẳng có ai đến khiêng. Rước thầy châm cứu, anh trai nằm sấp, trói chặt tay chân vào giường. Thầy đốt xạ hương lên xương sống, thịt cháy xèo xèo. Anh chạy xuống nhà dưới lấy đũa bếp đút vào miệng anh trai tránh cắn phải lưỡi.

Chuyến sau mang cho ít ống tiêm. Hết ống tiêm rồi. Anh giật mình khi nghe giọng ồm ồm từ người to cao mặt mày đầy lông lá. Bạn gật đầu, chuyến tới sẽ mang, năm chục hay một trăm ống cũng được. Đi một đoạn anh mới dám hỏi bạn, tiêm thuốc à? Cả thuốc, cả ma túy. Anh ta bị nghiện à? Thằng chủ bãi khôn lắm, không bao giờ nghiện đâu. Chủ bãi trói phu vàng bằng ma túy. Trói bằng khói chặt hơn dây thừng. Chẳng buôn bán, cho hút đổi công. Buôn ma túy ở tù mọt gông, có thể bị tử hình, chủ bãi dại gì buôn ma túy. Ma túy đổi vàng, một vốn bốn chục lời. Cũng có phu vàng bỏ trốn nhưng vài ngày đói thuốc đành quay trở lại. Thứ thuốc có ma lực, đã lậm vào người không dễ bỏ ngày một ngày hai. Chủ bãi nhận lại như một tân binh. Lính mới lương thấp tè.

Chưa đến chỗ giao hàng, anh đang ở giữa bãi vàng. Thình lình có tiếng súng chỉ thiên. Đội truy quét với súng ống chó nghiệp vụ xông đến từ ba phía như đã phục sẵn từ trước. Dân làm vàng vứt cuốc xẻng cắm cổ chạy lên rừng già trốn. Đội truy quét đập phá máy móc, trói người đánh đập. Một vài hầm bị lấp thí điểm, không biết có thợ vàng nào sợ quá nấp luôn dưới ấy không.

Anh cõng gùi chạy theo sau. Dân đào vàng không cho anh chạy theo. Chính những người trong đoàn cõng chuyến cũng nghi ngờ anh là kẻ chỉ điểm cho đội truy quét. Họ phun nước bọt vào mặt anh, cũng may anh né kịp rẽ sang đường khác. Phía sau một chú chó nghiệp vụ đuổi theo đến đít. Cõng nặng sao chạy lại với chó bốn chân. Đuối sức, anh chui vào lùm mây nước um tùm ngồi thu lu, hai tay che mặt. Núp, che mặt sao được với chó mắt sáng mũi thính. Chú chó chạy đến gần sủa vang, giọng sủa dồn của kẻ đã phát hiện con mồi. Cứ thế này chút nữa đội truy quét sẽ đến tóm gọn. Nếu nó hăng máu nhào lại cắn một phát thì nguy, chó này có nhiễm bệnh dại hay không? Hay là... Anh bỏ gùi sang một bên ngồi dậy tụt quần, nhổm đít. Thông thường chó thấy người ngồi nhổm đít sẽ mừng. Chú chó này hung dữ chắc do bị đói. Nhưng không, nó lao đến nhe hàm răng nhọn hoắt gầm gừ. Đừng tưởng bở, đây là chó nghiệp vụ chứ không phải chó thường, không thể dụ được nó. Anh gắng hết sức bình sinh phang mạnh chiếc rựa vào mõm nó áng chừng giập bã mía. Nó ẳng một tiếng giãy đạch lăn quay ra đất. Bầy chó khác xông lên, anh chạy vào rừng sâu.

Minh họa: Vũ Đình Tuấn

Anh vẫn cõng gùi hàng, bỏ cho nhẹ lấy gì đền người ta. Truy quét, lán trại tan tác giao hàng cho ai. Bạn anh đã lạc không tìm được, anh mò mẫm theo con suối tìm đường về. Bóng tối dần ập xuống, không tìm thấy một lán trại nào, lại bị lạc sâu trong rừng. Cũng may, dưới ánh trăng nhờ nhờ anh tìm được một chạc cây trèo lên nghỉ qua đêm. Đêm, những đốm sáng xanh lè của thú hoang như những viên ngọc. Rắn bò ngang qua người lạnh cả xương sống. Anh co người ngồi yên tự nhủ, mình không làm gì chúng chúng cũng sẽ không làm gì mình.

Ngày đi đêm nghỉ, men theo con suối anh không biết đã bị sai hướng. Vùng này suối không chảy về hướng đông như bao con suối thông thường khác. Càng đi anh càng xa với đích. Trèo cây tìm hướng mặt trời lặn mọc mới biết mình lạc, anh cố giữ bình tĩnh. Người lạc rừng thường chết không phải vì đói mà do tâm lí hoảng loạn. Anh ăn gạo sống trong gùi cõng sau lưng, không uống nước suối, anh chặt cây chuối rừng lấy nước. Trên đường gặp bụi cây đùng đình, anh cắt bùi nhùi đập đá lấy lửa. Anh còn lấy một ít bùi nhùi mang theo dự trữ, bắt cua ốc dưới suối đốt lửa nướng cải thiện bữa ăn bổ sung chất đạm. Vừa đi vừa tìm thứ lá mười lăm tia nửa xanh nửa đỏ, tình cờ phát hiện con ong rồi cả ngày kiên nhẫn dò theo hướng bay của những chú ong, anh tìm thấy một tổ ong mật đủ lớn giúp anh lấy sức tiếp tục hành trình trên con đường thẳm.

Một buổi sáng gặp lán đào vàng lạ hoắc, anh nấp bên ngoài chờ hồi lâu xem chừng. Giữa rừng biên giới biết nhóm đào vàng người nước nào. Một bộ lạc cũng không chừng, không khéo bị chặt đầu oan. Nhóm người hay bộ lạc này có ăn thịt người không? Họ lầm lũi làm việc, chẳng nghe nói gì với nhau, trang phục họ rất lạ chẳng phân biệt được. Anh liều mạng tiến vào xin cơm nước, cho dù là người thế nào cũng sẽ giúp kẻ lạc đường đói khát. May họ là người Việt, anh xin đổi số hàng và gạo còn lại của mình lấy một bữa cơm canh nóng. Chủ lán cười xòa, đổi chác gì, cơm nước miễn phí cứ ở lại ăn uống nghỉ ngơi cho lại sức. Ông ta đang cần người ngỏ ý anh có muốn ở lại làm sẽ trả lương hậu, làm đến khi nào không thích nữa thì nghỉ. Chẳng lẽ về không tiền đâu thuốc thang cho cha, ở lại anh sẽ có thời gian tìm loại lá mười lăm tia nửa xanh nửa đỏ. Trông ông chủ cũng thoáng anh gật đầu đồng ý.

Ba ngày đầu anh đứng quay tời kéo đá từ dưới hầm lên. Công việc cơ bắp thuần túy, tiền công thấp nhất trong đám phu vàng. Anh xin xuống hầm, chủ lán nhìn anh từ đầu đến chân nháy mắt, vội gì quay tời một thời gian lấy sức bền sau đó sẽ được xuống hầm lương cao gấp bội. Ông già ở nhà bệnh, cực mấy anh cũng chịu được, năn nỉ nhưng chủ hầm trề môi lắc đầu. Chú mày cần tiền thì anh cho ứng, chốn rừng thiêng nước độc không vội được đâu. Anh kiên nhẫn, chờ từng ngày. Vài hôm sau có một thợ dưới hầm bị sốt, anh được thế chỗ anh ta. Mang chiếc đèn pin lên trán, anh dò bước xuống mấy chục mét đứng, rẽ ngang đi vào cuối hầm đào đá. Hầm nhiều ngóc ngách tối hơn hang dế, hít thở cũng nhín chừng sợ thiếu ô xi; không được nói to, tiếng dội vào hầm gây nhiễu loạn. Phu vàng như con ong cái kiến cần mẫn. Có đến mấy tốp theo phân công, người đào đất đá, người đẩy xe rùa mang đất ra cửa hầm, người chèn chống gỗ tránh sập hầm. Đôi khi anh áp tai vào thành hầm, tiếng cuốc xẻng, tiếng người văng vẳng. Thợ đào vàng trong lòng đất giống như những chú mối, quả núi như một tổ mối khổng lồ.

Một bữa, nghe phu vàng dưới hầm thì thầm, đang trúng mạch vàng. Tối đến chợt có người đau bụng. Đang bữa ăn, chủ liếc mắt nghi ngờ thợ nuốt vàng bèn vào trong một lát quay ra. Đau bụng, bệnh lặt vặt do vệ sinh không tốt ấy mà, uống thuốc này sẽ khỏi ngay. Thợ vàng trẻ cảm ơn ông chủ bưng lấy chén uống liền một hơi, không khỏi ngày sau sẽ xin nghỉ ngơi một bữa lấy sức. Vừa uống xong tay thợ ói lộn nhào ra đất lòi mật xanh mật vàng. Thì ra ông chủ cạo màng màng thớt khuấy vào nước ấm chứ thuốc thang gì. Tay chủ sai người hốt sạch bã mang ra suối đãi có vàng bị ói ra không. Nhưng không. Tay chủ liếc qua nhìn xoáy vào anh. Ngày mai có đến lượt anh? Ngoài màng màng thớt tay chủ có cho uống thuốc xổ? Nửa đêm anh lén bỏ trốn, chỉ kịp mang theo cây rựa.

Anh lần theo con suối. Bây giờ theo suối sẽ về đến xuôi. Đã có kinh nghiệm đi rừng trong mấy ngày bị lạc, bây giờ anh đi không sẽ ra khỏi rừng nhanh thôi. Chợt có mùi thôi thối, anh dạo đánh hơi như một chú chó. Anh thét lên khi thấy xác người nằm úp mặt. Vụt chạy một đoạn, chiếc áo vải dày đã bạc phếch này anh thấy đâu đó một lần rồi. Anh nắm chặt cán rựa quay lại, người chết có làm gì đâu mà sợ. Tim vẫn đập dồn, anh rón rén bước lại. Thằng Tỉn. Đúng rồi, lúc trước nó cõng nặng theo không kịp đoàn. Sao mày nằm đây? Anh lật ngửa nó lên, cái bụng trương phềnh, giòi đổ ra bò lổm nhổm, mặt mày nó trầy xước vết máu đã khô. Hai hốc mắt sâu hoắm, chắc gấu ngựa đã móc mắt nó. Nó không kịp nằm úp trước khi gấu ngựa tấn công. Cái xác đã bắt đầu thối rữa. Anh nhặt hai viên sỏi đặt vào hốc mắt trũng, vuốt mặt theo lệ, chết lâu rồi hay mắt giả mà nó không chịu nhắm mắt? Anh dùng rựa đào hố bên gốc cây to chôn tạm, khắc vào thân cây làm dấu, về xuôi tao sẽ quay lại tìm mày.

Trời sắp tối, anh cố chạy, gặp một lối mòn nhỏ. Theo lối mòn nhỏ sẽ ra được đường mòn. Có đường, sự trở về không có gì khó. Mới vài chục bước, một tiếng sắt thép phập khô khốc, anh á lên một tiếng cùng tiếng chửi thề vô thức. Chiếc kẹp thú hai ngàm răng nhọn hoắt nghiến lấy cổ chân, anh kịp chêm cán rựa vào khóe kẹp. Kẹp nặng hàng chục kí có dây xích buộc vào gốc cây, loay hoay mãi anh cũng không tài nào tháo được. Động đậy, răng kẹp nhọn cứ cắm sâu vào chân, có khi nát xương ống chân cũng không chừng. Anh chỉ có mỗi lựa chọn: ngồi im giữ sức chờ người đặt bẫy mang kít chuyên dụng đến tháo. Biết khi nào người bẫy thú mới đi thăm bẫy? Đêm, sương xuống lạnh ngắt. Anh cắn răng chịu đựng, động đậy rắn rít thú rừng sẽ đến ăn thịt. Gấu, chó sói, hổ, beo vẫn sột soạt quanh đó. Chân anh sưng tấy, máu rỉ theo vết răng kẹp tím bầm, khô lại. Nỗi sợ hãi giày vò, đau đớn, anh bất tỉnh.

Mặt trời lên, anh đang nằm mê man chợt có bàn tay lay dậy. Anh dụi mắt, có lẽ chỉ là cơn mơ. Giữa rừng sáng sớm làm gì có người. Anh mở mắt, lờ mờ bóng người thăm kẹp. Mày đã hại tao? Anh kịp lấy tay che miệng. Người kia trong bộ đồ thổ cẩm. Dân! Dân bẫy thú hay bẫy người xâm phạm núi rừng của họ. Giữa rừng, chân lại đang mắc kẹp nếu làm người ta tức giận không biết điều gì xảy ra. Đặt bẫy sao không làm khem cho người ta biết để tránh.

Không, mình chỉ đi hái thuốc tình cờ gặp thôi mà. Ngồi yên đó mình tìm cách tháo bẫy cho. Cô gái không thể là kẻ bẫy thú, gùi mây trên lưng chắc cô đi hái thuốc thật. Chiếc xà rông nhiều màu sắc, bắp chân tròn lẳn, cánh tay cũng tròn lẳn… Anh thở dài, cô gái đi hái thuốc chân yếu tay mềm sao phá được chiếc kẹp sắt rắn chắc này. Nhưng dù sao, có người bên cạnh anh vững tâm, cơ hội sống nhiều hơn.

Cô gái chặt mấy đoạn cây rắn chắc vót mác đầu, hai tay bê hòn đá đóng những khúc cây vào khe chiếc bẫy. Anh nghiến răng chịu đau phụ cô giữ và chêm thêm các thanh gỗ lớn dần cho đến lúc rút chân ra được. Anh nằm vật ra đất, chân tê cứng, lúc này máu mới chảy đầm đìa. Cô nặn máu ứ chảy hết mới hái lá rừng nhai phun vào vết răng kẹp, gỡ chiếc khăn trên đầu mình làm vải băng bó, xốc nách anh dìu về nhà. Căn nhà sàn ngoài bìa rừng cạnh con suối hoang vu, nước suối trong vắt trong veo. Khoảnh sân nhỏ cỏ mọc đầy, có vẻ như là nhà ít người. Anh nhìn quanh, đôi mắt mở to dò hỏi, một mình cô sống ở đây thôi sao. Cô cười, nhà chỉ có hai mẹ con, mẹ cô thường đi vắng nhiều ngày. Nhiều ngày chợ phiên về bà chẳng bán được thuốc. Đi chợ bán thuốc chỉ là cái cớ, bà đi tìm người xưa. Trí nhớ của bà không còn tốt nữa nên thường bị lạc ở các nóc khác. Xa xa, vài ba nóc vắt vẻo lưng chừng núi, cột khói chiều bay cao đụng đến tận mây trời.

Cô gái đắp thuốc chỗ vết thương cho anh, giã thêm lá cho anh uống để tan máu ứ tím bầm quanh vết thương. Mấy ngày qua thiếu ngủ, anh nằm trên vạt tre lồ ô giập trên sàn dịu mát ngủ một giấc say. Về khuya hơi lạnh từ núi rừng tràn xuống, cô dậy nhóm bếp lửa giữa sàn, khói hun lấy những chùm bắp nếp giống treo chúc ngược lủng lẳng. Tiếng chim rừng hót báo sang canh, cu gáy lạc bạn gù tha thiết. Anh ngủ đến khi ánh mặt trời chiếu thẳng vào mặt mới thức giấc. Ngồi dậy nhìn quanh chẳng thấy cô gái đâu. Không gian im ắng, ánh nắng ngập tràn núi rừng. Anh vịn tay bước xuống cầu thang, chân đã đỡ đau rất nhiều, miệng vết thương ngứa, chắc đang lành. Không biết cô gái đã bó thứ lá thuốc gì hay đến thế. Đi hái thuốc nam cô có biết giống lá cây rừng có mười lăm tia lá nửa xanh nửa đỏ hay không. Anh dạo quanh chiếc sân nhỏ một vòng cũng chẳng thấy cô đâu, hay cô lại lên rừng hái thuốc. Anh bước ra bờ suối, phía trước có thác nước nho nhỏ, nước suối chảy sóng sánh. Anh chợt mỉm cười khi thấy cô gái đang giặt áo quần, có cả chiếc áo lấm đầy bùn đất của anh. Anh dừng lại, mê mẩn nhìn. Cảnh đẹp, người đẹp và tốt bụng.

Giặt xong đống quần áo trời đã gần trưa nhưng chưa phơi vội, cô trút bỏ xà rông lội xuống suối mát tắm. Cô có biết anh đứng phía sau cách cô một đoạn hay không. Anh đứng im sẽ là kẻ nhìn trộm, anh bối rối đằng hắng mấy cái. Chắc do tiếng suối chảy cô không nghe thấy hoặc cố tình không nghe thấy. Cô bước chầm chậm, thân thể chắc mẩy chìm từ từ trong nước. Anh tròn xoe mắt, há hốc miệng kinh ngạc. Cô gái đẹp quá! Thân thể như chú cá trắm tròn lẳn khỏe khoắn. Nước suối trong đến là trong, nhìn thấu cả đôi bàn chân trắng hồng, những hòn sỏi dưới chân cô gái cũng trắng tinh. Anh kịp che tay lên miệng để khỏi bật thành tiếng. Nước chỉ sâu ngang ngực, suối tóc xõa bờ vai trần, cô như tiên nữ giáng trần tắm suối. Bầy chim lia trên rừng hót véo von, cô gái cũng khe khẽ hát, điệu hát du dương quyện cùng tiếng chim và tiếng suối:

Bạn chào ta có ân có ái

Ta chào lại bạn có ngãi có nhân

Hôm nay Tấn lại gặp Tờn

Kiểng kêu thanh thé giọng đờn ngân nga

Ngộ tình cờ bạn mới gặp ta

Như cá gặp nước như ba gặp nhành…

Anh mơ màng nửa tỉnh nửa mê. Lời cha thường hát văng vẳng đâu đây trong tiếng gió tiếng suối. Năm xưa cha anh đi kháng chiến trên rừng, mấy chục năm quay về làng bỗng như người mất hồn. Có người nói ông hoạt động cách mạng, trong nhà lao bị giặc đánh đến mất cả trí nhớ vì không khai thác được gì; người lại nói ông bị gái dân tộc thư ngãi gì đó, phải có thứ lá mỗi chiếc có mười lăm tia lá nửa xanh nửa đỏ trên rừng mới giải được bùa ngãi. Gia đình cưới vợ cho ông; chẳng những không khuây khỏa, bệnh ông càng nặng hơn. Hàng xóm phàn nàn rằng ông lập dị, chẳng trò chuyện với ai. Khi bóng chiều tà ông thường nhìn về hướng mặt trời lặn, cất lên những lời hoài cổ nỉ non, ai nghe cũng chẳng hiểu. Có người nói ông nhìn mặt trời lặn cầu kinh, bài kinh của Hồi giáo, người lại nói ông đang đọc thần chú... Lời như vọng về từ gió từ rừng núi đại ngàn. Anh tiếp lời cô gái:

Tôi đây vốn thiệt mã châu

Đi vô mua kén gặp chầu họa may

Người đời đến số ở đây

Gặp cô khách lạ rao rày bán tơ...

Cô gái khỏa nước bơi về phía trước, xa dần xa dần. Không còn chất giọng trẻ trung trong veo, cô như đang nhập vào vai một người khác. Lúc này tiếng hát như của đôi trai gái bị cách trở sao dời, da diết nhớ thương:

Ôm lòng rày tưởng mai trông

Chiều chiều dời gót ra sân ngó chừng

Chừng mô nước mắt rưng rưng

Ai đi xấp xới đề chừng bạn ta

Ngó hoài không thấy vô ra

Ruột tằm đày đoạn tơ đòi vày tơ…

Cô gái sao lại thuộc những lời của cha anh thường hát? Phải có mối liên hệ gì hay chỉ tình cờ? Mấy năm hoạt động trong rừng ông có để lại giọt máu nào không? Không thể nào. Anh tự lắc đầu, đầu anh váng vất. Đừng bao giờ có điều đó xảy ra, cô và anh không có liên hệ huyết thống, nhất định sẽ như vậy. Cô còn nhỏ hơn tuổi của anh kia mà. Số năm cha anh không rời làng gần gấp rưỡi tuổi anh. Nhất định phải có uẩn khúc... Chưa kịp suy nghĩ thêm, như bị thôi miên anh đáp lại cho liền mạch, vẫn lời bài của cha anh thường ngâm:

Thương làm chi thương khăn nhớ khói

Nhớ làm chi thương mỏi nhớ mê

Nước bưng quên uống cơm kề quên ăn…

Anh đọc say sưa. Cô gái lên bờ đi đường vòng trở lại mặc xà rông, vén tóc đứng bên lúc nào anh chẳng hay. Hàng tóc mai rậm, đôi chân mày cũng rậm và đen nhánh, đôi mắt to tròn thêm sắc sảo. Má bồ quân ửng hồng, bờ môi đỏ thắm. Nét đẹp tinh khôi thuần khiết pha sự hoang dã mạnh mẽ rất phụ nữ. Mái tóc thơm hương hoa nhài; hương dủ dẻ quyến rũ. Không kìm được con tim đập dồn dập, anh bước lại gần, quên cả chân đang còn đau.

Mẹ cô gái vẫn chưa về. Bà thường hay đi lạc, tìm bà về bà lại đi. Lúc trước bà làm dân công thì gặp ông, hát đối đáp qua lại rồi mến thương nhau. Lạc mất nhau khi ông bị bắt, bà trở về hoạt động ở làng. Ân tình xa cách có duyên không nợ với người thương, bà lại bị lừa. Chửa hoang, làng phạt đuổi ra khỏi nóc. Sau khi đóng phạt một con heo hết lớn bà phải dời nhà ra ngoài con suối bên đường sinh nở, phải sinh sống ngoài đó, không được bén mảng về làng nữa. Cô con gái lớn lên giữa núi rừng như con chim hoang dã được bà dạy hát từng ngày. Cô con gái hái thuốc nam về cho mẹ đi bán. Dạo này sức khỏe yếu nhưng bà lại siêng xuống chợ lắm. Cũng lạ, người già rồi vẫn cứ mãi tìm lại người tình xưa.

Anh hỏi cô gái về loài cây mỗi chiếc lá có mười lăm tia lá trên rừng. Cô cười, làm gì có loài cây lá ấy. Hôm sau anh vội về xuôi. Cô gái dúi vào túi anh một ít tiền làm lộ phí. Anh một mực không nhận, lạc trong rừng bao lâu anh vẫn sống được, bây giờ đã có đường về. Cô khuyên anh nhận đi, nhận để sau này mới có dịp trở lên trở lại. Không kiếm được tiền chẳng tìm được lá mười lăm tia, anh tình cờ tìm được câu hát năm xưa cùng tin tức về người con gái suốt ngày ông trông ngóng. Chỉ là tâm bệnh, cha nhất định sẽ khỏi.

Anh về đến nhà cha anh đã yếu hẳn. Ông thở từng hơi nặng nhọc, lồng ngực trơ xương nhấp nhô theo nhịp thở, đôi mắt nhìn mơ hồ xa xăm. Có lẽ ông chỉ còn sống nuối thở nuối. Trời trở gió Tây, thứ gió từ đại ngàn định kì vào mỗi mùa hè mang theo hơi nóng. Anh đến bên chiếc phản cầm mo nang quạt nhè nhẹ, cầm tay cha ngân nga. Mạch cổ tay ông chỉ còn đập từng nhịp yếu ớt.

Chẳng qua căn số tự trời

Chàng về sửa chốn kiếm nơi Tấn Tờn

May chi đặng chữ keo sơn

Nơi bằng cũng tốt, hơn ta cũng mừng

Hai ta thương nhớ giữa chừng

Khổ ta chịu khuyên bạn đừng cười ta…

Cha anh mở to đôi mắt nhìn con rồi nhìn lên hướng đại ngàn. Đại ngàn luôn có nhiều điều huyền bí. Ông mỉm cười mãn nguyện, thanh thản ra đi, nét mặt tươi roi rói. Mặt trời núp dần xuống dãy núi cao trước mặt. Anh ngoảnh về phía trời lặn, luồng gió nóng đang thổi về

T.A.Q

Tác giả bài viết: T.A.Q



 
Tổng số điểm của bài viết là: 25 trong 7 đánh giá
Xếp hạng: 3.6 - 7 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo