Lần đầu tiên trên Văn nghệ Quân đội…(Khuất Quang Thụy)

Thứ ba - 29/10/2013 15:05

KHUẤT QUANG THỤY

Thực ra, sáng tác đầu tiên của tôi được in trên tạp chí Văn nghệ Quân đội là thơ - một bài thơ viết về các cô pháo binh đường 9 đi qua cầu treo. Qua cầu chẳng sợ gió bay – Chỉ sợ cầu treo tròng trành em ngã… không có ấn tượng gì nhiều. Có lẽ lúc đó các anh biên tập thơ ở Văn nghệ Quân đội trân trọng một cây bút chiến sĩ đang chiến đấu ở chiến trường mà vẫn làm được thơ gửi về nên đã cho đăng. Bài thơ đầu tiên được in trên Văn nghệ Quân đội ấy không cũng cố thêm quyết tâm cho tôi nhiều lắm để đi mãi với thi ca. Nhưng khi Văn nghệ Quân đội cho in bài ký sự dài Lửa và thép của tôi trong số báo ra tháng 11-1971 thì hình như tôi thật sự nhận ra mình, tôi sẽ là một người viết văn xuôi, chứ sẽ không trở thành một nhà thơ, mặc dù lúc đó thơ tôi cũng đã được in nhiều trên các báo, kể cả trên những tờ báo sáng tác quan trọng như báo Văn nghệVăn nghệ Quân đội. Vào cái thời ấy, có thơ in, thơ ngâm trên đài là rất sang, có cảm giác như thời đó dân ta, bộ đội ra yêu thơ hơn, thích thơ hơn là văn xuôi. Tại sao, lần đầu được in văn xuôi, mà lại chỉ là một bài ký sự trên Văn nghệ Quân đội mà tôi đã có đủ dũng cảm để bẻ ghi xu hướng sáng tác của mình từ thơ sang văn xuôi? Tôi cũng đã đôi lần tự hỏi mình như vậy nhưng chưa bao giờ có câu trả lời thật thấu đáo. Chỉ có điều, cho đến ngày hôm nay, tôi có thể tin chắc rằng mình đã quyết định đúng, đã nhận ra sở trường của mình để không nhọc nhằn chạy theo sở đoản.

Vì vậy, tôi muốn kể lại đôi chút về sáng tác văn xuôi lần đầu được in trên Văn nghệ Quân đội của mình, để có lẽ, nếu một bạn viết trẻ nào đó có lúc cũng ở trong tình trạng bâng khuâng đứng giữa hai dòng… văn xuôi và thơ, đọc bài viết này, có thể bạn sẽ nhanh chóng quyết định xem mình là nhà gì trong tương lai!

Hồi đó, tôi còn là một anh lính chiến ở trung đoàn 64, sư đoàn 320 đang chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị. Bởi yêu văn thơ từ khi còn đi học nên mặc dù cuộc sống chiến đấu ở chiến trường rất gian khổ, ác liệt nhưng trong ba lô của tôi luôn có những cuốn sổ nhỏ, mỏng, bằng giấy pơ-luya để ghi chép. Tôi ghi chép tất cả những gì đọng lại trong tôi mỗi ngày, mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch. Chen giữa những trang ghi chép ấy là những câu thơ, những ý thơ chợt gặp. Những dòng ghi chép kia thì lạnh lùng, chân thực nhưng lúc ấy, vì đang ở trong cuộc, tôi không cho là có gì hay ho. Tôi cứ ghi để đấy, chưa quyết định sẽ làm gì. Chỉ có những câu thơ, những ý thơ là một lúc nào đó sẽ thành những bài thơ. Tôi đọc những bài thơ ấy cho đồng đội nghe và được họ khen ngợi. Thế là hễ có dịp, tôi lại gửi ra Bắc cho các báo. Một thời gian sau, qua thư bạn bè hay qua Đài tiếng nói Việt Nam, tôi biết những bài thơ đó đã được in. Tôi rất vui. Và thế là tôi tiếp tục lôi những câu thơ, ý thơ chép trong sổ tay ra bồi đắp, hoàn thiện. Còn những dòng ghi chép vẫn cứ nằm trơ ra không được tôi chú ý đến. Nhưng tôi không bỏ thói quen ghi chép. Dường như đó cũng là một duyên may của tôi đối với văn chương.

Đầu năm 1971, sau chiến dịch đường 9 – Nam Lào đại thắnglợi, sư đoàn chúng tôi được rút ra Hà Tĩnh để nghỉ ngơi, củng cố. Là một trong những đơn vị lập được công lớn trong chiến dịch này nên đơn vị chúng tôi được các cơ quan cấp trên đặc biệt chú ý. Các nhà văn, nhà báo cũng nườm nượp kéo vào để khai thác tài liệu để viết về chiến dịch này. Những trang ghi chép của tôi hóa ra có ích. Rất nhiều lần tôi được thủ trưởng đơn vị gọi lên để cung cấp tư liệu cho các nhà báo, nhà văn trung ương. Có một nhà báo (tôi xin miễn được nhắc tên) đưa cho tôi đọc bài anh ấy viết trong hai đêm từ những câu chuyện mà tôi kể. Đọc xong, tôi rất buồn. Tại sao những trận đánh quyết liệt đến như thế, những gương hy sinh của đồng đội tôi cao cả, lẫm liệt đến vậy mà khi viết ra lại nhạt nhẽo, tầm thường đến thế? Tôi hiểu rằng, không phải chỉ có những sự kiện làm nên tác phẩm văn học. Dù những sự kiện có lớn đến mấy, vĩ đại đến mấy mà người viết không thổi vào đó sự rung động từ trái tim mình thì những gì anh ta viết ra cũng chỉ là những con chữ khô cứng mà thôi. Cũng với ý nghĩ ấy, tôi tự nhủ: “Tại sao mình lại không tự viết lấy nhỉ?” Thế là tôi viết… Tôi viết khá nhiều và khá là nhanh. Nhưng viết xong, tôi cứ để vậy, chưa đưa cho ai đọc.

Thế rồi, một dịp may đã đến. Nhân có một nhóm nhà văn của Tổng cục Chính trị vào công tác, Bộ tư lệnh sư đoàn quyết định nhờ các anh ấy mở một trại viết nhỏ để giúp các cây bút của sư đoàn hoàn thành một tập sách kể chuyện chiến đấu. Mục đích chỉ khiêm tốn vậy thôi. Ba nhà văn tới với chúng tôi lúc ấy là các anh Hồ Khải Đại, Cao Tiến Lê và Sơn Nam (trước đó các anh Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu có ghé qua sư đoàn nhưng rất tiếc chúng tôi không được các anh hướng dẫn. Chỉ duy nhất có một lần, tôi được gặp anh Nguyễn Minh Châu khi anh tới sư đoàn lấy tài liệu. Nhưng, lúc đó tôi chưa đủ can đảm để đưa cái mớ ghi chép hẩu lốn của mình nhờ anh Châu đọc giùm). Chừng hơn chục anh em chúng tôi đươc tập hợp lại, các anh ấy chỉ nói chuyện văn học một buổi rồi bảo: “Các câu cứ viết những gì mà các cậu thích nhất. Viết xong, đưa chúng mình đọc”. Tôi thận trọng nên trước tiên chỉ đưa thơ cho anh Hồ Khải Đại đọc. Anh đọc xong tập thơ của tôi rất nhanh và có những nhận xét rất tốt. Trong khi đó tôi lặng lẽ viết vài ký sự về chiến dịch Nam Lào. Thực ra, đó là một phần trong cái mớ lộn xộn tôi viết bấy lâu nay về những người bạn chiến đấu của mình. Tất cả những nhân vật trong bài bút ký đó đều rất thân thuộc, gần gũi với tôi. Đàm Vũ Hiệp, đại đội trưởng là bạn cùng học một trường, cùng đi bộ đội một ngày cùng vào một tiểu đoàn chiến đấu với tôi. Các nhân vật khác cũng vậy. Hầu như tôi chẳng gặp khó khăn gì khi viết về họ, nhất là khi viết về họ khi họ chiến đấu trên chiến trường.

Viết xong tôi đưa cho anh Cao Tiến Lê đọc. Tôi còn nhớ tôi đưa bản thảo cho anh Lê cuối buổi sáng thì ba giờ chiều anh ấy đã đến chỗ tôi. Anh bắt tay tôi và nói khẽ: “Cậu viết khá lắm! Bài ký sự của cậu hầu như hoàn chỉnh. Chỉ phải sửa lại một ít câu chữ thôi. Đọc xong, tớ mới chợt nhớ rằng hình như cậu đã viết một vài bài ký in ở đâu đó. Và cả thơ nữa phải không?” Tôi trả lời anh rằng tôi mới chỉ được in vài bài văn xuôi dưới dạng ghi chép, báo chí nhì nhằng thôi, chủ yếu là làm thơ. Anh Lê vỗ vai tôi: “Cậu viết thế này mà chỉ làm thơ thì phí quá! Viết văn xuôi đi, cậu sẽ thành công đấy!” Sau này các anh Sơn Nam, Hồ Khải Đại đọc cũng rất mừng. Có lẽ các anh không nghĩ rằng trong một cái trại nhỏ như vậy mà lại có được những sáng tác tốt như của tôi, của Chu Quốc Ân, Trần Quang Khải, Huy Khôi… Nhưng điều quan trọng nhất tôi thu hoạch được trong vài tuần ở trại viết là tôi đã biết tôi có khả năng thành công trong văn xuôi.

Tháng 11-1971 ký sự Lửa và thép được in trên Văn nghệ Quân đội. Nhưng phải tới năm 1975 miền Nam giải phóng tôi mới được nhìn thấy cuốn tạp chí đó. Cuối năm 1971, khi đang trên đường hành quân vào Tây Nguyên, tôi được nghe Đài tiếng nói Việt Nam đọc lại bài ký này trong chương trình “Đọc chuyện đêm khuya”. Lúc đó, tôi ao ước có được trong tay một cuốn Văn nghệ Quân đội. Ai ngờ ước mơ đó phải tới bốn năm sau mới đạt được. Khi lật qua tờ Văn nghệ Quân đội số 11-1971 tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy ở cuối cuốn tạp chí, phần bình luận văn nghệ có hẳn một bài viết của nhà văn Mai Ngữ, bài Bắt đầu từ chiến hào, chỉ dành để viết về hai sáng tác của chúng tôi. Anh Mai Ngữ đã bình rất kỹ về ký sự Lửa và thép của tôi và Chốt 351 sớm nay của Trần Quang Khải. Đọc bài viết này tôi vô cùng cảm động bởi không ngờ các nhà văn công tác ở một tờ báo lớn như Văn nghệ Quân đội lại quan tâm đến những sáng tác nhỏ đầu tay của chúng tôi đến vậy.

Nhưng, vẫn còn một chuyện rất cảm động xung quanh tác phẩm nhỏ đó của tôi mà khi viết bài báo này tôi không thể không nhắc tới. Năm 1975, sau khi miền Nam giải phóng, tôi được về phép về thăm nhà và mẹ tôi đã kể lại rằng: “Cuối năm 1972, vào những ngày máy bay Mỹ đang ném bom Hà Nội bỗng một hôm có mấy ông cán bộ to của Trung ương quân đội tìm đến nhà ta. Các ông ấy đưa cho mẹ một ít tiền và nói rằng đó là tiền bút gì đó của con. Thế là cả nhà òa lên khóc! Mẹ nghĩ, có lẽ con chết rồi nên các ông ấy mang tiền tuất về cho mẹ”. Mãi sau này tôi mới biết đó là anh Đỗ Gia Hựu và các anh ở Nhà xuất bản Quân đội sau khi in ký sự Lửa và thép trong cuốn Cửa khẩu vì biết tôi đang chiến đấu ở Tây Nguyên nên các anh đã lặn lội lên tận Sơn Tây để mang tiền nhuận bút tới cho gia đình.

Từ đó đến nay tôi đã viết nhiều, đã trở thành nhà văn. Rồi vào một ngày đẹp trời, tôi được trở về công tác tại Nhà số 4, cái đích mà khi bắt đầu viết những dòng chữ đầu tiên tôi chưa bao giờ dám mơ ước. Nhưng, dù có trở thành cái gì đi chăng nữa, tôi cũng không bao giờ quên được tấm lòng của những người đi trước.

K.Q.T



 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

 
Nhân vật Anna Karenina và sự soi chiếu từ nguyên mẫu đời thực

Nhân vật Anna Karenina và sự soi...

Lev Tolstoy - “con sư tử” của văn học Nga thế kỉ XIX - đã tạo ra những tác phẩm vĩ đại từ chất liệu tươi ròng của đời sống. Mỗi nhân vật được ông khắc họa luôn trở thành những điển hình nghệ thuật bất diệt, có tác động sâu đậm đến mọi tầng lớp xã hội. (NGUYỄN THỊ HỒNG​ HOA)

Quảng cáo