Bạn bè một thuở

Thứ năm - 17/05/2018 13:21
Bút kí. ĐỖ VĂN NHÂM
 
Mấy bữa nay Sài Gòn hớn hở
Cờ, hoa và pháo nở bung trời
Tôi lượm tro tàn ngoài cửa mở
Kết vòng nguyệt quế viếng thời tôi!

 
Đấy là thơ tôi, viết trung tuần tháng 5 năm 1975, gửi báo tường đại đội. Giời ạ, thơ mới thẩn, báo tường chả thèm đăng. Ôi, năm 1975, tháng 4, ngày 30… Lắm lúc tưởng năm ấy, tháng ấy, ngày ấy chỉ mới hôm qua hôm kia, tươi ròng và nóng rát rạt như một trận pháo bầy trùm xuống giữa đội hình.

Bữa trước, bọn tôi phải tiễn đưa một người bạn, một gã trong số còn sót lại sau những trận đại bác như thế. Bạn tôi ở một làng ven sông, làng ấy là cố hương của một nhà thơ - liệt sĩ họ Vũ. Bạn cũng họ Vũ, một người lính can đảm, một nông phu, một tay chèo bạt gió.

Đầu tháng 5 năm 1975, hồi ở Đồng Dù, Củ Chi, lần đầu gặp lại sau chiến dịch, đứa nào đứa nấy sạm đen, gầy vêu vao, chỉ mỗi hàm răng là trắng. Bạn cười, tôi cũng cười, chắc thế, nụ cười thất thần của những người lính chiến thắng. Quanh nơi đóng quân, vốn là căn cứ của Sư đoàn 25 quân lực Việt Nam Cộng hòa, mới bị triệt hạ trước đó vài ngày, mùi tử khí , dầu mỡ, cao su, quần áo cháy chốc chốc lại quẩn lên trong gió. Xa hơn một chút, chếch về phía bắc, cửa mở của Trung đoàn Thăng Long, mũi tấn công chủ yếu trong trận chiến đẫm máu ấy, còn nguyên dạng. Xác hai chiếc xe tăng M48 án ngữ cửa đột phá, hàng chục lô cốt bị đánh sập, vỡ toác, ám khói, dây thép gai quằn quại, mìn các loại đầy rẫy trong hàng rào. Đường xung kích lầm bụi đỏ nhễ nhại. Những vũng máu lớn, chỗ vón cục lại, chỗ mỏng hơn ngấm vào đất bột, cong vênh lên dưới nắng đầu hè... Cuối năm 1970, lần đầu nhập trận, đang vượt sông Sê Pôn, tôi bị chuột rút, bạn kịp vòng lại cùng bè nứa giao liên. Ba ngày sau bạn nhập viện, tưởng là đi đứt vì sốt rét ác tính, đôi tay thuyền chài cuồn cuộn đã quắt lại.

Đóng quân ở Đồng Dù, những ngày đầu tháng 5 năm 1975, lính ta vẫn dính sốt rét. Muỗi nhiều vô kể, thậm chí nhiều và độc hơn muỗi rừng. Đêm ngủ hoặc buổi trưa ngả lưng chốc lát đều phải giăng màn, thứ màn của lính dầy lắm, vậy mà chỗ nào da thịt giáp mùng màn tức thì bị muỗi chích. Vết bị chích ken nhau chồng lên nhau sưng tấy, đám đỏ bầm, đám xám lại như vầng cơm cháy. Đã mấy ca sốt cấp tính, một tá bác sĩ giỏi có thâm niên chống sốt rét rừng cũng bó tay. Thành thử dù đã sang hè, lính tráng buộc phải đóng thùng hết lượt, quần chùng áo dài, đi bít tất cả ngày lẫn đêm.

Lại nhớ mùa khô năm 1972, cả Mặt trận Tây Nguyên đói dài, bạn dành dụm được từ bao giở bao giờ một lon gạo, hai thằng gặp nhau giữa rừng, mừng rú, nổi lửa “ca cóng”. Hăng gô treo trên cành le, gần gốc cây lớn. Củi, những cây “cộng sản” khô ăn lửa cực nhanh và tuyệt nhiên không một sợi khói. Bất đồ nghe đề pa đại bác. Đấy đích thị là pháo núi Hàm Rồng. Mẹ kiếp, chúng nó ngửi thấy cơm tỏa hương chắc. Tôi và bạn kịp hè nhau phóng xuống khe. Pháo nổ tràn đồi, mảnh gang bay tứ tung. Một chốc pháo dừng, tôi mở hăng gô. Gạo hẩm, cơm miếng sống miếng chín. Cái bao tử đang vui, hai tên lính đang vui, thốt nhiên bạn sững lại, ngẩn ngơ, một chốc thì hỏi, bao giờ được về nhà, mày! Ngày ấy bạn hỏi tôi, tôi cũng từng hỏi mọi người, những người lính chúng ta hỏi nhau: “Bao giờ được về nhà?”

Về nhà! Mãi tận ba năm sau, cuối 1975, bạn mới toại nguyện. Về quê, cưới vợ, sinh con, cuốc cày, chài lưới, buôn vặt, bòn nhặt từng đồng bạc lẻ. Quay đi quay lại, vùn vụt đã dư bốn chục năm. Đã già. Đã yếu. Bị trọng bệnh mà toàn bạc lẻ. Bạc lẻ đành phải chào thua!
Bạn với người vừa nằm xuống, mấy gã bom đạn chừa ra trong số 186 tên cùng quê, nhập ngũ cùng ngày, cúi đầu mặc niệm, lần lượt chạm tay vào hòm kính lạnh. Nhìn thấy bạn quân phục chỉnh tề mà không thể bắt tay được nữa!

Cuộc tiễn đưa men theo triền đê, lẫn vào gió sông Đào. Nắng tắt, hồi quang hắt lên nền trời một quầng lớn màu đất nung. Một ngày đang tàn.
Chiều nay bạn về với sóng
Thênh thang mát mái xuôi chèo
Đáy sông mọc ngôi sao mới
Ngày mai đũa bớt một đôi.


Bạn đi nhé, thổ cư mới nhòm ra khúc quành của dòng sông, cỏ dày và xanh, thoáng đãng nhất vạn chài!
*
*    *
Tôi phóng xe lên thị trấn. Tôi có người bạn cựu chiến binh ngụ cư ở đấy. Bạn cùng học cấp hai, cấp ba, tôi nhập ngũ trước, bạn làm lính chiến muộn hơn một năm. Sau 1975, bạn giải ngũ, ôn thi rồi học đại học. Tốt nghiệp, ra trường về quê công tác, ngày nghỉ vẫn xắn quần lội ruộng, nhổ mạ, gánh phân, tát nước, tất tật mọi việc của nông phu. Xuất thân chân đất, tâm thành chí tốt, tự lực và được thời gian trợ sức, bạn trở thành một trong tứ trụ của huyện quê nhà. Bốc gia đình lên phố, ở quê có việc hiếu hỉ, công đức, bạn vẫn về, khi một mình, khi cả nhà. Con, một gái hai trai đều đã trưởng thành, nhà cửa quần tụ gần bố mẹ, quanh phố huyện. Cũng đã hưu như tôi, lại cũng lắm bệnh - nay chỗ này, mai chỗ khác trở chứng. Nhà ba tầng rộng rãi nhưng hai lão già kéo ghế ngồi ngoài sân, dưới dàn ti gôn. Ấm trà xanh vợ bạn về quê mang lên vừa ngấm. Câu chuyện về nhân tình thế thái. Điện, đường, trường, trạm, áo cơm, hoa trái…, những cái dễ nhìn thấy đang đẹp dần lên, nhưng quá nhiều thứ trân quý đã mất, chẳng biết bao giờ hồi phục được. Bạn thở dài, tôi cũng thở dài. Quay về chuyện con cháu, chuyện này vui hơn. Rồi đến chuyện riêng tấm thân mình. Những huyết áp, dạ dày, giấc ngủ bị chặt thành mấy khúc, các phác đồ điều trị, thuốc nọ thuốc kia… Chen vào giữa đôi ba chuyện ngày xưa, thời lóc cóc cuốc bộ đến trường. Bạn bảo, bọn trẻ khác chúng ta nhiều lắm. Ừ, rất khác! Dạy con dạy cháu làm người tử tế bây giờ là khó nhất. Bạn im lặng, tôi cũng im lặng. Chén nước đã lâu không vơi, nguội ngắt trên tay.

“Tôi buồn lắm!”, bạn nói khi tiễn tôi, bàn tay đầy đặn mà nhão, cái ấm áp thường nhật đi đâu. Tôi về. Khuôn viên trường phổ thông trung học gần đó bữa ấy vắng, học trò vừa nghỉ hè. Hoa phượng đương mùa cháy trên mái phố, đỏ tơi bời dưới quốc lộ. Phượng đỏ rực sân trường báo mùa thi rất vắng/ Bao gái trai dép lốp đã trên đường… Thơ ấy, thơ báo tường lớp 10A chúng tôi mấy mươi năm trước. Có một thế hệ như vậy, bao nhiêu học trò chưa kịp nộp bài kiểm tra thì nhận lệnh nhập ngũ. Thời đại lắm kẻ anh hùng chiến trận ấy đã tít mù xa. Tôi về đây, không ngoái lại nữa. Tôi cho xe chạy chầm chậm, lẳng lặng nhìn và lắng nghe. Mùa hè đang chín mà vắng tiếng ve. Lạ nhỉ. Nhưng trời vẫn xanh, xanh lắm. Mây trắng từng gò từng đống ngổn ngang bay. Mùa hè lỡ nhịp tiếng ve/ Cánh buồm lẻ gió bên lề ca dao/ Đời xanh như tóc độ nào/ Đã lơ phơ bạc vắng vào sông trưa...

Lại thơ lẩn thẩn, lúc đó còn lâu mới trưa. Sông quê tôi đoạn ấy nhỏ, ngày thường vắng, chị em họ hàng nhà bèo uể oải trôi trên sóng, đẹp mà buồn. Có một cây xăng gần bến sông, tôi ghé vào cho xe ăn, vừa đóng nắp bình thì điện thoại. Áp máy lên, cả hai tai đều ời ời tiếng gọi, tiếng trong “cục alo” và tiếng từ bên kia đường. Ở đấy, ba gã đồng ngũ vừa rời quán nước, tụ tập cạnh chiếc xe Kia Morning màu trắng. Từ sáng tới giờ, tai tôi ở đâu để lỡ ba cuộc gọi của bọn hắn. Tôi dấn xe tới, đùa: “Bẩm các quan bác, có việc gì sai bảo đấy!”. Gã Bánh Dẻo nhô đầu khỏi cửa xe: “Thăm thằng Yên, nó mới đi viện về.”

Chiếc xe bốn chỗ ngồi chạy trước, tôi vè vè dông theo. Nhà Yên ở gần đây, lối mấy đứa tôi thường cuốc bộ qua, hồi học cấp ba.
*
*    *
Có nhẽ phải kể về Bánh Dẻo trước, cái gã lái chiếc Kia màu trắng ấy. Hồi cùng lính mới vào chiến trường, một bận bọn tôi đi lấy hàng, chập choạng tối về đến sông Sê Pôn thì mưa. Mưa cuối mùa mà dữ dằn ác liệt, lũ dâng tưởng ngập lụt cả núi non. Bữa trưa, nắm cơm vắt nhỏ bằng nắm tay không bõ dính ruột. Đói, gã mở ba lô. Hàng là thuốc nổ C4 (món này của Mĩ, chả hiểu sao kho quân ta lại có) mầu trắng ngà, nom như bánh dẻo. Gã bấu một mẩu, nếm. Chà, ngọt! Gã tiếp, mẩu thứ hai, thứ ba… Nghe gã rủ rê, tôi cũng đánh bạo. Ừ, hay quá! Như chè lam! Tôi gật gù, định khen thằng Thực giỏi bỗng thấy gã trợn mắt ôm bụng, xua tay rối rít. Rồi gã móc họng, tôi tức tốc làm theo. Rốt cuộc, cả hai thằng không thành... tử sĩ. Từ đấy, bọn tôi thường gọi gã là Bánh Dẻo hoặc Chè Lam hoặc lạ hơn một chút, Xê Bốn (C4), thay cho Thực Háu. Vâng, gã tên Thực, Nguyễn Đình Thực, kẻ háu ăn đệ nhất thế gian này. Cơm nước chưa kịp “ổn định” trong bụng, thoáng nom thấy nghe thấy món gì có thể chén được, gã đã đánh lưỡi liếm mép, mắt sáng long lanh. Hồi luyện quân ở Thanh Hóa, nằm chung một sạp ngay cạnh Thực là Nguyện, tay này là bậc cao tằng tổ tỉ thói gặm nhấm ban đêm. Kẻng ngủ một lát, nghe chừng lính tráng đã thiu thiu, Nguyện khởi sự. Khọt khẹt, nhóp nhép... Tiếng sạp nứa cựa mình và tiếng thằng Nguyện nhai. Nhà lính ba gian mái gianh, vách trát bùn; gian giữa đặt giá súng và lối đi, hai gian bên cạnh là hai cái giường tự tạo chạy suốt chạm cả ba chiều vách, chiếu cá nhân trải sát nhau. Quá gần, nên cái sự nhai đêm của thằng Nguyện tra tấn nhau kinh khủng không thể tả. Lại còn cái thứ người ta vẫn gọi là mùi mới vị. Mùi kẹo bột, mùi lương khô, mùi lạc rang, mùi sắn nướng... mỗi đêm một món. Thục Háu cóc ngủ được, trở mình luôn luôn. Thằng Nguyện bèn trở đầu đuôi, lắm lúc chân thằng nọ vả vào mặt thằng kia. Khổ thân thằng Thực quá, ai bảo gã thính tai, tinh mắt, tinh mũi hơn người. Cuối cùng, sau bữa tối, sau mọi sinh hoạt họp hành, khi mọi người chui vào màn, gã treo võng ngoài hiên, vừa đu đưa vừa khe khẽ hát. Bữa nào mưa gió hoặc trở trời lắm muỗi lắm dĩn, chờ thằng Nguyện, tức Nguyện Cứt Sắt hoặc gọn hơn - Nguyện Sắt thôi nhai, gã mới rón rén len vào chỗ của mình. Thực hay hát từ đấy. Giọng Bánh Dẻo cũng khá. Bạn tin không, gã từng hát kiếm... ăn trên đường Trường Sơn cơ đấy. Thoạt đầu chỉ là trò đùa nghịch của tôi và gã. Gã thường hát nhỏ, vu vơ, ngẫu hứng, mỗi bận dừng chân. Tôi bảo, mày lên gân lên cốt gào to to một tí xem nào. Gã bảo, nhạt miệng bỏ bà. Tôi đưa một chiếc kẹo, quà quê trước khi đi B, tôi để dành được. Gã liếm mép, cười tủm. Rồi đó, bài hát vang lên, thấp thoáng núi non, biển cả, cánh đồng, gái trai nón trắng áo hồng, những câu thơ vỗ cánh qua sông. Ở phía cuối hàng quân, một cây ghi ta gỗ được chuyền lên. Vài ba người lựa giọng hòa theo, một bè trầm lan tỏa. Bên kia khe suối, vẫn trên một cung đường, tiếng điếu cày đầy phấn khích vọng sang. Lính dần dần tụ lại nghe Bánh Dẻo hát, nhân thể hút ké thuốc lào. Một thanh lương khô, một chiếc kẹo, một quả rừng nào đó trẩy được bên đường. Gã hát. Gã nhận quà của lính, mỗi hôm một chút, chỉ của một người. Đường dài, vài thứ nhấm nháp được lính ta cõng trên ba lô cũng hết, gã vẫn hát, mỗi chặng dừng chân, lính ta phụ họa, cả mồm miệng và chân tay. Giọng Bánh Dẻo khá đẹp, khỏe và vang, rất hợp với cái thời người ta cần thấy mình vạm vỡ, lớn lao, mạnh mẽ hơn sức vóc thực. Đôi lúc gã cũng hát bậy hát bạ, xuyên tạc bài nọ xọ bài kia... Ấy là chuyện trước khi Thực bị thương. Đầu mùa khô 1972-1973, đơn vị lật cánh từ Kon Tum xuống Gia Lai, mới chạm vùng ven Đức Cơ, bất thần đại bác, một trái phá, độc một trái thôi, nổ trúng điểm trú quân. Không ai xây xước gì, trừ Thực, gã bị mảnh gang lướt qua cổ. Đi viện hơn tháng trở lại đơn vị, giọng đục và méo, gã không hát nữa, trước đông người. Sau 1975, học hành dang dở, gã về quê làm nông dân, như ông bà cha mẹ. Rảnh một chút thì quăng lưới, đánh dậm, thả lờ… Buổi nông nhàn thì làm thuê. Hết việc, “ba lô lộn ngược xuôi tầu Bắc Nam”, đi buôn vặt. Nói gọn lại, việc gì lương thiện mà nở ra cơm gạo nuôi con, gã không nề hà. Lần hồi mãi rồi con gã, hai tên gà tồ cũng học hết cấp ba. Gã hỏi bạn lính, “Vô sản toàn thế giới hãy liên hợp lại!”, có câu khẩu hiệu như thế, đúng không? Đúng, đúng. Lại hỏi, Âu - Mĩ toàn những nước công nghiệp phát triển, vô sản - bây giờ hay gọi là công nhân í, vừa đông đảo vừa giỏi nghề lắm phải không? Ừ, đông lắm, đông vô vàn. Hỏi tiếp: Nên liên hiệp với chỗ nào đông người cho mau khỏe, đúng không? Đúng, tất nhiên rồi. Vậy là gã lo cho con đi xuất khẩu lao động, từng đứa một, anh trước em sau. Bây giờ chúng giầu sụ, ủi bay căn nhà cũ, dựng một Villa gần thị trấn, đào ao, quật đất làm vườn, cây cối hoa trái mùa nào thứ đó, Bánh Dẻo ta chẳng lo nhạt miệng. Hồi ở chiến trường, bằng cách nào đó, hiếm khi trong ba lô của gã không có thức gì nhấm nháp được. Đêm đi trinh sát, nằm giữa hàng rào kẽm gai, phía trước lính địch gọi nhau đổi gác, ngay sát nách là bẫy mìn, miệng Bánh Dẻo vẫn nhí nhách. Có thể chỉ là một mẩu sắn, có thể chỉ là mươi hạt lạc, hạt đậu tương rang, có thể là chỉ nửa thanh lương khô. Bây giờ gã vẫn chứng nào tật ấy. Thỉnh thoảng gã vẫn thả lỏng cho cả nhà nghỉ ngơi một vài buổi. Gã năng ôm đàn hát hơn, lúc một mình, khi cả vợ con, bạn bè. Chiếc xe Kia là quà tặng của thằng lớn. Thằng em bảo, cái “công nông đời đầu” một chấm này bố dùng để tập lái thôi, khi nào thành tay lái lụa, con ka bê (kính biếu) bố cái khác, những năm bẩy chấm cho hoành. Thằng anh cười tủm, không chấp. Đã hết thời phải sấp mặt chỉ lo cái ăn chỗ ở, Thực gọi hai cậu con trai về nước, chung tay mở một xưởng thợ tầm tầm, bỏ một ít tiền lập quỹ khuyến học cho dòng họ. Xuất khẩu lao động mẹ gì - gã nói, cũng đi làm thuê cả thôi, nhục lắm. Bây giờ nhiều người gọi là sống kiểu gì nhỉ. À, sống chậm. Nhiều lúc phải biết thư thả, biết ngẩng đầu lên, đi đây đi đó…
*
*    *
Chiếc Kia dừng trước nhà Phan Đăng Yên, Bánh Dẻo mở cửa và mở miệng: “Sếp có gì nhuộm mồm nhuộm miệng không đây!”. Vợ Yên bước ra, đon đả: “Có ạ, có ạ! Em mời các bác…”. Nhà Yên mới sửa sân, tôn cao, lát gạch đỏ. Lối nhỏ ra vườn trải sỏi, hai bên trồng hoa tóc tiên. Giàn phong lan trước hiên thêm ba giò hoa mới. Chủ nhà vừa thoát cơn bạo bệnh. Bệnh cũ, hồi mới nhập ngũ, thỉnh thoảng đã phải uống thuốc. Là lính, bị chiến tranh băm kĩ ninh nhừ liền mấy năm, tuổi ngoại sáu mươi, bệnh cũ rủ bệnh mới đua nhau công phá. May mà gặp thầy gặp thuốc. Mới tháng trước, đi viếng bà mẹ một đồng đội khác, khi về, Yên luôn chạy trước, chốc chốc dừng xe, ngoái lại chờ tôi. Mắt và tai đều kém, tôi thường cho xe chạy chậm. Đến chỗ rẽ ai về ngả ấy, “đi cẩn thận nhá” - Yên bảo, tôi “ừ”. Được một đoạn, ngó vào gương chiếu hậu, tôi thấy gã vẫn đứng đấy. Yên là vậy, hay lo cho người khác. Đầu năm 1973, tôi dẫn tiểu đội công binh tăng cường cho đại đội Yên công đồn. Đang khai triển đội hình tiềm nhập thình lình đại bác, tôi đổ sấp xuống một hốc cây. Trái phá nổ phía bên kia, nửa thân cây sát đất nát nhừ. Pháo bắn vu vơ, có lẽ thế, chỉ dăm bảy trái thì dừng. Tôi co chân, định nhổm dậy. Nặng trịch. Đấy là Yên, thì ra trước đó gã đẩy tôi vào hốc cây, nằm đè lên. May mắn, cả đội hình an toàn. Gã vuốt ngực, thở khò khè, lục bòng lấy thuốc, bặm môi đứng dậy, vượt lên đầu hàng quân. Trời tối sập. Nhưng cuộc ấy hóa nhàn. Lệnh rút, khi lực lượng đột kích đã áp sát hàng rào cuối cùng. Thôi công đồn, quân tôi về đơn vị chủ quản. Chừng nửa tháng sau Phan Đăng Yên chỉ huy đại đội nhổ chốt Đầu Lâu, một đài quan sát trên dãy núi Chư Kra. Đánh xong trụ lại một ngày, Yên bị sốt rét đánh cường tập, chỉ huy tiểu đoàn thúc quân cõng gã xuống núi. Trạm phẫu dùng liều đặc trị, cắt sốt, nghe tin bị mất mỏm Đầu Lâu, ban chỉ huy đại đội đều trọng thương, Yên khoác ba lô, dông rừng về. Chiều ngả, lập tức kéo các trung đội trưởng đi trinh sát. Vào trận, gã chỉ lấy mười lăm tay súng, một nửa số đó là B40, cùng rất nhiều lựu đạn, quân cán trèo núi, luồn ra phía sau. Dàn bộc phá phóng bày ở phía trước đánh vỗ mặt, thực ra đây là một cú đánh lừa. Nhá nhem tối điểm hỏa. Bộc phá phóng quả nổ - mìn định hướng, lựu đạn bay lên, nổ trùm trước mỏm Đầu Lâu trên dưới trăm thước. Đang ăn tối, bọn lính rằn ri thoạt đầu tút xuống công sự, một lát thấy hỏa lực đối phương đánh như gãi ghẻ, bọn chúng rời hầm hố, nhao lên cả lượt, đứa đứng đứa ngồi xem vũ khí mới của Việt cộng. Nhiều thằng cười giễu. Trong khi ấy, quân cán nhà Yên đã áp sát sạt. Thình lình lựu đạn, tiếp liền B40, chỉ nhằm phá hủy công sự. Quá bất ngờ, không biết bị đánh từ đâu, càng không thể nghĩ bị đòn hiểm từ khe suối thốc lên, điều tối kị trong tác chiến. Hầm hố công sự, cái bị chiếm lĩnh cái bị đánh sập, vũ khí cũng bị hủy trong đó, ba chục tay súng đồn trú mỏm Đầu Lâu vỡ trận, mạnh thằng nào thằng nấy chạy. Trận đánh chừng năm phút, tuyệt đối đúng phương án tác chiến.

Sau 1975, tiểu đoàn phó Phan Đăng Yên đi học, năm 1979 cầm quân cự giặc ở phía Bắc. Hồi toàn quân giảm biên, gã “nghỉ một cục”. Về quê, lại đi cày, trồng rau, chăn nuôi, chạy chợ… Con gã, con nhà lính vốn biết thân biết phận, chịu học, chịu nghĩ, chịu làm, bây giờ mỗi đứa một cơ ngơi. Chúng định dỡ cái “chui ra chui vào” trước đây dựng nhà mới cho bố mẹ. Yên bảo từ từ. Sự thực gã tiếc công lênh vợ chồng gã. Ban ngày ban mặt lo kiếm miếng ăn bỏ miệng, lo cho ba đứa trẻ đến trường, đêm quật xỉ than quật đất đóng gạch, xây nhà. Ba năm liền như thế. Căn nhà, bọn trẻ vẫn chê là lô cốt ấy, tất tật năm mươi thước vuông, tường gạch bi dày ngót hai gang tay, cửa rả vôi ve, qua mấy bận sửa sang, nom cũng sạch mắt. Gã Bánh Dẻo bảo, tường dày, hè mát đông ấm, đừng phá.

Đồng đội cũ đến thăm, Yên lò dò bước ra ghế, thần sắc nom đã khá lắm. Dù vậy, nhìn đám thuốc men, máy móc sẵn sàng, thoáng nghe tiếng thở dài không biết của ai lẫn tiếng bước chân sẽ sàng của cô con gái, căn phòng như rộng ra, se se những gió. Nhân lúc vợ con Yên xuống nhà ngang, gã Bánh Dẻo bô bô, thằng Yên với mày - gã chỉ tôi, ngày xưa, chúa tể món trộm xem gái tắm. Hây zà, thằng cha dựng đứng vụ này. Ở Gia Lai thời ấy, mỗi làng thường có một hai bến nước. Là một tụ thủy, nơi hai dông đồi gặp nhau, cùng nghiêng xuống, nước được chắt lọc từ ruột đất, cuối dòng là một đoạn tre nứa làm máng đổ vào bến, nước trong và lành. Khi tắm, phụ nữ cởi hết váy áo, xây lưng lại lối đi. Người cần lấy nước với tay qua vai người tắm, hứng bi đông ăn vào miệng máng. Lính trẻ dễ ái ngại lại nhát như tôi và Yên, thường cắm đầu cắm cổ đi thẳng chứ sao mà dám... Từ nhà ngang, vợ Yên bưng hoa quả lên mời khách. Nhân lúc vui chuyện, tôi bảo Thực, lão hát thử coi, một bài láo toét ba lăng nhăng nhất ngày xưa ấy. Bánh Dẻo ừ hữ vỗ trán, nhấm một góc múi cam liếm mép, dọn giọng. “Ta là con của bố ta mẹ ta/ Nhớ nhà là ta cứ ra về/ Ta ra đi không cần ô tô/ Ta cần lương khô/ Ta về con chó vẫy đuôi mừng ta...”. Bánh Dẻo hát đấy, bốn tên lính già vỗ nhịp hát theo, câu nhớ câu quên. Bài hát xuyên tạc một ca khúc rất nổi tiếng của một nhạc sĩ quân đội. “Ta cần lương khô… ta về…”. Là B quay, đào ngũ… Bài hát lếu láo này, bọn tôi đã thuộc, đã hát như một trò đùa thuở còn rất trẻ, từ những bước chân đầu tiên trên đất rừng Trường Sơn. Hát nhăng nhít bậy bạ thế, nhưng cả thảy 186 thằng nhập ngũ cùng ngày đều đi một hướng. Rất nhiều người đã nằm lại dọc đường đến ngày Ba mươi tháng Tư.
Đồng ngũ tôi, 186 gã trai tóc xanh
Lửa trăm trận, sót dăm thằng tóc bạc
Bữa hội ở Sài Gòn mâm cơm khuyết góc
Bốn chân trời đại bác khói chưa tan!
Ai đó nhắc đến Nguyện Sắt, tay chuyên gia gặm nhấm ban đêm thuở nào, hắn không phải đồng ngũ với chúng tôi. Người bảo hắn B quay. Người bảo hắn bị thương trận đầu, đi viện rồi chuyển đơn vị. Lại ra trận, thiếu một huân chương nên không được phong anh hùng. Vậy đấy, chiến tranh... Chỉ một người thôi đã bao nhiêu cơ sự, duyên phận, nỗi niềm.

Vợ Yên tiễn chúng tôi ra ngõ. Gã ta vịn cột, đứng ở đầu thềm, dặn với: “Hôm nào nhạt miệng, lại tụ tập nhá!”. Bánh Dẻo nhanh nhẩu: Ừ, nhớ! Còn mấy mống nữa đâu! 
 
Đ.V.N
 
 

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 9 trong 2 đánh giá
Xếp hạng: 4.5 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

Quảng cáo