Bến sung

Thứ sáu - 11/11/2016 00:35
. NGUYỄN MINH KHIÊ​M

Cách đây mấy tuần, nhà văn Nguyễn Văn Đệ liên tục giục tôi lên với Như Thanh, Thanh Hóa. Cuộc điện nào anh cũng lặp đi lặp lại: Như Thanh hay lắm, Như Thanh nhiều điều lí thú lắm. Thực ra, tôi muốn đến đó từ lâu bởi ở đấy có núi Nưa hùng vĩ, có Phủ Na huyền bí, dấu tích nghĩa quân Bà Triệu anh hùng, có giếng Tiên và huyệt đạo thiêng hàng nghìn năm trong tâm linh người Việt, có hoa đào thanh cao thơ mộng, núi non trùng điệp, xuân về vang vọng cồng chiêng, rồi Bến En được ví như Hạ Long trên cạn… Nhưng trên hết, ở đây còn có Bến Sung, nơi lưu giữ nhiều trầm tích văn hóa.

Nói là đến Như Thanh, nhưng cột số nào trên đường cũng ghi Bến Sung. Bến Sung 30km. Bến Sung 10km… Bến Sung 0km. Bến Sung tươi tắn từ lòng người, hồn người tươi tắn ra. Bến Sung rạng rỡ từ lòng người, hồn người rạng rỡ ra. Tôi có linh cảm, Bến Sung là huyệt đạo kí ức, văn hóa, tâm thức, lịch sử của Như Thanh. Giải mã được Bến Sung là giải mã được sức sống kì diệu của Như Thanh, giải mã được chiều sâu tinh hoa, truyền thống, chiều sâu nguồn cội của một vùng đất.

Ai giải mã được Bến Sung? Người xưa có câu: “Đất có thổ công, sông có hà bá”. Tôi muốn được nghe một “thổ công, hà bá” ở đây nói cho nghe ngọn nguồn lạch sông. Hỏi, mọi người liền giới thiệu ông Lê Huy Quân.

 
13164267 991539940893283 7680494528285685020 n
Thị trấn Bến Sung, Như Thanh, Thanh Hoá -  Ảnh: ST

Theo gia phả dòng họ Lê Huy, cố nội ông Lê Huy Quân từng là thầy giáo dạy vua Thành Thái. Vì theo phái Tôn Thất Thuyết chủ chiến nên sau này bị phái Tôn Thọ Tường đẩy ra làm Tri phủ Phủ Lạng - Thương. Ông nội ông là Tri huyện Lệ Thủy kiêm đồng Tri phủ Bố Trạch (Quảng Bình). Bố ông, bố nhà văn Lê Huy Trâm và bố nhà văn Lê Minh Khuê là ba anh em ruột. Tuổi đã bảy lăm nhưng trông ông phong độ, minh mẫn, lanh lợi, hoạt bát. Đứng trên chiếc cầu máng nhìn xuống dòng sông sâu hun hút, rộng chừng mươi thước, đục màu nước gạo, lờ đờ chảy dưới chân, ông rành rọt kể về lai lịch của nó. Sông Mực, sông Khe Rồng, sông Bến Sung, thực chất là một. Tên chính trong bản đồ là sông Yên. Dòng sông này phần chảy ở đồng bằng chỉ non nửa còn đoạn chảy trên miền núi là đa số. Ở đầu nguồn, sông Yên có ba khe hợp lại gồm: khe Sải Vàng, khe Cầu Đất, khe Đá Phai. Từ dưới trông lên, nó tõe ra như một đuôi rồng nên gọi là Ba Khe hay còn gọi là Khe Rồng. Bên cạnh Khe Rồng còn có eo Gắm vì ở đây rất nhiều cây gắm. Đoạn chảy qua Bến Sung, gọi là sông Bến Sung, ngoài ra nó còn có một tên khác là sông Mực bởi dưới lòng sông có một lớp tảo rất dày khiến cho màu nước tối lại, đen như mực. Bến Sung là điểm đáng nhớ của dòng sông Yên ở thượng nguồn. Trước năm 1954, hai bên bờ sông là một rừng sung. Những cây sung đại thụ hàng trăm năm tuổi, đủ hình, đủ dáng vươn mình ra sông. Tán che kín mặt sông. Sung liên tiếp nối nhau dài gần hai kilômét. Quả sung chín rụng xuống trôi đặc mặt sông. Chim về ăn quả sung nhiều vô kể. Cá đớp sung như vỗ tay, như đập nước. Hồi đó, nước sông còn sâu, mặt sông rộng. Thủy triều lên lòng sông càng rộng. Thuyền bè ngược xuôi buôn bán tấp nập. Chủ yếu là những khách thương lái từ dưới xuôi đổ xô lên buôn gỗ. Bến Sung thành làng nổi, chợ nổi có hơn bốn mươi nhà bè sinh sống. Trên bờ sông là một bãi tập kết gỗ dài hơn một cây số, chủ yếu là gỗ lim. Lim trăm tuổi, lim vài trăm tuổi, trên bờ, dưới sông, lim chồng chất lim, bè nối đuôi bè. Trên bờ Bến Sung, có hai khu nhà công sở của Tri châu Quách Văn Cối. Nhà Tri châu cũ được xây cách vị trí cầu Máng hiện giờ gần cây số. Nhà Tri châu mới xây ngay trên Bến Sung. Pháp cũng cho xây một trạm kiểm lâm hai tầng ngay trên Bến Sung đối diện nhà Tri châu Quách Văn Cối. Mục đích xây hai tầng là để tránh cọp. Bè nào chở gỗ qua đây cũng phải lên nộp thuế. Từ 1951 về trước, cả vùng này là “vương quốc” riêng của cọp và muông thú. Rọc Rốn, một địa danh ở đây được gọi là “rốn cọp”. Cọp đông lắm. Cầu Sạy cũ (cây cầu nằm trên tỉnh lộ Mười cũ, còn sót một đoạn cong như vành lược ngay dưới cầu Sạy mới, quốc lộ 45), trước kia là nỗi ám ảnh kinh hoàng về cọp. Người ta gọi là cầu Sạy bởi vì, dọc hai bên bờ sông Mực, đoạn này, um tùm lau sậy. Cọp được sậy che chở cực kì kín đáo. Phải có từ bảy, tám người trở lên, trong tay sẵn súng, giáo, gậy dài mới dám qua đây.

Theo ông Lê Huy Quân, thời thuộc Pháp, vùng này có hai đồn điền cà phê lớn là Yên Mỹ và Đồng Kênh. Hai chủ đồn điền này đều là người Pháp. Chúng bắt phu, bắt dịch, bắt tù về đây làm cà phê vô cùng khổ cực. Rất nhiều người chết vì đói khổ, vì đánh đập, vì sốt rét, vì cọp bắt. Đây cũng là vùng đất rất nhiều chiến sĩ cách mạng về hoạt động. Ông Lê Tất Đắc, một tiền bối cách mạng của tỉnh Thanh Hóa, vượt ngục Kon Tum tới đây trà trộn vào công nhân cà phê, thợ thuyền làm gỗ, cốn bè để tuyên truyền cách mạng. Ông Đỗ Mười trong những năm tháng hoạt động bí mật cũng từng về ở tại nhà một người dân trong ấp Tri châu Quách Văn Cối, ở Phúc Ấm, nay là xã Xuân Phúc, cách Bến Sung chừng mười kilômét. Địa bàn hoạt động của ông là thợ thuyền Bến Sung, và công nhân hai đồn điền cà phê. Chuyện này không thấy ghi lại trong sử nhưng có nhân chứng là ông Quách Văn Thích hiện nay vẫn còn khỏe mạnh, sống tại Cầu Voi. Ông Lê Huy Quân còn kể, ông Hồ Tùng Mậu đem đàn bò về nuôi ở Bến Sung này nhưng bị cọp bắt rất nhiều. Không có tài liệu nào nói về chuyện này, nhưng ông Lê Huy Quân khăng khăng: “Hồi đó, ông Hồ Tùng Mậu sinh hoạt cùng một chi bộ với ông Lê Huy Giáp, bác ruột tôi. Hôm đó, ông ra Còng, Tĩnh Gia, họp chi bộ. Họp xong, trên đường về, cách Còng một đoạn thì bị máy bay của Pháp bắn chết” và chuyện mang bò về nuôi chính bác Lê Huy Giáp kể cho ông nghe. Ông Quân còn kể, Thiếu tướng Nguyễn Sơn đặt Sở chỉ huy Quân khu Bốn ở Bến Sung. Trường học của Quân đội thời chống Pháp đặt ở Bến Sung. Điều này chưa được kiểm chứng nhưng hãy coi đó là sự giàu có về huyền sử, huyền tích, truyền thuyết vùng đất này. Nhưng chuyện có một con đường goòng từ Bến Sung chở quặng gang, quặng sắt vào thẳng hang Lò Cao, hang Đồng Mười để luyện thành gang, thép chế tạo vũ khí của Quân đội ta trong thời kì chống Pháp dưới một “đường hầm tre gai” là hoàn toàn có thật. Ông Lê Huy Quân nhớ như in, hồi ông học lớp bốn, được học một bài lịch sử viết về Lò Cao kháng chiến. Nội dung kể lại chuyện súng đạn ta chế tạo được ở Lò Cao. Hồi đó, quân ta đã nghiên cứu súng DKZ của Pháp để chế tạo thành công khẩu Bazooka rồi đem ra đầu núi, phía sau hang Lò Cao bắn thử. Đạn nổ làm đá bị trắng thành vôi một đám rất rộng. Dấu tích ấy còn mãi cho đến những năm chín mươi, khi bị nhân dân khai thác đá nổ mìn mới mất. Lần đầu tiên đem khẩu Bazooka và súng đạn chế tạo được ở Lò Cao, Đồng Mười đi chiến đấu đã đánh thắng một tiểu đoàn quân Pháp ở đèo Hải Vân. Để nhớ dấu mốc chiến thắng lịch sử ấy, sau này, khi chia xã Xuân Hòa thành ba xã, xã có cơ sở đặt Lò Cao chế tạo vũ khí trận đầu tiên chiến đấu, chiến thắng được đặt tên là Hải Vân để ghi nhớ. Ông Lê Huy Quân nhắc đi nhắc lại chuyện hai người cán bộ ở hang Lò Cao, Đồng Mười đến nhà chơi với bố ông. Một người tên Ngọc, người kia tên Khuê. Người tên Khuê tặng bố ông một khẩu súng lục bé tí, rất đẹp. Đó chính là kĩ sư Trần Đại Nghĩa.

Một chuyện bất ngờ thú vị nữa được ông Lê Huy Quân bật mí đó là bài thơ Màu tím hoa sim của nhà thơ Hữu Loan chắc chắn viết ở vùng Bến Sung. Mẹ ông với nhà thơ Hữu Loan là cháu cô, cháu cậu. Ông gọi nhà thơ Hữu Loan là bác họ xa. Đơn vị bộ đội của nhà thơ Hữu Loan hồi ấy đóng quân ở vùng Bến Sung. Ngày ông còn nhỏ, nhà thơ Hữu Loan thỉnh thoảng đến chơi. Hôm nào đến, nhà thơ Hữu Loan cũng bế ông. Bến Sung lúc đó có hai vùng sim rất rộng. Vùng một, ở xã Yên Lạc, giáp xã Công Bình, nơi vợ Hữu Loan, bà Lê Đỗ Thị Ninh chết đuối. Vùng hai, Bái Sim, xã Hải Vân, nay là thị trấn Bến Sung. Những quả đồi này ngày ấy được phủ một màu sim và những câu thơ Chiều hành quân/ Qua những đồi sim…/ Những đồi hoa sim…/ Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết chắc chắn viết về sim ở hai vùng này. Về cái chết của bà Lê Đỗ Thị Ninh, tôi nhớ, có đọc một tài liệu ở đâu đó do chính anh trai bà Lê Đỗ Thị Ninh là Lê Đỗ Nguyên, khi đi hoạt động cách mạng lấy bí danh là Phạm Hồng Cư, sau này là Trung tướng quân đội kể, sau “tuần trăng mật”, Hữu Loan từ biệt người vợ trẻ trở lại đơn vị đóng ở Thọ Xuân (Thanh Hóa), cách nhà chừng 100km. Thỉnh thoảng chủ nhật Hữu Loan tranh thủ về thăm vợ. Hạnh phúc của họ thật ngắn ngủi. Gần bốn tháng sau ngày cưới, Gió sớm thu về/ rờn rợn nước sông…, con sông hung dữ, mùa nước lũ ở vùng núi Nưa nước cuồn cuộn, nàng ra sông giặt, trượt chân ngã và bị nước cuốn đi…

Mạch đất Bến Sung quả là nhiều tầng, nhiều vỉa lịch sử. Nhiều người thấy hai mươi mốt hòn đảo thiên nhiên kì thú nhưng ít người biết trước đây là một vùng rừng nguyên sinh, đầy lim, tre, nứa, mây, song nối nhau trùng điệp mênh mông. Khi đập Bến En được đắp ngăn dòng sông Mực lại, một vườn quốc gia Bến En hình thành với diện tích gần một ngàn năm trăm hécta, một lòng hồ Bến En rộng khoảng ba ngàn hécta. Hai mươi mốt ngọn núi hùng vĩ thành hai mươi mốt hòn đảo du lịch bây giờ. Hai mươi mốt con suối lớn đổ vào Bến En chỉ còn nhìn thấy qua các vết đứt gãy của vùng đồi núi.

Khi tôi hỏi về người Bến Sung, ông Lê Huy Quân diễn giải. Từ trước 1954, dân Bến Sung gồm năm nguồn chính. Nguồn một là dân làm đồn điền cà phê cho Pháp ở Yên Mỹ và Đồng Kênh ở lại lấy chồng, lấy vợ lập gia đình. Nguồn hai là dân làm đường Mười thời Pháp, toàn là những phu phen tạp dịch. Nguồn ba là dân bị nạn đói năm 1945 từ các nơi dạt về đây kiếm sung ăn để sống. Nguồn bốn là dân làm nghề cốn bè cho các chủ thương lái ở Bến Sung. Theo lời kêu gọi của Bác, năm 1962, Việt kiều khắp nơi trên thế giới đua nhau trở về Tổ quốc. Riêng ở Bến Sung có hai trăm hộ Việt kiều Thái Lan. Họ lập thành khu phố riêng. Một nguồn dân bổ sung nữa, đó là dân Nam Hà. Họ đưa hẳn một đội xe trâu, rất đông, vào Bến Sung chở gỗ. Họ chở từ rừng ra. Chở từ trên bến xuống sông đóng cốn bè. Chở từ bè lên. Các nguồn dân bổ sung này làm cho nhân khẩu Bến Sung tăng lên. Văn hóa Bến Sung đa dạng, phong phú thêm. Làng đầu tiên của Bến Sung là làng Đồng Lạc. Đồng là cùng, Lạc là lưu lạc. Những người lưu lạc khắp nơi về đây cùng nhau lập nên làng, vì thế có tên Đồng Lạc. Chữ “Đồng Lạc” còn có nghĩa, cùng nhau an cư lạc nghiệp.

Chuyện là vậy, nhưng khi ông Lê Huy Quân dẫn ra tận nơi, mắt thấy, tay sờ, ngồi trên đất Bến Sung xưa, tôi hơi buồn. Hai bên bờ sông Mực (tức Bến Sung), dài hàng cây số, không còn một cây sung. Không còn một cây ngơn. Dấu chợ nổi không còn. Dấu Bến Sung thuyền bè tấp nập không còn. Đường xuống bến bị một vài nhà dân dựng lên, quây rào cắt lối, tìm mãi không thấy. Dòng sông như ngừng chảy. Nước sông không còn thẳm sâu màu mực. Sông đục màu nước gạo. Con đường tre gai um tùm từ Bến Sung chạy thẳng vào hang Lò Cao kháng chiến ở Đồng Mười, Hải Vân cũng không còn dấu vết. Giọng ông Lê Huy Quân bùi ngùi: Tôi muốn dòng sông Mực được hồi phục lại như xưa. Sông Mực phải được nạo vét lại khơi thông dòng chảy. Thủy triều lên xuống tốt hơn. Thuyền bè xuôi ngược không mắc cạn. Đập hồ sông Mực phải xả nước nhiều hơn cho mực nước sông dâng cao hơn. Khôi phục lại chợ nổi Bến Sung. Hai bên bờ sông trồng lại tre gai, ngơn giống cảnh xưa. Đặc biệt là phải trồng lại sung. Không có sung thì không ai gọi Bến Sung.

Trước khi rời Như Thanh, tôi có gặp anh Nguyễn Xuân Hòa, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Bến Sung. Anh bảo, đã có một kế hoạch khôi phục Bến Sung. Trước mắt, sẽ trồng sung dọc hai bên đường từ đền Sung đến đền Khe Rồng dài hơn một cây số, có thể tới hàng ngàn cây sung. Khởi đầu, huyện sẽ có công văn tới mười sáu xã, đề nghị mỗi xã trồng lưu niệm hai cây sung, loại lớn. Sau đó, sẽ phát động, kêu gọi lòng hảo tâm của các gia đình, doanh nghiệp đóng trên địa bàn. Còn ngân sách chính quyền bỏ ra dăm bảy trăm triệu nữa. Như thế có thể có được một con đường sung tương đối tốt. Còn kế hoạch khôi phục lại Bến Sung, sông Mực, cái này phải từng bước, phải sau năm 2018. Kế hoạch là phải nạo vét dòng sông. Nắn lại dòng sông Mực cho thẳng. Mở một tuyến đường dọc bờ sông để khách thăm quan du lịch. Hiện tại, vẫn còn gần hai hécta đất là bãi tập kết gỗ từ ngày xưa chưa đụng đến. Ủy ban nhân dân vẫn để nguyên vẹn đó. Việc phục hồi lại bãi gỗ chắc gặp ít khó khăn. Còn việc đền bù, giải tỏa vài nhà làm chắn con đường xuống bến cũng không phải là một trở ngại lớn. Thực tế, họ cũng đang muốn đi khỏi chỗ bến sông heo hút, khó làm ăn ấy. Khó nhất là làm sao tái tạo lại được rừng sung hàng trăm năm tuổi dọc hai bên bờ sông. Và tre nữa, nếu làm được tất cả như mong muốn thì Bến Sung, cùng với Bến En, Lò Cao kháng chiến… sẽ thu hút được khách du lịch đến Như Thanh.

Tôi mừng thầm cho Bến Sung. Mừng không phải vì theo hoạch định, chỉ sau năm 2018, Bến Sung sẽ có một con đường dài hơn một cây số từ Phủ Sung đến đền Đức Ông, Khe Rồng. Mừng cũng không phải vì kế hoạch quy hoạch tổng thể Bến Sung, có nạo vét, nắn lại dòng sông Mực. Cũng không phải vì viễn cảnh hai bên bờ sông Mực sẽ có một con đường du lịch mở ra, ngời ánh điện dưới tán sung bạt ngàn che phủ; sung chín rụng đỏ mặt sông; thuyền bè lại về tấp nập chợ nổi trên sông. Tương lai mở ra từ cái dự án ấy phải cần hàng trăm, hàng nghìn tỉ có thể mới thành hiện thực. Chỉ nội lực của thị trấn Bến Sung, chỉ nội lực Như Thanh chưa hẳn đã thành. Lí do tôi mừng là vì nhân dân Bến Sung vẫn mang trong mình một lịch sử thấm đẫm nhân văn. Mừng vì lãnh đạo ở đây có một tầm nhìn trùng với nỗi khao khát, mong muốn của dân. Ấy là thời cơ, thời điểm, thời vận của một vùng đất. Biết chớp lấy, biết tập hợp, biết nhân lên, nhất định những khao khát kia sẽ trở thành hiện thực. Có thể sau cái chớp mắt của lịch sử, các thế hệ con cháu Bến Sung lại được thấy một Bến Sung đầy thơ mộng trong dáng đứng văn minh, hiện đại của thế kỉ hai mốt, nhuần nhuyễn giữa kinh tế, văn hóa, kiến trúc, du lịch đầy sức hấp dẫn trong một bức tranh tổng thể về Như Thanh đầy sức sống. 
 
N.M.K


 
Tổng số điểm của bài viết là: 20 trong 6 đánh giá
Xếp hạng: 3.3 - 6 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

 
Nhân vật Anna Karenina và sự soi chiếu từ nguyên mẫu đời thực

Nhân vật Anna Karenina và sự soi...

Lev Tolstoy - “con sư tử” của văn học Nga thế kỉ XIX - đã tạo ra những tác phẩm vĩ đại từ chất liệu tươi ròng của đời sống. Mỗi nhân vật được ông khắc họa luôn trở thành những điển hình nghệ thuật bất diệt, có tác động sâu đậm đến mọi tầng lớp xã hội. (NGUYỄN THỊ HỒNG​ HOA)

Quảng cáo