Diều

Thứ bảy - 17/12/2016 12:02
. HÀ PHẠM PHÚ​
1.
Nhiều lúc tôi tự hỏi, lão Trời Già lúc xanh đến xanh thẳm, lúc tối thì tối sầm, rất nhiều lúc cứ âm âm u u kia, thực ra là định nói điều gì với cái giống người chen chúc như kiến như cỏ dưới hạ giới này nhỉ. Ngày nhỏ, tôi hay hỏi mẹ cái gì, tại sao, thế nào, thật hay giả…, khiến mẹ tôi nhiều khi không giả nhời được gắt lên, nghĩ nhiều loạn óc con ạ, hoặc nhẹ nhàng hơn thì bảo lớn lên sẽ biết. Chưa kịp lớn tôi đã đi bộ đội. Ba mươi năm mặc áo lính, các chiến trường Đông Dương tôi đều có đặt chân qua. Chiến tranh biên giới phía Bắc, sau khi suýt mất mạng ở bên kia sông Nho Quế tôi nảy ra câu hỏi: Tại sao đang bạn lại thành thù? Đến giờ tôi cũng vẫn hay đặt câu hỏi về những vấn đề xã hội, sao lại thế này, sao lại thế kia… Thành thử, một người bạn làm nghề đọc câu đối đình chùa phán một câu xanh rờn, hưu trí rồi, mũ ni che tai nhé. Thì mũ ni che tai cho nhàn cái tâm.

Có được một ít tiền dành dụm, tôi quyết định đi chơi Vũng Tàu vào hè năm 2009, đúng dịp thành phố tổ chức Festival diều quốc tế. Xe lửa Hà Nội - Sài Gòn. Tàu sông Sài Gòn - Vũng Tàu. Cũng gọi là đại khai nhãn giới, thỏa chí tang bồng. Kiểu giang hồ vặt. Tôi đến vào buổi tối, sau hành trình dài mệt mỏi, nhận phòng trọ trong một khách sạn ở bãi Sau, rửa ráy qua loa, rồi đánh giấc thẳng cẳng đến sáng bạch.

Bãi Sau bữa ấy biển xanh ngằn ngặt. Gió lồng lộng. Rồi thấy trăm hồng ngàn tía diễu hành qua bầu trời. Ai đó kêu to, diều các bác ơi! Diều! Tôi leo lên gác thượng khách sạn cùng chiếc máy ảnh du lịch. Phóng tầm mắt ra xa. Biển thì xanh thẫm. Bầu trời thì xanh trong. Bên trái tôi, phía đường chân trời, có những đám mây chuyển động. Cao lên và rõ dần. Cơ man diều. Một chiếc diều hình cá khổng lồ, chuyển màu từ đỏ sang vàng, kéo theo một lá cờ lớn. Rồi những chú bạch tuộc xanh và đỏ, hiền khô bơi chầm chậm trong không khí, vây quanh là đàn sinh vật biển nhỏ nhắn, li ti. Rồi một đàn cá lớn, kéo lê những chiếc đuôi rất dài, diễu qua như những thứ vũ khí hạng nặng của biển. Những chiếc đĩa bay màu xanh chứa chất huyền hoặc về một thế giới khác bay qua, đủ chậm để nuôi dưỡng trí tưởng tượng. Rồi tới diều người bay. Có vẻ đúng quy luật tạo dựng thế giới. Biển sinh ra trước tiên rồi mới đến muôn loài.

Những chiếc diều người soãi rộng hai cánh tay, mắt nghiêng ngó mặt đất, miệng ngoác cười, làm râm ran cả bãi biển. Hai bên là những cánh diều chim, phía sau là những chiếc xe bay không cần ngựa kéo.
Rồi bất ngờ tĩnh lặng.

Tôi phóng xuống đường, ghé quán cà phê. Quán vỉa hè dựa vào bóng mát cây thông. Chủ quán là một nữ nhân tầm ngoài bốn mươi, vẫn còn mặn mà, nhanh miệng. Sao bác dậy muộn thế, không kịp xem lễ hội diều quốc tế? Chưa kịp đáp thì một người khách đang gặm bánh mì chen vào, phần hay nhất vẫn còn găm đấy. Vừa cà phê nữ nhân vừa ngắm, cũng đã à nghen. Tôi kêu một li nâu đá, hướng về phía vị khách gặm bánh mì, hỏi độp, ông người đồng bằng Bắc Bộ, tỉnh nào vậy. Ông khách vặn lại, sao biết tôi người Bắc. Tôi bảo nghe giọng thì biết dù tiếng đã pha trộn. Ông khách gật đầu, tôi người Thái Bình, chui lủi địa đạo Bà Rịa mãi, rồi thương gái địa phương, giờ thành dân địa phương. Hì. Rồi thêm, diều là một thú chơi. Tôi móc túi ra gói chè Thái nói, nhờ cô chủ xinh đẹp pha giúp, tôi muốn đãi đồng hương “Bắc cờ”.

 
canhdieu1TB

Có nhiều tiếng hò reo. Diều Huế! Tôi ngẩng nhìn lên. Những chiếc diều tạo hình rồng uốn khúc uy nghiêm bay ngang bầu trời. Những cánh diều chim phượng hoàng sang trọng, thanh thoát, quý phái. Ông khách buông một câu, vẻ ỡm ờ. Sản vật kinh kì, mua vui thôi. Đúng lúc đó, từ thinh không văng vẳng tiếng sáo. Ngân nga, trầm bổng, cái ồn ã của vùng biển không át nổi. Ông khách vỗ đùi, đó đó, ông bạn thấy không, tiếng của đồng bằng Bắc Bộ đó! Đấy là hồn của đồng bằng. Chủ quán cà phê cũng ngước lên bầu trời. Những cánh diều cong như vầng trăng im phắc trên không trung. Tiếng sáo vi vút như được thiên tiên gửi mây chở tới. Những vầng mây rất nhẹ. Đôi má cô chủ quán chợt hồng lên bảo, để em nấu cho bác bát mì trứng nhé. Ừ thì mì trứng, một trứng thôi nhé. Rồi cùng im lặng. Tiếng sáo diều vẫn vi vút lưng chừng trời. Ông khách tự tay rót một chén trà, nhấm nháp. Bất ngờ, tôi nhìn thấy hai giọt nước mắt to, lặng lẽ lăn trên đôi gò má nhăn nheo của ông khách. Cô chủ quán cà phê đang định nói gì, lời liền nuốt vào trong.
 
2.
Ông khách có một cái tên rất Thái Bình, Trần Lúa, kém tôi vài ba tuổi nên cứ bác bác em em. Nghe bác cũng có nghiên cứu về diều, em hỏi khí không phải, diều có từ bao giờ? Đáp rằng, theo như sách vở còn ghi lại, thì diều được khai sinh từ thời Xuân Thu, cách đây cũng ngót ba ngàn năm. Từ khi con người có trí khôn, thì con người đã nuôi khát vọng trả lời câu hỏi, tại sao chim diều hâu có thể bay liệng hàng giờ trên không chả cần vỗ cánh, mà con người thì không. Chính là con diều hâu đã thúc đẩy con người làm ra diều. Tôi có thể cược với chú, con diều lúc đầu được mô phỏng từ con chim của sa mạc ấy đấy. Trần Lúa bảo, có lí. Ngày bé em đứng trên bờ đê Trà Lí, ngắm cánh diều hâu liệng đi liệng lại trên trời, say đến mức quên cả màn đêm phủ kín cánh đồng. Em cũng mê thả diều. Thời ấy ở tận bên Song An, Vũ Thư, cứ vào dịp cuối tháng Ba âm lịch là mở hội thi thả diều. Năm nào em cũng trốn nhà đi bộ sang coi. Bác đã nghe nói đến hội thi thả diều Song An chưa? Em cũng đi nhiều, thấy có một không hai. Hội kéo dài cả tuần lễ, từ ngày 20 đến 27 tháng ba âm lịch. Luật thi độc đáo lắm, nghe nói hơn trăm năm nay vẫn như nguyên thủy. Người chủ diều sau khi chọn hướng gió kéo dây, ban tổ chức sẽ cắm hai bên dây diều hai cây sào với khoảng cách chỉ 50 centimet, trên đầu sào có buộc hai lưỡi mác bén lạnh. Khi trống lệnh nổi, các chủ diều chỉnh chuẩn cho diều kéo căng dây rồi đâm lên. Cánh diều nào không chuẩn đảo qua đảo lại, dây sẽ chạm phải hai lưỡi mác trên hai ngọn sào, đứt là bị loại. Diều đoạt giải nhất là diều đậu được đến ngày cuối cùng của hội thi. Nhưng diều thì phải có sáo. Ở đây diều chở sáo. Sáo hút gió mà cất tiếng bổng trầm…

Chú em Trần Lúa này càng nói càng hay. Diều đã cuốn cả tâm trí gã vào rồi. Bác ạ, những tay tổ sáo diều quê em gọt sáo mới là thiên tài. Giàn sáo họ làm, ít thì ba sáo, năm sáo, nhiều thì chín, mười ba, mười bảy. Nhưng chỉ có ba cây sáo chủ. Gọt sao để cho chúng ăn tiếng, đó lại là tài năng. Tôi bỗng nổi tò mò, chú có nhiều thực tế về diều thế chú có biết làm diều không. Trần Lúa sững người, có vẻ ngạc nhiên. Làm diều ư? Ôi sao bác hỏi câu hỏi ác thế. Thú thực em chưa bao giờ làm thành một con diều thực thụ.
 
3.
Thời kì kháng chiến chống Pháp, làng bị địch chiếm nên Trần Lúa đi học muộn, sau khi miền Bắc giải phóng mới đến trường. Ở lớp năm, Trần Lúa đã phạm một sai lầm chết người, nếu bị phát hiện thì coi như xong đời. Chuyện ấy chỉ có Lúa biết, thêm nữa chắc trời đất biết.

Ngày đi học, em là một thằng nhóc sáng ý, tiếp thu nhanh, học lực luôn được xếp vào loại khá. Không hiểu sao, suốt những năm học cấp một, rồi lên cấp hai, lúc nào em cũng chỉ mơ có được một cây bút máy. Một cây bút máy màu đỏ, tha hồ viết, sạch sẽ, không dây mực ra tay. Lớp em cũng chỉ có vài ba bạn là có bút máy. Giời ạ, túi ngực gài chiếc bút máy thì thật hãnh diện. Hồi chiến dịch Điện Biên Phủ, bọn Pháp đóng bốt ở quê em tháo chạy. Em có một ông chú họ, trốn nhà đi bộ đội sớm, bất ngờ về làng, đến thăm bố em. Chú có một cây bút máy đẹp tuyệt trần, gài nơi túi ngực. Em mon men đến bên, gạ cho xem. Chú rút cây bút nghe cái tách, bảo Parker đấy, chú lấy được của một thằng Tây. Em cứ mân mê cây bút, không muốn rời ra, bèn lựa lúc chú đang vui chuyện mới thì thầm, chú cho cháu nhé. Chú hơi sững người, nhưng cũng gật đầu. Chú về rồi, mẹ em nói, cây bút quý thế, sao con dám xin. Em đáp, chú ấy đồng ý cho rồi. Cha em im lặng, không nói gì. Bảnh mắt hôm sau, ông chú phái thằng cháu ruột lớn hơn em năm sáu tuổi đến đòi lại. Nhìn cặp mắt nghiêm khắc của cha, em không dám ho he nửa lời, trả lại cây bút. Bài học. Cha chỉ nói vậy. Và rồi em cũng bẵng quên đi.

Thời gian ấy em chơi thân với thằng Nghiêm lớp trưởng, thân đến mức em đã về tận nhà thăm cha nó ốm, mẹ nó còn giữ em lại ăn cơm. Lẽ dĩ nhiên, theo cách nhìn của em, gia cảnh nhà nó khá hơn nhà em. Chưa bao giờ em nghĩ sẽ làm một việc gì đó hại nó.

Hôm ấy đến lớp, bất ngờ Nghiêm khoe một chiếc bút máy, chắc là bố nó mua cho. Em ngồi bàn trước. Nghiêm ngồi bàn sau. Trong lúc thầy giáo đang viết đầu bài lên bảng, em quay lại sau định mượn Nghiêm chiếc thước kẻ, thì thấy chiếc bút máy. Chiếc bút máy màu đỏ, đúng như trong mơ em thấy. Tự nhiên em không sao tập trung nghe giảng được nữa. Chỉ nghĩ đến màu đỏ của chiếc bút. Giờ giải lao, Nghiêm ra trước để lại chiếc bút trên bàn. Em ra liền sau, quờ tay lấy chiếc bút nhét vào dải rút cạp quần. Em định bụng trêu Nghiêm, cho nó lo sốt vó một phen. Ai ngờ khi phát hiện chiếc bút không cánh mà bay, Nghiêm liền thưa thầy giáo và đòi khám lớp lập tức. Em chết sững, không kịp phản ứng gì, đành phó cho may rủi. Nếu khám thấy, em sẽ thành thằng ăn cắp, sẽ bị đuổi học.

Thầy giáo bắt cả lớp ra ngoài, xếp hàng dọc, để lớp phó đi khám túi từng người. Em run. Nhưng vẫn đủ bình tĩnh chìa tất cả các túi áo cho cô lớp phó nắn bóp. May cô lớp phó không nắn cạp quần. Nếu nắn, chắc em đã thăng. Rồi thầy giáo cùng cô lớp phó và Nghiêm đi khám ngăn bàn và cặp sách. Chiếc bút hoàn toàn mất tăm.

Nghiêm tỏ ra rất buồn. Em cũng tìm cách xa lánh Nghiêm. Vấn đề của em là xử lí cây bút máy màu đỏ thế nào. Em bỗng thấy căm thù nó vô cùng.

Buổi ấy tan học, cả lớp lặng lẽ tản đi. Cái không khí ồn ã, nhộn nhạo mọi khi lặn đâu mất. Dọc đường về nhà, em tạt qua Cống Đá. Từ đó ra biển chả bao xa. Thấy rõ rặng phi lao. Ngửi thấy cả mùi tanh của tôm cá, vị mặn của muối. Dòng nước chảy qua cống phát ra âm thanh rì rào, buồn buồn. Em ngồi cho tới khi nhá nhem, rặng phi lao chỉ còn là một dải tím sẫm. Cây bút máy vẫn nằm trong cạp quần, như một của nợ. Đến lúc em phải lựa chọn, làm gì với cây bút vô tri nhưng oan nghiệt này. Bây giờ, bác có thể suy diễn điều này điều kia. Lúc ấy em chỉ có một ý nghĩ duy nhất, hủy nó. Em vớ một cục đá, đặt cây bút máy xuống miệng cống, đập đến nát vụn, rồi gạt xuống nước.

Không biết Nghiêm có nghi ngờ em không. Không biết thầy giáo và các bạn trong lớp có nghi ngờ ai không. Nhưng không khí của lớp từ đó cho đến khi kết thúc niên học không còn như xưa nữa. Ở trong lớp luôn tồn tại một thằng ăn cắp mà chưa bị vạch mặt.
 
4.
Hết lớp bảy, Trần Lúa kiên quyết rẽ ngang đi học làm thợ máy chiếu, được phân công về một đội chiếu bóng lưu động của tỉnh. Tuần tuần kéo máy đi chiếu bóng từ làng này sang làng khác, vất vả, nhưng nhàn tâm. Có nhiều thời gian rảnh, Trần Lúa quay về với ham mê cũ: diều. Trần Lúa bắt đầu sưu tầm ghi chép lại những chuyện có liên quan đến diều.

Đi lại nhiều trong tỉnh, Trần Lúa phát hiện ra một phiên chợ đặc biệt, hàng năm chỉ họp một lần vào tiết trung thu, chuyên bán diều. Đó là chợ diều Cầu Quan. Tương truyền cầu này được xây từ thời quan Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ đưa dân về khẩn hoang, lập nên hai huyện Tiền Hải và Kim Sơn. Riêng phiên chợ diều Cầu Quan thì không rõ có từ khi nào.

Trần Lúa chỉ nghe kể về chợ này chứ chưa mục sở thị, thành thử trung thu năm ấy, anh thợ máy chiếu nhất quyết xin nghỉ phép năm. Khó khăn lắm lãnh đạo công ti chiếu bóng mới kiếm được người thay. Lúa về nhà nghỉ vài hôm, rồi rong một mạch lên Cầu Quan.

Phiên chợ họp từ mờ đất. Gọi là chợ diều, nhưng người ta bán đủ. Từ rau cỏ, gà qué đến cá mú. Bán diều chỉ có hai ông già, một ông Béo, một ông Gầy. Mỗi ông giữ một đầu Cầu Quan. Khách mua diều đông, có người địa phương, có khách vãng lai. Chợ diều Cầu Quan không thách giá, không mặc cả. Người bán hàng nói bao nhiêu, người mua trả bấy nhiêu.

Trần Lúa đi vào chợ từ phía bắc. Diều bán ở nam chợ, ngay trên cầu. Cầu Quan bắc ngang con sông đào. Ông Béo chiếm lĩnh bờ bắc, bày bán những chiếc diều được làm rất đẹp, nan diều được trau chuốt, giấy bồi phất nhựa hồng chắc chắn, giá rẻ chỉ một đồng rưỡi. Sáo diều đồng bộ ba chiếc một, bán riêng. Dây cũng bán riêng. Khách mua diều tập trung quanh ông Béo râm ran trao đi đổi lại. Buộc dây thế nào? Gắn sáo vào đâu? Rồi, chốc lại có người mang diều đi. Quá trưa thì ông Béo bán hết cả diều và sáo. Dây thì người chơi có thể tự se lấy ở nhà, chả cần mua. Những người mua, mang diều đi rồi, chả biết khi thả có bay cao. Chả biết tiếng sáo có trầm bổng du dương.

Trong khi đó ông Gầy ở đầu cầu phía nam, suốt từ sáng sớm tới trưa chả ai ngó ngàng. Bởi vì giá diều của ông đắt quá. Những bốn đồng rưỡi. Ông Béo sau khi kiểm đếm, lận tiền chắc vào lưng, bèn bước qua cầu sang đầu nam, dừng lại coi kĩ những chiếc diều của lái diều đối thủ. Ông thấy nan diều vót còn thô, thiếu hẳn trau chuốt. Lối buộc dây lèo có gì đó khác lạ, nhất thời ông chưa nghĩ ra. Chưa nhận ra khác lạ chỗ nào. Nhưng ông nghĩ việc đó là của người chơi, không phải việc của ông. Việc của ông là làm ra cánh diều và bán. Khi cánh diều trở thành sản phẩm, thì cần người làm chuyên nghiệp. Ông Gầy ỉu xìu, chẳng hề để ý đến ông Béo. Một số khách mua ngó giá cao ngất ngưởng bốn đồng rưỡi, liền quay đi. Ông Béo ngứa miệng góp với ông Gầy, hạ giá mà bán ông anh ạ. Dân ít tiền chả ai mua đắt thế đâu. Ông Gầy chỉ nói cảm ơn, nhưng chẳng có ý định hạ giá. Ông Béo cũng im lặng quay vào trong chợ. Mất hút giữa những gồng và gánh.
 
5.
Tôi hỏi Trần Lúa, vậy chú em đi bộ đội năm nào. Sau Mậu Thân anh ạ, lúc cơ sở của ta bị phá tanh bành, lực lượng còn lại bán sới sang Campuchia. Chúng em lính chính quy vào tuốt Nam Bộ, đi gây cơ sở, đánh du kích. Thế là đời em gắn với đất đỏ Bà Rịa. Sau năm 1975, em xuất ngũ, chuyển sang làm công tác văn hóa quần chúng. Máu diều lại nổi lên. Em đi Bến Tre xem diều Thửng, đi Ninh Thuận xem diều Kalang. Rồi em bắt tay làm những chiếc diều của mình. Công bằng mà nói, làm ra một chiếc diều thì dễ. Nhưng làm cho nó bay cao, có thể đứng cả tuần trên trời thì không dễ chút nào. Nhờ làm diều mà em tìm được người thương. Nếu người đàn ông là diều, thì người nữ là gió. Và có gió thường dân và gió thần linh. Gió ở Song An, Vũ Thư là gió thần linh. Hội thi Sáo Đền kéo dài cả tuần. Con diều đứng được cả tuần, ấy là nhờ gió thần linh. 

Trần Lúa có vẻ bí hiểm. Tôi nói, cái festival diều quốc tế này trao giải tùm lum cả. Anh nào tham dự cũng được giải, thế là thế nào? Trần Lúa đáp, chí phải. Nôm na là giải vui vẻ. Chữ nghĩa thì là giải hữu nghị. Nói chuyện với bác em ngộ ra điều này. Bác còn nhớ chuyện hai ông bán diều ở Cầu Quan?

Lúa kể năm ấy khi ông Béo đi rồi, ông Gầy kiên trì canh giữ đầu cầu phía nam cho đến chiều. Khách mua diều vẫn e ngại vì giá treo cao quá. Đến giờ Mùi. Gió nam thổi mạnh. Ông Gầy thấy Lúa xoắn xuýt bên những con diều suốt từ sáng, bèn bảo, cậu giúp lão một tay. Rồi ông lấy dây buộc vào con diều phất giấy nam màu nâu thẫm, có buộc giàn sáo ba chiếc. Ông bảo Lúa đỡ con diều, nghe lệnh ông, được gió thì đâm diều lên. Thật là một vinh hạnh bất ngờ. Lúa đỡ con diều, cẩn thận như bà già ở quê chuẩn bị đỡ đẻ.
Đâm diều, ông già ra lệnh. Chiếc diều được gió bay vút lên cao. Không trung đột ngột tràn ngập tiếng vi vút trầm bổng. Buổi chiều Cầu Quan trở nên huyền hoặc. Có ai đó xướng to, tôi mua chiếc diều này. Cứ vậy, ông Gầy bán những chiếc diều của mình với giá bốn đồng  rưỡi. Chả thấy ai kêu đắt. Còn chiếc diều cuối cùng ông thả lên trời. Chiếc diều bay rất cao, đứng yên trên không trung, nom không khác cánh diều hâu. Con diều này được gắn bộ sáo năm chiếc. Âm thanh của nó mới thật sự kì thú. Quá nhiều người muốn mua. Có người trả gấp đôi giá đặt. Tức thị chín đồng. Ông lão nhìn mọi người, rồi nhìn Lúa, hỏi có biết DIỀU LÀ GÌ không. Mọi người ồn ào. Sao lại không biết, diều là diều chứ còn gì nữa! Riêng Trần Lúa im lặng. Lúa không biết diều là gì. Ông Gầy lắc đầu, rút từ tay nải khoác lưng ra một cây kéo to. Đám đông trố mắt, chưa biết ông lão định làm gì. Thì phựt! Ông lão cắt đứt sợi dây diều. Ôi trời, tiếng kêu đồng loạt vang lên. Con diều mang theo bộ sáo năm chiếc bay đi, bay đi mãi. Ông lão nói với Trần Lúa, trời xanh rất công chính.
 
6.
Trần Lúa bắt tay tôi, nói chúc bác một kì nghỉ mĩ mãn, không nói ngộ ra điều gì. Còn tôi thì bắt đầu suy nghĩ. Thế nào là trời xanh công chính? 
 
Hà Nội, ngày 13/7/2016
H.P.P


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

Quảng cáo