Lời thề

Thứ sáu - 18/11/2016 12:09
. TRẦN BĂNG KHUÊ

Tôi dự tính mở miệng thề với nàng, nhiều lời nồng nhiệt.
Tình yêu bất diệt này của tôi sẽ nhảy nhót trên đôi môi đầy tràn khao khát. Rồi, hẳn là lưỡi tôi, nó sẽ uốn éo, làm đủ mọi trò quái đản, hòng để lời yêu thốt ra được ồn ào, đầy cảm hứng. Ấy vậy, nàng vẫn quyết ngoảnh mặt kiêu kì, chẳng hề mảy may bận lòng đến tôi, đến chiếc lưỡi khổ sở của tôi. 

Tôi giận nàng. Tôi khù khờ giận nàng và cũng ngu ngơ yêu nàng. Nhưng tôi hận mình kém cỏi, không thể khiến nàng để tâm đến những lời thề thốt yêu đương ấy, hoặc dù chỉ một chút thương xót của nàng sẽ làm tôi đẹp lòng lắm rồi.

Nàng lạnh lùng và ngoảnh mặt kiêu kì. Nàng như thể một bông hoa rực rỡ, nhưng hơi nhiều gai sắc nhọn.
Vậy là, trong một đêm trăng sáng rực rỡ nhất, tôi đã cắt chiếc lưỡi vô dụng ấy, quyết đem nó chôn phía sau khu rừng xơ xác rách mướp mà người ta bỏ quên khá lâu. Bọn bướm đêm loạng choạng lượn trên đầu tôi, rồi chúng biến mất không dấu vết. Nàng cũng thế. Nàng chỉ là ảo ảnh. Chỉ còn những lời thề là huyễn vọng như mùa trăng đỏ, say máu.

Sau khi cắt lưỡi, chôn sâu trong lòng đất lạnh như người ta chôn xác thịt kẻ chết.

Tôi rời bỏ nàng.
Mùa trăng ấy trôi tuột vào đáy của vũ trụ màu chì, ngủ vùi trong mây xám và đóng cửa linh hồn mình không một chút tiếc thương. Sự vẫy vùng của một cá thể nổi loạn trong tôi, trong sâu thẳm hẳn tôi sẽ được ngủ yên, như sóng ngầm trốn nấp dưới đáy biển, như con quái vật bị nhốt dưới miệng vực trăm năm. Ai cũng cần phải ngơi nghỉ. Chẳng hạn, như tôi, như chiếc lưỡi của tôi và kể cả tình yêu này nữa.

Sau khi tôi cắt lưỡi, chôn nó xuống huyệt mộ và quyết rời xa, nàng lại ve vãn quá khứ, nghĩ nhiều hơn về tình yêu, nghĩ đến tôi, đến những lời thề thốt chót lưỡi đầu môi. Nàng kể với tôi rằng, nàng đã gửi đi những lá thư được viết bởi mực đen thẫm trên giấy trắng. Nàng thủ thỉ về việc nàng thường ra phía sau khu rừng hoang lạnh rách mướp ấy chỉ để tìm chiếc lưỡi của tôi. Nhưng, tôi biết, hẳn nàng sẽ sớm tuyệt vọng thôi. Nàng không thể nào mò mẫm ra được dấu vết của nó. Rồi nàng kể tiếp, những lá thư bay theo chiều gió thổi, những lá thư không lời đáp trả vẫn đều đặn đến với tôi.

Tôi tự nhủ thầm mỗi lần đọc xong những lá thư ấy nàng ơi, muốn tìm tôi, nàng phải kiên nhẫn. Bởi tình yêu đích thực, chẳng hề dễ dàng chinh phục bao giờ.

 
vnqdT10'16
Minh hoạ: Nguyễn Đăng Phú
Tôi chọn sự câm lặng, từ đêm sang ngày, từ ngày đến đêm, từ khi mặt trời lấp lánh ánh sáng và đến lúc chìm hẳn vào bóng tối. Những lá thư của nàng, tôi cất vào chiếc hộp gỗ nhỏ màu đỏ, khóa lại. Những dòng chữ của nàng nhảy múa trong đầu tôi. Nhưng ngôn từ của tôi, trong sâu thẳm đã bị nhốt chặt. Tôi nghĩ, làm cách nào tôi có thể đáp lại, khi chiếc lưỡi đã bị chôn sâu dưới đất. Tôi câm lặng như mùa thu quyến rũ chết người, chúng luôn biết cách để chuyển đổi những trạng huống bằng cách ve vuốt thế giới xung quanh. 

Những buổi tối lặng lẽ, đối diện với bóng đêm trong căn phòng u uẩn, tôi thường chăm chăm ngắm bức tường xám lạnh cùng với ảo hình của mình và gầm gừ căm phẫn rủa thầm lời lặp đi lặp lại trong bóng tối, tôi đã cắt lưỡi, tôi đã cắt lưỡi, tôi đã chôn lưỡi, tôi đã chôn lưỡi, hỡi tình yêu ơi.

Đêm trăng đỏ say máu chỉ là khoảnh khắc hạn hữu. Chúng không xuất hiện thường xuyên như người ta hằng tưởng. Tôi thở dài nghĩ đến nàng, khi nhìn chiếc hộp gỗ nhỏ chứa những lá thư. Nàng đâu biết rằng, muốn tìm ra chiếc lưỡi của tôi, nàng phải đợi đến thời điểm ấy. Thời điểm mặt trăng chuyển sang màu đỏ. Và nàng phải hát lên rằng, hỡi tình yêu ơi, hỡi lời thề ơi. 

Tôi nhớ, mẹ tôi thường dùng những lời răn của ai đó về việc giữ lấy linh hồn để khuyên bảo, dạy dỗ chúng tôi cách làm người. Nhưng mỗi lần ương bướng, nhập nhoạng tuổi mới lớn tôi lầm bầm cãi mẹ, chúng chỉ là những chiếc bóng trườn qua trườn lại lưu luyến cõi trần bụi bặm, gian trá. Thật thế mẹ ạ.

Tôi lại nghĩ đến nàng. Nàng mải miết nuối tiếc tìm kiếm chiếc lưỡi của tôi trong rừng sâu hoang lạnh. Nàng thở than hoài về việc chẳng thể nào chờ đợi được những mùa trăng đỏ như máu. Tôi lì lợm câm nín, nhốt chặt mình vào cái hũ chứa linh hồn cô quạnh quen thuộc của mẹ và cố giữ gìn cho chúng được thanh khiết. Dĩ nhiên, tôi biết rằng, tôi chẳng bao giờ cãi lời mẹ được nữa.

Sau khi cắt lưỡi, tôi không mở lời được. Tiếng của tôi, âm thanh của tôi tắt lịm hoàn toàn. Nhưng tôi lại mắc chứng thường xuyên soi xét chuyện nọ chuyện kia, kể cả thi thoảng ngồi hàng giờ trên chiếc giường cũ kĩ để tự vấn, thứ linh hồn nào bảo đảm cho tôi giữ được sự tinh sạch để làm chiếc vé hợp lệ vào chiếc cổng mơ ước, sau khi chết? Tôi biết, ai cũng ao ước được vào nơi đó, nhưng chẳng ai đủ lòng dũng cảm để giữ gìn sự tinh sạch. Tôi phải làm gì để giữ gìn sự tinh sạch hoặc cố gắng không gây tổn thương đến ai, kể cả nàng, dù chỉ một lời thề chót lưỡi đầu môi?

Có những buổi chiều tà, tôi bắt chước mẹ ngồi trước thềm nhà, nghĩ ngợi về nàng, về những thề thốt yêu đương. Thi thoảng, tôi cảm thấy tràn trề nỗi khát thèm tuổi trẻ với từng ý niệm hân hoan hoặc khờ dại đã trôi xuôi. Tôi tưởng nhớ đến nàng, và lùng bùng tiếc nuối. Giá như, ngày ấy, tôi chỉ cần cắn ngập môi nàng qua những nụ hôn tham lam, môi nàng sẽ chảy máu. Kiểu gì cũng phải chảy máu, tôi tự khẳng quyết hùng hồn như thế, rồi thẫn thờ buồn rũ, tự khắc lên mặt sự ám ảnh bằng một nỗi đau ngôn từ. Những lời thề luôn khiến cho tôi và nàng chảy máu.

Trạng thái sầu não quẩn quanh, thỉnh thoảng khiến cho chúng ta chẳng thể nào vượt thoát khỏi tầm kiểm soát của cái tôi ích kỉ quen thuộc. Tôi bắt đầu nghĩ đến việc hưởng thụ, và nhấn mạnh rằng, cần phải hưởng thụ. Rồi, sau đó tự lí giải ngụy biện: “Dù sao người ta chỉ sống có một lần trên đời.”

Vậy là tôi quên phắt lời minh thệ từ buổi vườn đào. Chẳng bao giờ có những lời thề ở vườn đào, chỉ là lừa dối, chỉ là sự hư cấu của vài kẻ nhiều chữ. Tôi tự khẳng quyết rằng, một khi tôi không muốn chia sẻ sự thụ hưởng, tôi phải âm thầm lặng lẽ giết chết tất cả mọi lời thề mà tôi nhìn thấy, bằng cách cắt lưỡi và chôn chính chiếc lưỡi của mình.

Ắt hẳn, nàng sẽ dần quên tôi, rời bỏ tôi để đến với lời thề khác ngay thôi. Chẳng việc gì tôi phải đắn đo về chuyện từ bỏ một lời thề. Có thể, cuộc duyên nợ giữa tôi và nàng khó cắt đứt bởi cái hàng rào phủ kín giậu mồng tơi xác xơ. Nhưng có khi tôi nghĩ, nàng quyết sẽ không buông rời thứ tình yêu ngấm ngẳng như muối xát vào tim như vậy.

Có thể, thời điểm này, tôi là kẻ đã cắt lưỡi đem chôn và chối bỏ lời thề. Nhưng nàng thì quyết giữ lời thề hòng để níu buộc, hành hạ tôi. Khi nào lục địa mới cắt rời chia bôi? Khi nào sóng ngầm biển sâu mới nổi dậy gầm gừ lời của nước? 

Ôi, lời thề, những lời thề như sợi dây vô hình trói buộc một thứ xác thân nổi loạn, một thể trạng tinh thần èo uột thiếu sức sống. Tôi phải học cách ghét bỏ nó, ném nó vào nồi nước sôi đang nằm chễm chệ trên bếp lửa. Tôi phải học cách ghét bỏ nàng, người tình kiếp trước đã theo tôi đến chốn nhân gian này.

Tôi phải quên nàng.
Tôi phải nghĩ về một điều gì khác. Tôi nghĩ về làng, về nước. Tôi nhớ về một người cha đã từng hiển hiện trong đời mình. Tôi nghĩ về một người đàn ông đã biến mất không một dấu vết. Chỉ để tôi phải quên nàng và những lời thề chót lưỡi đầu môi, quên luôn một chiếc lưỡi đã bị chôn sâu dưới bao lớp đất.

Làng tôi nằm dọc theo hình chữ nhật uốn éo, mềm mại trên cái bản đồ đã bị đánh dấu đỏ buồn man mác như sự xâm chiếm dưới ánh nắng mặt trời. Rất khó để nhìn thấy màu xanh ngời ngợi của cây cối phủ trên google map. Tôi không định mô tả một thôn làng như bao thôn làng ở xứ này. Nó chỉ là một vùng quê bình thường. Nghèo và nhiều chuồng heo. Nghèo và nhiều rác thải cùng với mùi xú uế bốc lên từ dưới con sông xanh biếc trong thơ ca ngọt lịm. 

Ngày còn nhỏ, người lớn kể về chuyện thề thốt gì đó trong mỗi mùa lễ hội. Họ giải nghĩa cái từ ấy cho tôi nghe. Tôi say sưa thụ hưởng niềm ngây thơ, hồn nhiên đáng thương của một đứa trẻ. Hẳn nhiên, tôi chẳng có một ấn tượng nào khác, ngoài suy nghĩ rằng: thề là giữ chữ tín, giữ lời hứa, lời thốt ra, không được để gió rủ rê đi mất, hoặc đơn giản hơn, rằng đã nói phải làm. Tôi xem đó là ngọn đèn soi sáng đường đi nước bước cho mọi hành động của mình. Vậy mà, sau này, khi tôi trưởng thành hơn, tôi thấy người lớn thường làm ngược lại, họ chỉ toàn lừa trẻ con. Kể cả chuyện cha tôi, trong cơn say đêm trước, còn lảm nhảm lời thề thốt yêu đương với mẹ, đến cơn say đêm sau, cha đã thổi tắt ngọn nến nồng nàn ấy bằng những miệt thị, đay nghiến qua kẽ răng mà tôi không thể nào hiểu nổi. Lời thề nằm chết trên những vành môi xám ngoét màu thịt trâu.

Rồi cha tôi cũng bớt rượu, bớt bê tha khi hết mùa đói khổ, thèm khát, bớt những cơn say đã được ấn định thành thói quen thời trẻ. Nhưng cha lại rời bỏ mẹ và chúng tôi. Cha biệt tăm, biệt tích. Lời thề theo cha, biến mất. Lời thề chìm nghỉm dưới đáy biển sâu thẳm. Mẹ vẫn quyết giữ lời thề, nằm mộng khóc tràn những đêm khuya ướt gối, đến khi tóc mẹ lớm chớm sợi đen sợi trắng.

Tôi nhớ, cha từng kể về lễ minh thề, khi tỉnh táo vui chuyện, khi cha đệm đàn và say sưa hát về một người con gái tên Thi vào mỗi đêm trăng sáng. Lúc ấy, hình bóng cha trong tôi tròn trịa và đẹp lung linh, lộng lẫy, bát ngát. Tôi cảm tưởng như người ta từng mô tả về một vĩ nhân nào đó. Hẳn nhiên, là trí óc trẻ con thường bị người lớn dễ dàng dẫn dắt hoặc gạt lừa. Chẳng có người lớn nào biết xấu hổ nhỉ? 

Câu chuyện cha kể lấp lánh như vệt son môi lâu phai của nàng trên cổ áo tôi. Chỉ mới ngày hôm qua đây thôi. Dấu vết của quá khứ tích tụ lưu đọng trên mọi phản thể mà tôi nhìn thấy. Có thể ngay chính nơi tôi đứng lúc này đã sẵn sàng trở thành quá khứ mất rồi. Tôi lại nghe giọng cha trầm đọng và vang vọng bên tai mình. Cha thốt ra lời mờ đục âm u nơi cổ họng: “Kẻ tham gia lễ minh thề phải cắt tay, lấy máu nhỏ vào chén rượu, và uống.” Cha bảo rằng, cha đã từng cắt tay, đã từng mất vài giọt máu. Nhưng, có hề gì. Máu trên tay cha, rỏ xuống chiếc cốc bạc, cốc đồng, cốc sứ. Cha nhấp môi, máu hòa trong rượu. Cha tưới máu từ trên cao xuống, máu hòa trong đất. Cha ngước mặt nhìn trời, những đêm rằm, máu hòa trong trăng. Ánh trăng nấp vào mây, cha nuốt lời dang dở, đứng dậy, rời khỏi manh chiếu đã sờn cũ. Mẹ nhìn theo, lặng im cúi đầu. Những mạch máu trên mu bàn tay mẹ nổi lên chia rõ theo từng ngón sần sùi chai sạn. Cha không kể nữa, từ ngày ấy, cha biến mất, cũng từ ngày ấy, mẹ thường ngồi bên cửa sổ mỗi đêm nhìn vào những không gian trống rỗng. Mẹ ngồi mãi suốt từ mùa đông sang hè, từ hè sang thu, từ thu đến xuân. Đằng sau những giấc ngủ của mẹ là tiếng ấm ớ gọi cha thất thanh không ngớt.

Mình ơi, mình ơi, giữ lấy lời thề.
Tôi để ý, hàng năm làng tôi vẫn theo lệ cũ, không bỏ lễ minh thề dù chỉ là một thứ hình thức mang tính dân gian giữa thời buổi tạp loạn này. Lễ hội diễn ra khá hoành tráng, chẳng thiếu ban bệ hay các loại kèn trống, cắm cờ, cho voi diễu hành, rồi cả chụp hình, quay phim rất ồn ào, náo nhiệt.

Cha tôi vẫn không về.
Làng cắt cử người thay cha lên tế lễ, thắp hương, đọc lời thề. Mẹ tôi thẫn thờ, nhiều lần đứng tựa cửa đợi chờ lẩm bẩm. Mình ơi, mình ơi, đừng để lời thề chết trong máu sôi, xen lẫn với giọng người thay cha đọc lời thề phát qua chiếc loa giữa đêm trăng sáng.

Ai dùng của công vào việc công, xin thần linh ủng hộ.
Ai lấy của công vào việc tư…
Lời thề dang dở chìm sâu, tắc nghẽn trong bóng tối.

Rồi năm sau, người ta vẫn dềnh dàng với chuyện tổ chức lễ hội ấy. Các vị chức sắc làng xã xì xào bàn tán nhưng không khí khác lạ hẳn. Họ bảo, phải đổi mới, phải kết hợp giữa truyền thống với hiện đại. Vậy là, vài ý kiến được đưa ra, thêm bớt và cuối cùng, các ngài quyết định sẽ tường thuật trực tiếp trên tivi phần lễ, sau lễ là phần dành cho quảng cáo rồi mới đọc lời thề quen thuộc. Chỉ khác, họ không cắt tay, rỏ máu xuống cốc rượu, để máu hòa trong rượu, để rượu hòa trong máu, để máu hòa trong đất minh chứng với trời cao về lời thề bắt đầu cho một năm mới nữa. 

Tôi chẳng bao giờ đến dự lễ, khi cha tôi đã biến mất không một dấu vết.
Nghe đâu, họ có nhắc đến cha tôi, nhắc đến những lễ minh thề trước đây. Lời thề ấy, thường thì nó chứng nghiệm, cùng với giọng đọc đầy hào khí của cha tôi, khiến cho họ cảm thấy sợ mà thực thi rất nghiêm túc. Từ ngày cha tôi biệt tích, những người sau được cử lên đọc lời thề không còn mang âm vọng, thần khí hào sảng nữa. Bất giác từ đó, lời thề cũng mong manh như gió thổi qua rồi bay biến mất không một dấu vết như cha tôi vậy. Mẹ tôi vẫn luôn sầu muộn, nằm mê nói mớ mỗi đêm. Có khi bật dậy như kẻ mất hồn giữa khuya chỉ để lẩm nhẩm lời cha tôi đã từng đọc. Tôi chẳng thể nào nhớ hết từng ngôn lời tắc nghẽn thẳm sâu đó. Trong bóng tối, có những ngôn lời cũng phải chết.

Lời thề ám ảnh bám riết lấy tôi, như một lời nguyền.
Tôi bị ám ảnh bởi khuôn mặt sầu muộn của mẹ tôi mỗi đêm sau song cửa tràn gió. Tôi vẫn không muốn nhớ đến nàng, nhưng tôi thường xuyên mở chiếc hộp gỗ nhỏ. Nơi tôi đã cất giấu những lá thư của nàng. Thỉnh thoảng, tôi nghĩ về chiếc lưỡi đã bị chôn của mình ở trong khu rừng vắng nằm sau dãy núi uốn lượn hình chữ S.

Một đêm trăng sáng, tôi rấm rứt quyết định quay trở lại khu rừng ấy. Tôi dứt khoát phải đào chiếc lưỡi ấy lên và ngắm nghía nó. Biết đâu, tôi sẽ tìm thấy cha. Biết đâu lời thề quay trở lại. Biết đâu tình yêu giữa tôi và nàng có một kết cục khác, bình yên dịu dàng hơn. Biết đâu mẹ tôi không còn sầu muộn hằng đêm nữa. Biết đâu tôi sẽ là người thay cha đọc lời thề ấy ở dãy núi hình chữ S này. Biết đâu sự chứng nghiệm của luật nhân quả quay trở lại thêm một lần nữa, để người ta có thể tôn trọng những lời thề thiêng liêng trầm vọng từ trời cao xuống mặt đất, thấm vào máu thịt ngàn đời. Tôi nghĩ thế, và tôi chỉ muốn trốn nấp, lẩn khuất vào trong mây. Nhưng rồi tôi lại chần chừ nghĩ ngợi rằng, có thể tôi sẽ say lạc trên những con đường núi hẹp quanh co mỗi lần rời khỏi nhà vào đêm trăng sáng.

Tôi đến khu rừng hoang lạnh. Tôi đào chiếc lưỡi của mình lên và ngắm nghía nó, rồi tự thắc thỏm không thành tiếng, chỉ nghe vọng những âm u trầm đục ở cõi buồn thăm thẳm.

Liệu, lời thề có phải là một bản giao ước thiêng liêng và phải tôn trọng?
Tôi quay trở lại khu rừng hoang lạnh.

Đêm trăng sáng và đỏ. Những ngón tay tôi bết đất. Những tảng đất mềm thụng xuống, để lộ ra chiếc lưỡi đã rữa nát và chuyển sang màu đen sì. Chiếc lưỡi vô dụng của tôi. Chiếc lưỡi không thể giữ lời hứa hẹn của tôi. Đột nhiên, tôi phát hiện, một chiếc lưỡi khác nằm bên cạnh. Đất bết vào lởm khởm, nhưng vẫn dễ dàng nhận ra, nó đỏ như máu. Tôi lẩn thẩn, tự hỏi, tôi nhớ tôi không hề chôn chiếc lưỡi này bao giờ. Chiếc lưỡi này của ai? Nó đến từ đâu? Sao nhiều người lại muốn cắt lưỡi và đem chôn giống như tôi?

Từ trong chiếc lưỡi lạ, bất giác phóng ra một đám bọt nước màu xanh, như độc dược, chúng bám vào mặt tôi, mắt tôi. Tôi không thể nhìn thấy gì nữa. Bầu trời này. Mặt đất này. Khu rừng hoang lạnh này. Ngọn núi buồn này. Cổ họng tôi, buồn, đau và rát. Tim tôi đập nhanh và mạnh như muốn bứt tung khỏi lồng ngực. Tôi không nhìn thấy gì, tôi không nghe thấy gì, tôi không nói được gì. Tôi mệt rồi. Tôi phải nằm xuống đây thôi, ngay chỗ tôi vừa đào đất để tìm lại chiếc lưỡi của mình và của một kẻ lạ nào đó. Tôi phải nằm xuống. Ánh trăng xuyên qua vòm lá quét hẳn lên mặt tôi, mơn man da thịt tôi. Mùa lá rụng đến rồi. Nước mắt tôi rớt xuống đất. Đất mặn và tanh. Tôi hét lên giữa khu rừng lạnh.

Cha ơi, đừng bỏ rơi lời thề.
Rằm tháng giêng.
Năm đó, mặt trăng đỏ về đêm.

Trong một khu rừng vắng sau dãy núi S, người làng V nghe một giọng trầm vọng rì rầm từ dưới đất, tỏa lan giữa trời, đập vào vách núi. Chúng lặp đi lặp lại rồi biến mất trong tăm tối. Lời thề từ chiếc lưỡi đã bị chôn vùi, hẳn là nó rồi. Và lời thề quay trở lại, ngắt quãng từng chữ một trong những đêm trăng sáng, như xác thịt bị rỉa dần dưới hoang mộ lạnh lẽo.

Ai dùng…
Ai lấy…
Thần linh ơi…

Người đàn ông thứ hai trong gia đình ấy biến mất không một dấu vết. Thỉnh thoảng, người ta thấy một người đàn bà có hai khuôn mặt, lúc già nhúm nhăn nheo, môi xám, mắt thâm, khi thì trẻ đẹp như cô gái đôi mươi, mắt đen láy hạt huyền, môi đỏ như ăn trầu, đi lang thang trong làng, miệng lẩm bẩm, lấp lửng câu được câu mất, rồi lại khóc tràn những đêm trăng sáng. Vách núi cũng thường vọng về những âm thanh lạ, dù chẳng có một ngôi chùa nào mới dựng lên. Những âm thanh ấy, nghe như lời kinh kệ vọng lại từ ngàn kiếp. Buổi sáng, giữa khu rừng mà chàng trai đã từng cắt lưỡi đem chôn, mặt trời vằn lên những tia lửa âm u đỏ rực xuyên chiếu cả một khoảng mênh mông bất định ở phía sau lưng dãy núi hình chữ S.
Làng V những năm sau này, không bao giờ tổ chức bất kì một lễ hội nào nữa.

 
 T.B.K


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu thuyết của Gabriel García Márquez

Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu...

Cuộc đời của Escobar là khối mâu thuẫn lớn, bởi sự đối lập giữa thiện - ác, thiên thần - ác quỷ, nhân từ - máu lạnh, do đó, hắn có sự hấp dẫn lớn đối với quần chúng hơn bất kì tên trùm tội phạm nào. (PHAN TUẤN ANH)

 
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ - nguyên mẫu và nỗi oan của một con người

Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ -...

Trong các tiểu thuyết của tôi, nhân vật chính hay phụ đều được xây dựng từ những chi tiết rất thực mà tôi tích lũy được. Thường thì, chỉ từ một chi tiết rất nhỏ, bất chợt gặp trong đời sống mà tôi hình dung ra tính cách của một con người. (XUÂN ĐỨC)

 
Lần đầu tiên một nhân vật tiểu thuyết có chức danh này

Lần đầu tiên một nhân vật tiểu...

Ai đọc cũng nhận ra tâm thế người viết là người trong cuộc, là xây dựng chứ đâu phải là người đứng ngoài chửi đổng cho sướng miệng. (Bài viết của NGUYỄN BẮC SƠN).

 
"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh ghép kí ức

"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh...

Là truyện ngắn viết bằng nỗi nhớ và kí ức nên hầu hết các nhân vật trong truyện đều được tôi nhào nặn từ các nguyên mẫu. Nhưng để có được một nhân vật hoàn chỉnh tôi đã “thuổng” của đồng đội mỗi người một vài nét ngoại hình, tính cách

 
Thực tế đời sống và nhân vật trong "Dòng sông phẳng lặng"

Thực tế đời sống và nhân vật trong...

Trong cuộc đời viết văn của mình, rất hiếm trường hợp tôi lấy nguyên mẫu ngoài đời để tạc nên nhân vật trong tác phẩm. Nhưng không có thực tế đời sống thì không thể làm nên các nhân vật đó. (Tô Nhuận VĨ)

Quảng cáo