Một tay thiện xạ

Thứ năm - 02/03/2017 00:10
tan van

. ĐỖ VĂN NHÂM

Quê mình, cây biết phận cây
Chắt chiu từng hạt đất gầy mà xanh!

Làng tôi dăm chục năm trước um tùm cây cối. Đất lành, chim chóc rủ rê hò hẹn nhau quần tụ, dựng vợ gả chồng, con đàn cháu đống, mỗi năm một đông. Chim… đẻ ra những tay thiện xạ, như anh tôi.

Anh là con bác tôi, hơn tôi cả chục tuổi, nên khi anh đã bách phát bách trúng, tôi mới tập... mặc quần, thảng hoặc được anh sai vặt, làm đạn. Đạn bằng đất sét hạng nhất, nạc và mịn, không lẫn bùn, sạn, đem phơi khô, đập vụn, rây đều, rưới nước, nhào thật kĩ như nhào bột bánh, xong thì vê tròn, đem phơi khô. Phơi gió, trong bóng râm, cùng với món tro bếp cũng được rây kĩ, nhào nặn trước đó, chống nứt nẻ. Mùa hanh khô độ ba bốn ngày đạn chín, lấy vỏ ốc nhồi đã mài thủng một lỗ, “doa” lại cho tròn, bấy giờ mới xuất xưởng. Đi, anh thường chỉ nhét túi dăm ba viên, gặp chim có thể bắn mới bắn, và chưa bao giờ anh về tay không. Bọn tôi, thằng Thứ và thằng Khương mê tít thò lò. Sau này lớn vào bộ đội, qua vài lửa, tôi cũng chỉ hai băng đạn tiểu liên AK47, chẵn 60 viên, thêm vài quả lựu đạn, nếu cần, dư sức đùng đoàng cả ngày.

Quê tôi xưa nhiều tre lắm. Tre, hè và thu, thường gắn với cò - cò trắng và cò lửa. Chim ngói tháng chín tháng mười ta - mùa lúa chín, cuối xuân đầu hè là thời của chim sáo. Những loài chim khác nhỏ hơn, chim sâu với bạc má chẳng hạn, anh tôi không thèm động đến. Mùa nào thức ấy, ngày nào cũng vậy, góc bếp nhà bác tôi tơi bời lông chim, mùi thịt chim thường trực thơm nức mũi, tôi háu ăn môi miệng ướt luôn luôn.

Nhân nói chuyện chim sáo, đã rất lâu ở quê tôi không thấy ai làm tổ nuôi sáo nữa. Làm tổ thế nào? Đan cài tre nứa gì đấy, hoặc mê rổ rá cũ thành một ống tròn chừng hai vòng gang tay, bọc manh chiếu, buộc lên cành cây cao, đầu bịt kín ở dưới, đầu nhỏ hơn để hở làm cửa, hướng lên trên. Cậu nào vớ được quả bầu khô to và dài, moi hết ruột, chích mấy lỗ thoát nước dưới đáy, làm tổ thì tuyệt. Nhanh thì từ sáng đến trưa, chậm, một hai ngày, một cặp vợ chồng nhà sáo sẽ đến nhập cư. Công cuộc tha rác làm buồng hạnh phúc cũng nhanh, ríu rít tất bật độ nửa ngày, tân lang tân nương nhà sáo đã chui vào, nằm tít mít trong đó. Sau này được đi nhiều nơi, tôi thường nhớ tới câu “nhảy chân sáo” khi nhìn những cặp vợ chồng mới cưới khấp khởi mỗi chiều, cái gì cũng nháy nhau - nhanh nhanh nhanh.

Cuối xuân đầu hạ làng tôi có hẳn một làng chim sáo ồn ã lưng chừng cây. Chim non sắp ra ràng bắt xuống, lột màng lưỡi, nhốt trong lồng, xơi cào cào châu chấu căng diều, vài ba tháng sau đã biết chào khách, gọi chủ, mời ăn cơm, uống nước. Quê tôi hồi đó, nhiều nhà có những cặp sáo đen như thế. Chim sáo là loài học nói tục rất nhanh, thầy dạy chúng còn ai khác ngoài lũ trẻ chăn trâu bò.

Sau mùa chim sáo năm ấy, anh tôi vứt cây súng cao su đi, tận lúc về già tịnh không nhắc tới nữa. Chuyện như sau: Một người bạn, là anh thằng Khương thử tài bắn súng của anh. Chuyện nhỏ. Cuộc thao diễn trong vườn chè, tổ sáo trên cây xoan, cành nghiêng về mái ngói nhà cụ Trương. Tất cả đã sẵn sàng, anh tru miệng huýt sáo gió. Pí piêu… pí piêu… Sau tiếng thứ ba, ả sáo mẹ dò ra khỏi tổ, nghiêng ngó; từ miệng anh, tiếng sáo cao vóng lên, rồi lắng xuống, vuốt dài ra, khắc khoải, xa vắng. Anh phẩy tay ra hiệu bảo anh em thằng Khương chuẩn bị nhặt chim. Anh giương súng. Sáo mẹ vẫn đứng đấy, dỏng tai. Đúng lúc anh bật tay, viên đạn đất vừa vút lên, thình lình một tiếng ho rõ to. Chim mẹ giật mình lùi lại. Viên đạn sượt vào cành xoan sát miệng tổ sáo, lệch hướng rơi xuống. Vẫn tiếng ho ấy, dài hơn, đục hơn. Rồi, ối ối ối... Rõ là tiếng người già. Chết cha, cụ Trương! Hôm ấy việc làng ngoài đình, cụ khăn đóng áo the vừa bước xuống sân, viên đạn đất trượt đỉnh đầu, xoáy vào búi tóc, nằm ở đấy. Oái oăm, ai bảo cụ ho đúng lúc ấy cơ chứ!

Viên đạn đất tròn xoe màu nâu đỏ như vậy, làng tôi, chỉ riêng anh có. Cụ Trương chống gậy lên nhà bác tôi. Bị mắng tơi bời, lại bực vì thua cuộc, anh tung một cú đá, hơn trăm viên đạn đất cực đẹp còn lại, cả cây súng hình chữ y vàng óng, bay tất xuống ao.
Nhưng tôi đã kịp học được từ anh mấy trò!
*
*    *
Lại nói, anh tôi cáu, đá bay cây súng cao su xuống ao, tôi ngồi khóc cả buổi. Chưa hết cơn buồn, cơm tối xong tôi lần ra bờ ao, ở đấy có một cây sung, cây sung nhà bác tôi to lắm, cành lá trùm kín nửa ao, một năm mấy lứa, nếu trẩy dồn lại phải đầy chục thúng quả; lưng chừng cây, đoạn chạc ba có chỗ hõm vào, thành một cái ghế tuyệt mĩ, tôi thường ngồi đọc truyện và lẩm nhẩm những bài học thuộc lòng ở đấy. Đêm xuống, ao chuôm vùng đất đồng chiêm, đom đóm nhiều vô kể, đám bay búa xua, chập chờn, qua vườn, vào sân, lẻn vào cả trong nhà; đám tụ lại, nhí nháy sáng dưới ao bèo. Đêm ấy, tôi hết nhìn trời sao, lại nhìn đám đom đóm, nhìn là nhìn vậy thôi, buồn rười rượi, bụng dạ chỉ nghĩ đến cây súng và thiếp đi lúc nào không hay. Rồi chính lũ đom đóm, cái bọn ma trơi lếu láo ấy, vô tình giúp tôi tìm được báu vật.
Quãng độ nửa đêm, có thể sớm hơn, một lúc nào đấy, họ hàng nhà đom đóm, chừng đã chán mọi ngõ ngách, bờ bụi, tụ lại quanh tôi, chui vào tóc, bò lên mặt; sau cùng một tên xộc vào lỗ mũi. Tỉnh hẳn, thấy ngứa ngáy toàn thân, tay huơ chân đập, tôi đứng lên, và trượt khỏi cái hõm, “ùm” một tiếng. May, một thằng nhóc nhà quê đồng nước, chả được ngoan cho lắm, chúa thằn lằn mọi trò lặn ngụp ao hồ, thêm nữa, nước ao quãng ấy, gần bến rửa, chỉ ngang cằm, sau cú giật mình, tôi hí hóp bơi vào. Chợt thấy vương vướng ở chân, thằng bé ngụp xuống, trời ạ, cái gì đây!
Trưa, khi anh tôi cáu sườn, co giò phóng một cú song phi, tôi thậm chí còn khoái, mắt mũi hút vào đám bụi đất bị xoáy lốc lên, sau mới biết cây súng đã bay mất tiêu. Giờ thì nó đây, cha cha cha, dưới bùn. Cây súng của anh tôi. Cây súng của tôi.

Gỡ bèo, tống cổ lũ đom đóm khỏi tóc khỏi áo, tắm táp qua loa, tôi lẻn về nhà, cổ quàng dây súng, rón rén chui vào một góc chái, cạnh chỗ đặt chiếc cối xay lúa. Thỉnh thoảng tôi lại vuốt vuốt thân súng, nó vốn là sừng trâu, không phải của một gã trâu tầm thường, mà là đệ nhất hùng ngưu trong một cuộc tỉ thí ở Đồ Sơn, bác tôi mua được, kì cạch làm cho anh tôi. Nó đen bóng, là nói cái thân súng ấy, tôi sướng âm ỉ, rạng sáng mới ngủ được. Với khẩu súng cao su - dàn hỏa tiễn hai dây trứ danh, tôi tung hoành khắp các ngõ ngách, vườn tược trong làng, hứng chí thì... xuất ngoại, lên Hồ Liên.
Làng Hồ Liên chả xa lạ gì, cách làng tôi ba đỗi ruộng, năm lớp hai và lớp ba, tôi học ở đấy. Bạn học thuở ấy nhiều, trẻ con hai làng chung một lớp. Sáng học, chiều chăn trâu cắt cỏ. Một số đi hót phân, tôi và thằng Thứ thằng Khương thuộc nhóm này. Trâu bò thời hợp tác xã không nhiều như bây giờ, đương nhiên phân cũng ít. Tôi lắm khi vừa đi kiếm phân vừa chúi mắt vào sách. Những cuốn sách đi mượn hay kinh khủng, không nhịn đọc được, thành ra có bao nhiêu phân trâu bò vãi ra bờ bãi, thằng Khương thằng Thứ bốc hót hết. Về không mấy lần, bị chi đội kiểm điểm, tôi nghĩ ra một mẹo. Súng cao su quàng cổ, những quả sung cắm lông gà dắt lưng, quang gánh quẩy trên vai, tay giữ đòn gánh tay cầm sách. Của tao, của tao! Hai thằng chúng nó đấy, xướng rõ to để xí phần bãi phân trâu bò ở đâu đó, miệng hô chân bước. Mặc, tôi nhét vội sách vào áo, giương súng, viên đạn sung bay nhanh hơn chân trẻ con chạy, mười lần tôi thắng tới tám, chín. Thua to, thằng Khương thằng Thứ bèn dàn hòa, ba thằng cùng đi cùng được bằng nhau, tôi chỉ một việc đọc sách hoặc kể lại cho chúng nghe.

Chuyện đã xa tít mù khơi, bữa trước gặp lại tôi nhắc, một lúc lâu lão Thứ mới nhớ ra. Hồi choảng nhau ở trảng Ba Chân, đầu nguồn sông Vàm Cỏ Đông, một viên đạn M16 sớt mất mảnh xương trán, tưởng chết, Thứ thành thương binh sọ não, quên nhiều hơn nhớ. Một đêm chợt tỉnh, thấy nóng sực bên sườn, ngực nặng, chân tay nặng, như bị bóng đè, thì ra có một người nằm bên cạnh, định giở trò gì đấy. Lão cáu, toan đuổi ra. Người ấy, một người đàn bà, vợ lão chứ ai, bò dậy cài then cửa, châm đèn, cởi nốt váy áo. Em đây, em đây mà! Lão Thứ nhòm, mắt sáng trưng lên. Lão đã nhớ ra, lão thì thào... Chuyện, là do rượu kể, bạn lính mà, chả biết thực hư đến đâu. Bạn học tôi vậy đó, nhiều người thành liệt sĩ, như Khương - hi sinh ở bãi cát Cửa Việt sau một cuộc đọ lê. Số trở về đều đã bạc tóc, thi thoảng gặp nhau, tay bắt miệng hỏi, khỏe chứ, khỏe chứ. Ờ, ờ, khỏe. Chả khỏe cũng ừ ừ, cho vui người vui mình. Có lão xơi nhiều hơi bom thời chiến tranh, giờ có tuổi đâm lãng tai, nói chuyện gì cũng gật gật, cười cười.
*
*    *
Địa thế đền và chùa Hồ Liên giống làng tôi, đất đai liền kề, đền phía trước, chùa chếch phía sau, đầm sen chạy dọc ngăn cách với đồng lúa. Hồi học trong đền, giữa bảy gian đại bái, tôi một mắt một tai hướng lên bảng, “hai tên” còn lại hóng qua khe cửa. Phía ấy là sân, tiếp liền là vườn, cây nọ xòa sang cây kia; ở góc trái sát bờ ao có năm cây ổi đào, món khoái khẩu của tôi. Sau này đọc Thương nhớ mười hai của cụ Vũ Bằng, bụng nghĩ, chắc hẳn nhà văn chưa được về đây. Tôi ấy ư, tôi đã nhìn ngắm và, qua khe cửa, gió thường vẫn gửi tặng tôi hương vị thanh mát của ổi đào đúng vụ, cũng là một món thời trân vậy.

Giờ giải lao, tôi bao giờ cũng lẻn vào vườn trước tiên, vài quả ổi cho mình, và rất nhanh nhét một hai quả vào ống tay áo phần quà cho hai em gái.
Vài năm sau lớp học đóng cửa, trả mấy gian đại bái cho làng, thỉnh thoảng tôi vẫn lên Hồ Liên, trước sân đền có cây muỗm cổ thụ, nay vẫn còn đó, lừng lững dường như chẳng chịu già đi, xanh quanh năm. Dưới gốc cây rất tĩnh, thảm lá rụng dày và sạch, tôi có thể đọc sách. Mùa ổi, đôi khi tôi cũng vào chùa, đi lối tam quan, khoanh tay thưa, cháu là... tôi xưng tên thầy tôi. Nhà chùa hơi cúi xuống. Mô Phật. Ra là cháu cụ Từ dưới Cựu Hà. Nhà chùa cúi hẳn xuống. Nhà chùa, u tôi thường gọi sư trụ trì như thế, một thích nữ người rất cao, tôi đứng chỉ ngang lưng. Vâng, cụ Cao cúi xuống, nhắc lại, cháu cụ Từ đấy ư, ra dáng lắm rồi. Tôi bước qua sân, sách cầm tay, súng cao su trong ngực, tôi tiến ra bờ ao. Chào nhé, ổi hồng đào của ta. Đôi khi tôi ôn luyện tài bắn súng cao su, nhằm vào chùm ổi tít trên cao, trò này tôi vốn học từ anh tôi. Khi về, tôi vẫn theo lối tam quan. Những khi nhà chùa bận lễ lạt hay đi vắng, tôi đứng giữa sân, khoanh tay, khẽ cúi đầu, lùi vài bước mới xây lưng đi ra.

Học lên cấp hai, rồi cấp ba, tôi đều đi qua lối bên hông chùa Hồ Liên, dọc đầm sen, ngược lên Hổ Sơn - Vân Bảng, điền trang xưa của Huyền Trang công chúa ở đấy. Ngang qua vườn chùa, thoáng thấy bóng áo nâu sồng cao cao, tôi đi chậm lại, hơi cúi đầu, nhà chùa chắp tay, chào lại. Cứ thế dăm bảy năm, một buổi chiều tháng tư năm 1970, tôi chào cụ, vẫn theo cách ấy, nhưng không còn là cậu học trò nữa, tôi khoác ba lô đi chiến trường cùng nhiều người khác. Tôi dừng lại lâu hơn, cụ Cao khẽ cúi đầu cũng chắp tay lâu hơn.

Khi đã tạnh bom đạn, một lần về quê, tôi chợt nhận ra, lâu lắm, có dễ đến dăm năm tôi không được gặp cụ Cao. Cụ viên tịch rồi, hồi anh ở trong Nam vác súng ra mạn Hà Giang, u tôi nói. Giờ thì u tôi cũng đã đi xa, theo thầy tôi. Khẩu súng cao su cũng không còn, học lên cấp ba, tôi gài vào mái hiên, hồi tôi ở chiến trường nhà bị bão, nó thất lạc trong đống đổ nát.

Rời quân ngũ, tôi về quê. Chiều, thường tản bộ hóng gió, nhìn ngắm quê mình. Làng đang xanh thêm, cả trong vườn và ngoài đồng, chim chóc đông hơn, gần như ngày xưa. Bọn trẻ thì khác, chúng không phải chăn trâu cắt cỏ, cũng không chơi những trò như bọn tôi thuở trước. Từ đầu làng tôi nhìn lên, vượt qua ba đỗi ruộng, đền và chùa Hồ Liên vẫn đó, khuất sau um tùm xanh, vời vợi cây muỗm cổ thụ. Ráng chiều đổ xuống chan hòa. Già, đôi lúc lẩn thẩn, ước còn cây súng cao su, trẩy quả sung làm đạn gắn lông gà ngũ sắc, vươn tay gửi vào trời xanh một nhịp cầu vồng.
 Đ.V.N

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 16 trong 5 đánh giá
Xếp hạng: 3.2 - 5 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

 
Nhân vật Anna Karenina và sự soi chiếu từ nguyên mẫu đời thực

Nhân vật Anna Karenina và sự soi...

Lev Tolstoy - “con sư tử” của văn học Nga thế kỉ XIX - đã tạo ra những tác phẩm vĩ đại từ chất liệu tươi ròng của đời sống. Mỗi nhân vật được ông khắc họa luôn trở thành những điển hình nghệ thuật bất diệt, có tác động sâu đậm đến mọi tầng lớp xã hội. (NGUYỄN THỊ HỒNG​ HOA)

 
Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu thuyết của Gabriel García Márquez

Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu...

Cuộc đời của Escobar là khối mâu thuẫn lớn, bởi sự đối lập giữa thiện - ác, thiên thần - ác quỷ, nhân từ - máu lạnh, do đó, hắn có sự hấp dẫn lớn đối với quần chúng hơn bất kì tên trùm tội phạm nào. (PHAN TUẤN ANH)

 
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ - nguyên mẫu và nỗi oan của một con người

Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ -...

Trong các tiểu thuyết của tôi, nhân vật chính hay phụ đều được xây dựng từ những chi tiết rất thực mà tôi tích lũy được. Thường thì, chỉ từ một chi tiết rất nhỏ, bất chợt gặp trong đời sống mà tôi hình dung ra tính cách của một con người. (XUÂN ĐỨC)

Quảng cáo