Năm phút và hai tích tắc

Thứ hai - 30/01/2017 00:08
. ĐỖ VĂN NHÂM

Rét ngọt. Tết nhất đến nơi rồi, việc gì cũng vội, người ta than vãn với nhau như thế. Phù, hắn vội cả đời. Chia tay với bạn gái cũng vội. Chiều tối một ngày cuối năm, trên đoạn nối hai toa xe lửa chật ních người và hàng hóa, hắn ôm ba lô thu mình lại. Gió bấc tơi bời. Đoàn tàu hú báo hiệu chuẩn bị khởi hành, hắn chợt nghe tiếng gọi.Tiếng gọi tưởng bị sự huyên náo ồn ã sân ga nuốt đi, chỉ có thể là toàn bộ tinh lực, độ bén nhạy tuổi mười chín như một ăng ten siêu việt mới nhận thấy. Bay qua thanh chắn ngang, ngã dúi dụi, bật dậy ngay được sau đó, hắn lao tiếp. Giữa rừng người, thoáng một con lốc nhỏ màu xám bạc ngược chiều cuốn tới. Không dám mong, nhưng nàng đã ở đây, gương mặt trắng xanh. Quẳng ba lô, hắn ôm chặt lấy nàng, bế xốc lên. Một tích tắc thôi, hắn và nàng rời tay. Đã là ai của nhau đâu. Bạn cùng bàn một lần thi, lớp mười dở dang, hắn cầm súng, ăn vài mảnh gang trong một chiến dịch ngắn, nàng vào đại học, năm đầu. Ba ngày nghỉ ở quê ngắn như một lần chép miệng thở dài, hắn kịp đạp xe gần hai chục cây số ghé vào căn nhà ấy. Câu chuyện với mẹ nàng chừng mười phút, chàng lính trẻ cáo từ. Ra ngõ gặp cây phượng vĩ, hắn nhặt mảnh thủy tinh, vạch vào thân cây một dòng chữ. Đấy là chuyện chiều hôm trước. Hôm nay, về đến nhà, nàng vọt qua rào theo lối tắt phóng ra ga. “Ô tô đến Phủ Lý thì cháy máy - nàng kể - Bình thấy nóng ruột quá, bèn lấy xe đạp”  “Ba mươi cây số cơ đấy.” Hắn nói trong tiếng gió hú, tiếng sắt thép nghiến vào nhau. Đoàn tàu đã chuyển bánh, hắn xốc ba lô lên, chợt thấy đôi vai bị níu xuống, ghì chặt. Đấy là nàng. Lần đầu, hai gương mặt áp vào nhau. Chỉ một tích tắc, hắn khẽ đẩy nàng ra. Cả hai dắt tay nhau, chạy. Gần chạm cột bẻ ghi, hắn vọt lên được toa cuối, một gói nhỏ bay theo. Nàng, dưới sân ga, vời vợi ngước lên, chân trần bật máu, đôi dép bay mất trong cuộc đua tốc hành cùng sắt thép. Chốc lát sau không còn nhìn thấy gì nữa. Thêm một ngày đường, hắn nhập đơn vị đúng hẹn. Đêm hôm sau, cả trung đoàn lên xe đi về phương Nam. Hành quân và súng nổ, cứ thế chồng chất lên nhau, đầy ắp tuổi hai mươi. Rảnh rang một chút, hắn hí húi ghi chép. Ngày một dòng, ngày năm ba dòng, có ngày chỉ một dấu hỏi, một dấu chấm than. Rất nhiều ngày bỏ trống. Cuốn sổ nhỏ của nàng, ba cây bút bi của nàng. Khi hắn đã treo mình vào thành toa cuối cùng, nàng mới nhận ra quà tặng người đi xa còn nằm trong tay. Trong gió, trong bóng chiều nhập nhoạng lất phất mưa phùn, cuộc trao nhận thật hoàn mĩ. Nhưng chứng nhân mối tình học trò không cùng hắn đi hết một chặng đường. Đêm vượt sông ấy không mưa, trời tạnh từ chiều, mở đầu một mùa khô đầy tiếng nổ. Tiểu đội qua gần hết, hắn nán lại ven bờ chờ người cuối cùng. Thình lình một cơn sóng, đúng lúc chân hắn bị chuột rút. Người và súng được cứu, cái bòng nhỏ bị cuốn vào sóng Pô Cô. Cuốn sổ của nàng, trang bìa nàng nắn nót hai chữ cái, tên hắn và tên nàng, hai cây bút bi của nàng, những dòng chữ màu tím thẫm dừng lại. Giáp tết năm đó hắn phải nằm viện, một vết trung thương và sốt rét. Đêm, cơn nóng lạnh dịu hẳn, hắn rời hầm. Phía thị xã Pleiku bất thần hực sáng. Súng con đì đọt rồi bùng rộ khắp nơi. Ở cả trong rừng, đồng đội của hắn, vài tay bạt mạng và lõi đời chọn đạn vạch đường, lẻn thật xa hậu cứ, hồi hộp và khoái chí nháy cò. Một vòng cung lửa vút vào đêm. Lời chào mừng năm mới của lính trận sáng lấp lóa. Hắn đã một lần chào đón giao thừa như thế, hồi chiến dịch Đường 9 Nam Lào. Lúc đó hắn mười tám tuổi rưỡi. Giờ, hắn hai mươi mốt, nằm bẹp trong viện. Đêm vắng câm, hắn lần mò mắc võng. Rừng, những ngày đã rất xa ấy, cây cối đua nhau vút lên mấy tầng cành lá. Thật cao, tận đỉnh rừng, hiển lộ vài mảnh trời xám bạc. Màu áo khoác của Bình, trên sân ga Nam Định, ngày chia tay.

 
cham tay
*
*    *
 Đêm giao thừa ở quê, hắn thường cùng cậu em, con người chú ruột theo ông nội ra đền. Đền thờ một vị tướng, tương truyền vâng lệnh vua, về Cự Hà quê hắn tuyển quân. Đạo nông binh được rèn giũa tại đất đồng chiêm, một ngày tháng tám, hạ thuyền xuống hồ, nhập dòng Vĩnh Giang, ngược sông Đào. Đi mãi. Giặc tan, chỉ năm trai tráng trở về. Đúng giao thừa, khi hồi chuông dài vừa dứt, cụ thủ từ, là ông nội hắn khăn đóng áo the thực hành nghi lễ cúng trời đất, tưởng nhớ các bậc tiền nhân, cầu phúc cho dân làng. Một khắc trước tiếng chuông đầu, trong nội điện tuyệt nhiên chỉ một mình cụ thủ từ. Hắn từng lẻn vào trong ấy. Nép sau cây cột lim to, dưới gầm bàn thờ đại lễ, giữa tiếng pháo nổ rộ bốn bề hắn dỏng tai, hếch mắt lên ông nội. Bản tế văn trước mặt, ông nội lầm rầm khấn vái, thỉnh thoảng ngắt quãng bởi tiếng sít gió rất nhỏ. Như hắn tập làm văn, đến đó là dấu chấm câu. Ông nội ba lần lật tế văn, lật làm phép thôi, hắn biết chắc như thế, ông nội vốn thuộc làu. Ba trang, bản văn tế rõ ràng không dài, hắn chẳng hiểu gì, chẳng nhớ được gì. À, trừ câu này…“Nhất thanh khởi xứ thiên uy chấn”. Mười năm sau, một đêm trừ tịch dưới chiến hào, hắn chợt nhớ câu này, đó là một vế đối tụng ca công nghiệp một đoàn quân. Lễ tất, cụ thủ từ đi lùi, qua ngưỡng cửa cao mới khẽ xây lưng, bước ra thềm phát lộc. Lộc được chuẩn bị sẵn. Thóc giống tốt, gặt từ ruộng hương điền bọc lá chuối khô, từng lẻ một đặt trong thúng quả chuông sơn son thếp vàng. Cây giống, đa phần là giống hoa, cây ăn quả mua từ chợ Viềng Xuân hồi đầu tháng Giêng, ông nội gây trong hương viên, chuyên tưới tắm bằng nước giếng làng. Lộc cành - đào, mai, dây vạn niên thanh… bày trong chậu, trong bình gốm cũ, đặt dưới tam cấp. Những bậc cao niên và trẻ nhỏ ra đền dâng hương, ông mừng tuổi, phong bao nhỏ xíu màu đỏ, thường khi chỉ một hai xu. Xong việc lễ lạt, hắn đi trước, dâng cây đèn dầu ngang ngực. Đèn bàn thờ gia tiên, mẹ đổ dầu thay bấc từ chiều. Ông nội cung kính dâng lễ, một đồng tiền mới, châm lửa từ ngọn hoa đăng lớn trong chính điện, thắp vào đèn thờ của gia đình. Ông nội và cậu em đi sau một chút, ông một nhành lộc trên tay, cậu em lễ mễ lọ nước kín ở giếng làng. Giếng bán nguyệt vỉa gạch, bảy bậc đá cả thảy, bắc một nhịp lim dài làm cầu, nước trong quanh năm, thoáng vị chua, hợp duyên với trà xanh. Lắm khi ông nội hành lễ giao thừa, hắn vọt ra sân. Ai đó đã bơi thuyền chở hoa đăng ra đảo giữa hồ, châm lửa. Sông nước làng Cự Hà, nơi từng mấy đời luyện quân đánh giặc, hừng sáng. Ngoài gian đại bái trước cửa đền đặt bàn phát lộc chữ. Giấy hồng điều, giấy dó, nghiên mực, ống bút lông phải bày trên hương án cúng thành hoàng xong mới được đem ra. Làng thuở ấy may mắn còn ba thầy đồ tốt chữ. Bàn phát lộc chữ đông khách đến hết trưa Nguyên đán. Họa hoằn ông nội mới cầu lộc chữ. Chữ, bậc cao minh mới làm ra được, đọc thủng giấy chắc gì đã thấu hiểu hết ý, làm được, hưởng được lộc càng khó, đâu dám xin bừa. Là ông nội bảo vậy. Ông vốn học chữ nho, viết đẹp, đến độ tuổi cao, tay bút không giữ được nét phóng khoáng và độ khiêm nhu nữa nên phải cậy thầy. Tết ấy, ông xin chữ “An”. Làng xóm thì thầm chuyện súng ống từ lâu, mấy tráng đinh ra đi, như bọn hắn sau này, chỉ một người trở về, là thầy giáo lớp một, mất tay thuận viết chữ, luyện học trò. Lại nói, ông nội xin chữ “An”, không phải một lần như hắn nhớ. Ba lần, chữ nghĩa thánh hiền đã rêu phong cả. Súng phương Nam càng rộ, lan ra ngoài khơi, hắt tới mạn Hàm Rồng, Thanh Hóa. Hai thằng cháu nội, kẻ trước người sau, học dở cấp 3 thì nhập ngũ. Cậu em, buồn cười thật, lúc nào cũng tươi như con gái mới cưới được chồng giỏi, giờ lính đặc công, nghe nói đang ở Rừng Sác. Hắn hai cuộc đi B, một ngắn một dài, hiện đang ùng oàng ở Tây Nguyên. Chiều ba mươi tết, trận địa chốt chặn kịch chiến nhiều ngày bỗng yên ắng lạ thường. Hắn mở bòng, lấy giấy bút. Bút, cây thứ ba, món quà cuối cùng Bình tặng không bị trôi sông, hắn còn giữ được. Giấy, một tập lem nhem. Thoạt nhìn không ai biết là những tờ truyền đơn đối phương thả xuống đầy rừng. Hắn nhặt, đọc, lúc thở dài, lúc cười khơ khơ. Đọc truyền đơn địch là một tội to. Anh Sáu chính trị viên thường “quán triệt” chung như thế. Bọn lính tráng đã thui qua mấy lửa như hắn vẫn nghe, và làm theo cách của mình. Truyền đơn ích lợi ra trò. Nhóm bếp, làm khăn lau, vê tròn nhét vào nòng súng chống bụi, cả việc không tiện nói ra. Hắn “xử” truyền đơn như mọi người. Riêng chọn những tờ sáng màu, ngâm nước, hong khô. Hắn viết vào đấy. Đủ thứ. Chiều ấy, ghi chép tên tuổi quê quán năm đồng đội mới ngã xuống trong cuộc cận chiến hôm qua, hắn thừ người. Chiều ba mươi, chẳng mấy chốc là giao thừa. Vụ chui gậm bàn nghe ông nội cúng bái đã mười năm. “Nhất thanh khởi xứ thiên uy chấn”, sực nhớ câu văn nghe lỏm được, hắn chép ra giấy và như thuận tay, hắn viết tiếp: “Một tiếng khởi phát từ vùng đất này uy dũng chấn động cả trời cao”. Bản tế văn của ông nội trích câu ấy, một vế đối tụng ca đoàn nghĩa binh đất Cự Hà. Tết này ông nội tròn tám mươi. Theo tục lệ, dòng họ sẽ tặng quà, một bức tranh gỗ màu đỏ au, chữ Thọ khảm màu vàng. Sáng mồng Hai, khởi từ đền thành hoàng, đội lân vũ diễu đi, pháo nổ một chặp, trống rước điểm đều ngoài ngõ, vào sân sư tử uốn lượn bảy vòng, lần cuối dừng trước gian giữa, cung bái gia tiên, chúc thọ bậc cao niên; trước đó nửa khắc, chiêng trống ngưng một nhịp, rồi dồn lên cao trào. Ông nội khăn mới áo mới đứng chếch bên cửa đại, khẽ cúi mình đáp lễ, nói lời chúc mừng. Phong bao mừng tuổi đội lân vũ mẹ đã lo sẵn, ông nội trao cho chàng trai múa rồng. Là hắn mường tượng vậy, theo lệ ngày xưa, tết này chắc gì được vậy. “Sang năm mới ông nội tám mươi, mẹ năm mươi lăm. Ở nhà đang luộc bánh…”, hắn viết đến đấy thì dừng. Chợt nổ bùng ở phía sau. Một tiếng đơn độc. Nhá nhem tối, chừng này anh nuôi thường đưa cơm lên. Đúng như thế, tổ anh nuôi ba người, ba tay súng già giơ phát hiện mìn cài ven lối đi, bảo nhau lùi vào một gốc cây giật dây bẫy. Hắn vừa nghe chuyện vừa nhấm nháp bi đông nước mới được tiếp. Chà, tết nhất có khác. Không phải nước suối đun sôi kinh niên mà là nước trà, dù nhạt và nguội ngắt. Thình lình tiếng đầu nòng đại bác. Rồi trái phá nổ, thưa và xa. Mọi người tản ra. Đêm sầm sập xuống. Hắn không bao giờ quên bữa cơm tất niên năm đó. Pháo vẫn túc tắc nổ, nhưng người xạ kích có lẽ không định nhằm vào trận địa. Là anh Sáu chính trị viên nhận định như thế và quyết định, chỉ huy đại đội còn ba người, chia nhau xuống ăn cơm với ba trung đội. Tuần trước, lúc mới lên đóng chốt, đại đội năm mươi bảy người nay đã vơi quá nửa. Trung đội hắn năm thằng lính cũ, hai gã tò te - bảy người cả thảy, anh Sáu nữa là tám. Hai trung đội khác cũng không hơn gì. Tám người chọn một ngã ba chiến hào, cơm vắt phần ai nấy thủ sẵn. Anh Sáu đứng giữa tựa lưng vào vách đất, tay xách hai hộp hăng gô. “Thịt bò ở đây, thịt lợn ở đây”, anh Sáu nói, “Tôi gọi đến ai, hãy chìa bát… à, bom thổi bay hết bát rồi nhỉ. Chìa tay vậy, trước mặt tôi”. Được hai vòng suôn sẻ. Vòng thứ ba, tên hắn vừa xướng, lại tiếng đầu nòng đại bác, lần này tròn và ấm, đạn cắt gió sắc lạnh, chớp lửa dưới lưng đồi. Rất gần. Quân tướng phải tản ra, anh Sáu chia phần thức ăn còn lại đến từng hầm. Xong, anh quay lại chỗ hắn. “Tập truyền đơn… tớ biết cậu dùng làm gì, nhưng cái nào còn rõ chữ, hủy ngay”. Anh nói, giọng lập nghiêm như khi cần phải vậy thường ngày. “Hiểu không”, anh nói tiếp, ôm lấy bờ vai hắn, siết chặt. Hai giờ sau đó, lính tráng nhận một bất ngờ thú vị. Ba bánh chưng, nửa bao thuốc lá Thủ đô hậu cần ưu tiên cho đơn vị ở phía trước. Đại đội trưởng phô một bi đông đầy ắp rượu cần. À, quà của trung đội du kích xã Ia Đrăng bữa nọ đại đội trưởng ghé qua. Anh Sáu nhắc, mỗi người chỉ được một nắp bi đông thôi đấy. Vâng, một lít rượu cần chia đều cho hai mươi lăm người, vừa vặn ướt môi, không đủ để say. Bữa tiệc đón giao thừa của lính trận năm đó quả thực chẳng đến nỗi nào. Hắn lấy bút, viết “GT 1973. Chốt. An toàn!”. Giao thừa sắp tới hắn đón ở quê. Ông bà nội và cha đã người cõi khác. Một ngày trung tuần tháng Chạp, sau khi cởi áo hạ sao, hắn ra thành phố, rẽ ngõ Văn Chương. Ở đấy có tiệm bán hàng phục cổ, mua quà mừng mẹ thượng thọ tuổi chín mươi. Một tấm áo dài, mũ cùng màu đỏ điều, họa tiết điểm chữ “Thọ” nhũ vàng, vài món lặt vặt khác. Xong xuôi đi lòng vòng. Ga xe lửa vẫn chỗ cũ, từ đấy lượn một cung đường, ba lần rẽ trái. Phố đã phố mới, nơi căn nhà xưa giờ là chung cư cao tầng. Một lối vào, việc đền bù giải phóng mặt bằng trục trặc, ngõ cũ gần như nguyên vẹn. Cây phượng vĩ ngày ấy chừng bốn gang tay. “B!!! Mai mình lên tàu. Lần này đi rất xa. N”, hắn viết lên thân cây như thế. Lời nhắn, hắn thừa biết, bị mờ đi đã rất lâu rồi. Bốn mươi năm chứ ít ỏi gì, cây phượng chưa chịu già, to lớn đẫy hai vòng ôm. Xế bên rào, trong vườn, lởm chởm bê tông, gạch vụn, dấu vết cuộc san ủi dở dang, cây đào phai bật nửa gốc, phần thân đổ nghiêng ra gần lối đi, gắng gượng trổ mấy xanh non. Thành phố phương Nam, nơi nàng định cư, quanh năm lộng nắng, mai vàng cữ này chắc đã trổ bông. Nhân duyên thời chiến lỡ nhịp như hắn và nàng nhiều lắm. Cuộc chia tay trên sân ga trở thành mãi mãi. Chẳng ai hò hẹn. Hắn cũng không định kiếm tìm, chỉ là trở lại một chút cho yên ắng lòng mình. Lần đầu biết nhau cũng lạ, hơi trẻ con. Hắn và nàng, người lớp A người lớp B cùng khối, cùng thi gà nòi, người ta xếp chung phòng, văn toán kề nhau, một bàn. Bài thơ cần bình về một cuộc dấy nghĩa hưng binh, câu chữ hàm súc, tính biểu tượng cao, vượt trên thế sự đương thời. Bắt được mạch, hắn cắm cúi viết, một lúc thật lâu mới nhận ra đùi nàng ép vào đùi mình. Thoáng ngỡ ngàng qua nhanh, hắn trở lại với bài thơ, đầy phấn khích. Lúc giám thị báo còn mười phút nữa hết giờ, hắn viết nốt câu cuối, hạ dấu chấm thật đậm theo thói quen. Lật trang đầu định đọc lại thì nghe, “Bạn kiệm chữ nhỉ. Văn rất đằm. Không một lỗi nào. Chẳng cần đọc lại đâu”. Ra khỏi phòng, cùng đi một đoạn dưới lũy tre. Về nhé! Ừ, về nhé! Rồi ai theo ngả ấy. Sau kì nghỉ hè nàng xin về lớp A. Buổi đầu lớp mười, nàng bảo: “Bữa đó toán khó, mình chỉ làm được một bài. Còn thì… đọc văn”. Ôi lớp mười, hắn chỉ được học một tháng rưỡi. Cuộc lên đường sau đó rất vội. Tất cả chỉ có vậy, và buổi chiều muộn sân ga. Hắn và nàng hôn nhau, trong vòng ôm thứ hai, một cơn chớp giật, bắt đầu từ nàng. Khuôn mặt trắng xanh thoắt ửng lên, đôi môi mềm, ẩm, nóng rực. Năm phút, có lẽ vậy, từ khi cầm chắc bóng áo màu xám bạc ấy là nàng, đến lúc hắn bay lên, bám vào được thành tàu toa cuối cùng. Hai lần hút chặt vào nhau trong tích tắc, lần đầu hắn biết mùi hương con gái, không rõ thơm thảo riêng biệt của loài hoa nào, chẳng lẽ sắc hương trên khắp thế gian này cùng lúc hội tụ, gặp duyên thì chung sức tấu lên. Giao thừa luyến ái cõi nhân sinh hắn vừa chạm tới, năm phút và hai tích tắc thoáng qua, như có như không mà thấm vào đời nhau dài lâu như vậy sao!.

Đ.V.N

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 12 trong 4 đánh giá
Xếp hạng: 3 - 4 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

 
Nhân vật Anna Karenina và sự soi chiếu từ nguyên mẫu đời thực

Nhân vật Anna Karenina và sự soi...

Lev Tolstoy - “con sư tử” của văn học Nga thế kỉ XIX - đã tạo ra những tác phẩm vĩ đại từ chất liệu tươi ròng của đời sống. Mỗi nhân vật được ông khắc họa luôn trở thành những điển hình nghệ thuật bất diệt, có tác động sâu đậm đến mọi tầng lớp xã hội. (NGUYỄN THỊ HỒNG​ HOA)

 
Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu thuyết của Gabriel García Márquez

Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu...

Cuộc đời của Escobar là khối mâu thuẫn lớn, bởi sự đối lập giữa thiện - ác, thiên thần - ác quỷ, nhân từ - máu lạnh, do đó, hắn có sự hấp dẫn lớn đối với quần chúng hơn bất kì tên trùm tội phạm nào. (PHAN TUẤN ANH)

 
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ - nguyên mẫu và nỗi oan của một con người

Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ -...

Trong các tiểu thuyết của tôi, nhân vật chính hay phụ đều được xây dựng từ những chi tiết rất thực mà tôi tích lũy được. Thường thì, chỉ từ một chi tiết rất nhỏ, bất chợt gặp trong đời sống mà tôi hình dung ra tính cách của một con người. (XUÂN ĐỨC)

Quảng cáo