Những mảnh kí ức thắp lửa

Thứ hai - 06/03/2017 12:56
. NGUYỄN HỮU QUÝ

Với những người lính, kí ức tháng năm quân ngũ luôn là kho tài sản tinh thần vô giá. Đặc biệt, những người đã từng qua những năm tháng chiến tranh ác liệt, cùng đồng đội nếm mật nằm gai trong lằn ranh sinh tử thì giá trị ấy càng được nâng lên gấp vạn lần. Khi tôi bộc bạch điều này với Trung tướng Phùng Khắc Đăng nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, hiện nay đang giữ chức Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam thì nhận được sự đồng cảm của ông. “Kí ức chiến tranh là phần đậm nét nhất trong nỗi nhớ của mình”. Ông khẽ khàng. “Thế thì vì sao, em chưa từng nghe anh hồi ức về đời binh nghiệp của mình kể cả lần các nhà văn Văn nghệ Quân đội về nhà anh?”. Ông cười. “Mình có nhiều chuyện lính. Chưa kể, chưa viết thôi”

 Xin được nói rõ điều này một chút, thời Trung tướng Phùng Khắc Đăng giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ông được phân công theo dõi, chỉ đạo công tác văn hóa văn nghệ, nên rất gần gũi với các nhà văn mang áo lính và thường ra thăm, trò chuyện với các nhà văn ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Tôi nhớ có lần, hình như là ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, ông cũng ra thăm vừa đúng dịp mới được thăng quân hàm trung tướng. Đại tá nhà văn Chu Lai, vốn là một đại đội trưởng đặc công từng bám trụ chiến đấu ở Rừng Sác ven Sài Gòn thời chống Mĩ nhìn chằm chằm vào ve áo của ông cười nói đùa: “Ông Đăng, quân hàm của ông sáng chói chẳng bù cho quân hàm đại tá của tôi, hoen rỉ hết rồi”. Biết tác giả của Ăn mày dĩ vãng, Khúc bi tráng cuối cùng… nói vui, thế mà má của Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị cũng ửng đỏ lên. Xong việc, tôi thấy ông kéo nhà văn Chu Lai ra một góc nói nhỏ câu gì đó khiến nhà văn Chu Lai cười ha hả, tỏ vẻ rất khoái trá. Chờ ông về rồi, tôi mới đến hỏi: “Bác Đăng nói gì mà bác Chu Lai khoái thế?”. Nhà văn Chu Lai vỗ vai tôi cái bốp: “Ông ấy nói: Chu Lai ạ, mình chỉ ao ước có được một trang văn để lại cho đời như anh thôi mà có làm nổi đâu!”. Còn lần anh em Văn nghệ Quân đội gồm Tổng biên tập Nguyễn Trí Huân, các nhà văn Nguyễn Bảo, Chu Lai, Nguyễn Đức Mậu, Ngô Vĩnh Bình, Khuất Quang Thụy… và tôi về làng Bùng, xã Phùng Xá, Thạch Thất quê ông mà tôi vừa nhắc ở trên, một bữa nhậu tại nhà ông đậm chất dân giã nhớ đời, thịt chó là món “chủ lực”, rượu nếp thơm dịu, vui vẻ chan hòa không phân biệt cấp chức trên dưới…

 Kể về cuộc đời quân ngũ của mình, ông bảo ông vào bộ đội từ tháng 5 năm 1965, lúc bấy giờ, chiến tranh chưa lan rộng ra toàn bộ miền Bắc nhưng đất nước Việt Nam đã bị chia cắt hai miền ở sông Bến Hải, Quảng Trị. Từ một thanh niên xung phong đi xây dựng công trình đập Suối Hai, sau đó chuyển về làm công nhân ở Xí nghiệp mộc xẻ Sơn Tây, chàng trai Phùng Khắc Đăng thôn Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất trở thành người lính Cụ Hồ. Sau 5 tháng vất vả trên thao trường, tháng 10 năm 1965, ông cùng đơn vị hành quân đi B để rồi tờ mờ sáng ngày 5 tháng 11, hai mươi người lính trinh sát của đơn vị tên lửa mặt đất trong đó có ông do Đại úy Tiểu đoàn phó Nguyễn Duy Trác và Đại úy Chính trị viên Tiểu đoàn Nguyễn Văn Cung chỉ huy lội qua thượng nguồn sông Bến Hải vào Nam. Bữa ấy, sông ở thượng lưu hẹp, hơi nước bốc lên mờ mờ, se lạnh. Lắng tiếng chim tiếng chim “khó khăn khắc phục” từ cánh rừng xa vọng lại, ông chợt thấy bâng khuâng trong cái ý nghĩ: “Thế là mình đã xa quê hàng trăm cây số, đây đã là cửa ngõ của chiến trường”.

 
HOA ĐỎ

 Kỉ niệm chiến trường đầu tiên của ông là vào một buổi chiều tháng 12 năm 1965. Hôm ấy, Đại úy Nguyễn Duy Trác, tiểu đoàn phó giao nhiệm vụ cho trung đội cử các tiểu đội trinh sát đi luyện tập gắn với các mục tiêu có thật. Tiểu đội trưởng Nguyễn Duy Chiến và Nguyễn Hưng dẫn đi xuyên rừng già gần ba tiếng đồng hồ mới ra được bìa rừng. Đến nơi, trời ngả về chiều, nắng đổ vàng hoe trên các quả đồi sim mua lúp xúp xen lẫn cỏ tranh. Bỗng có một chiếc máy bay HU1A của địch bay đến lượn vòng tròn trên đầu, thấp đến mức thấy rõ thằng bắn súng đại liên ngồi bên cửa lên xuống. Mấy chàng trinh sát thấy ngon ăn quá, giương AK47 quất luôn một loạt. Thằng HU1A nhào xuống. “Rơi rồi! Hoan hô! Hoan hô!”. Tiếng reo vừa rời khỏi miệng thì chiếc máy bay đã cất lên cao rồi bay thẳng. Lính nhà mình châng hẫng trông theo. Không phải đợi lâu, chỉ mấy phút sau một tốp năm sáu chiếc HU1A bay đến dàn hàng ngang đồng loạt xả súng và rốc két xuống vùng đồi. Cỏ tranh bốc lửa cháy ngùn ngụt. Có lẽ địch phán đoán “Việt Cộng” rút lui theo dòng suối nên chúng đã tập trung bắn từ lúc 4 giờ chiều đến chập choạng hoàng hôn sau đó tiếp tục gọi pháo bắn cấp tập. May mà năm anh em thoát chết. Ai cũng tưởng mình hành động đúng, thể hiện tinh thần tiến công giặc Mĩ cao nên khi về hậu cứ, Tiểu đội trưởng Nguyễn Duy Chiến đã hí hửng lên báo cáo với thủ trưởng đơn vị. Nào ngờ bị quạt cho một trận là vô kỉ luật, làm lộ bí mật quân sự. Bài học đầu tiên ở chiến trường cay đắng thật. Tuy vậy còn “hên” chán, nếu có ai đó bị “cắt hộ khẩu” thì chắc nỗi ân hận sẽ còn đeo đẳng đến suốt đời.

 Trận đầu tiên của ông là đánh tiểu đoàn tên lửa đất đối đất mang số hiệu 99, thuộc mặt trận 4. Suốt cả năm 1966, chúng ta tập trung làm công tác chuẩn bị cho trận đánh quan trọng này. Đạn được vận chuyển từ Bắc vào Nam bằng hành quân bộ. Những người lính vận tải lầm lũi, im lặng xuyên rừng Trường Sơn gùi những thùng gỗ sơn màu lá cây nặng năm, sáu mươi cân nhưng không hề biết rằng trong đó là những quả tên lửa mặt đất đè nặng trên vai. Tiểu đội trinh sát của ông được giao nhiệm vụ đo đạc cự li nhiều vị trí mà không hề biết cấp trên sẽ chọn mục tiêu nào để bắn vào sân bay Nước Mặn, Đà Nẵng. Mọi công việc chuẩn bị cho trận đánh mở đầu đã hoàn tất. Đại úy Nguyễn Duy Trác viết báo cáo gửi về Bộ Tư lệnh Pháo binh. Để giữ bí mật, báo cáo được viết bằng tiếng Pháp. Ông có chữ viết khá hơn nên được giao chép lại dù nó không hề dễ dàng với người không biết ngoại ngữ như ông.

 Bộ Tư lệnh Mặt trận quyết định đánh vào sân bay Đà Nẵng vào ngày 27 tháng 2 năm 1967 dù lẽ ra phải đánh sớm hơn thời điểm này. Chỉ huy trận đánh lịch sử này là Thiếu tá, Tiểu đoàn trưởng Trần Sĩ Tư, quê Nghệ An. Anh là người cao to, da ngăm đen, trong công việc rất nghiêm khắc nhưng trong sinh hoạt đời thường lại rất chan hòa, cởi mở. Trận đánh có sự phối hợp chặt chẽ với Thành đội Đà Nẵng và người chỉ huy có tên là Đức. Có lẽ vì thế mà mật khẩu trận đánh này là hỏi “Tư”, đáp “Đức”. Trận này ông được giao nhiệm vụ tính toàn bộ lượng sửa khí tượng cho trận đánh.
 Trận địa tên lửa của Tiểu đoàn 99 được bí mật đặt tại xã Hòa Lương và xã Hòa Hưng thuộc huyện Hòa Vang. Đúng giờ G, những quả tên lửa đất đối đất đỏ rực xé màn đêm lao vun vút về sân bay Đà Nẵng. Số lượng đạn dự tính dùng hơn 200 quả. Nhưng chất lượng đạn không đảm bảo do để lâu cùng kĩ thuật thao tác của lính ta chưa thật sự thành thạo nên lượng đạn không nổ còn lại kha khá. Một số phải vứt xuống sông, một số lính ta vác về đơn vị. Số ít sau này người dân thấy đem lấp vào các luống khoai. Trận này, một đồng chí Tiểu đội trưởng hi sinh do không thực hiện đúng thao tác kĩ thuật bắn. Về phía địch, đài BBC đưa tin: Việt Cộng đã dội bom B52 xuống Đà Nẵng khiến hàng trăm phi cơ bị phá hủy, hàng nghìn binh sĩ bị chết và bị thương. Sân bay Đà Nẵng bị tê liệt hoàn toàn. Mĩ phải điều ba chiếc máy bay C130 chở các thiết bị quân sự từ Guam đến khắc phục hậu quả.

 Có một nhân vật liên quan đến trận đánh này được ông nhắc lại với niềm thương tiếc khôn nguôi, đó là cô du kích dẫn đường cho các anh xuống trinh sát ở xã Hòa Lương. Cô tên Kêu, dáng người thon thả, da ngăm ngăm, nhanh nhẹn, tháo vát, được anh em rất tin tưởng. Cánh lính tếu táo gán ghép Kêu với Tiểu đội trưởng Chiến. Kêu bẽn lẽn: “Con gái vùng em xấu lắm, đâu bằng được các chị ở miền Bắc…”. Trong một lần dẫn đường cho bộ đội trinh sát tại Bồ Bản, Kêu đã bị giặc phục kích bắn chết khi tuổi đang còn rất trẻ.
*
*    *
 Nhiều người nghĩ ở chiến trường các chiến sĩ ta chỉ đối mặt với đạn bom, chết chóc. Bom đạn, thương vong là chuyện thường ngày rồi. Thực ra, hoàn cảnh dễ sinh ra “tư tưởng” lắm khi lại là đói khát, bệnh tật. Tháng 10 năm 1970, sau khi làm nhiệm vụ trở về hậu cứ, đói và bệnh sốt rét là nỗi ám ảnh khủng khiếp với anh em trong Tiểu đoàn 99 (tiểu đoàn lúc này đã sát nhập với hai tiểu đoàn khác thành Trung đoàn 575) và ông cũng không phải ngoại lệ. Để đối phó với địch và nhằm bảo đảm an toàn cho những người bị ốm yếu, Trung đoàn quyết định cho các đồng chí này lui về phía sau. Ba mươi lăm đồng chí ở nhiều đơn vị khác nhau của Trung đoàn được gom lại và chính trị viên đại đội 11 Phùng Khắc Đăng được giao trực tiếp chỉ huy đội quân này.

  Qua một ngày hành quân, đơn vị xa dần vùng giáp ranh đến vùng núi phía Tây Hòa Vang, mọi người quyết định dừng lại tìm một hang đá trú chân an toàn. Nào ngờ, mới đến chiều hôm trước, sáng hôm sau máy bay địch ập đến dội bom ầm ầm. Cả một vùng rừng núi như bị xô đẩy bởi sóng xung kích của bom giặc, cây cối đất đá đổ rào rào, khói bụi bay mù mịt. Chín giờ sáng, hai tiểu đoàn Mĩ - ngụy hùng hổ đổ quân xuống. Bị bao vây trong núi đá, lại ốm yếu, có người bị sốt rét nặng lê chân không nổi nằm rên hừ hừ, nhưng ai cũng xác định chiến đấu đến cùng với địch. Vì địch chưa phát hiện ra đơn vị nên mọi người bàn cách tìm đường bí mật rút lui. Một mũi chặn địch do Nguyễn Duy Toản, bạn học cấp hai ở quê với ông và hai người nữa vốn ở Đại đội 10 đảm nhận. Bọn ngụy tràn lên, ta nổ súng, có tiếng la hét thất thanh của địch. Cuộc chiến giằng co, dai dẳng do địch ỷ thế đông, tiến nhanh. Tình thế khi ấy hết sức nguy hiểm, một mất một còn. Cú đánh phủ đầu có lẽ khiến cho địch chùn tay nên không tấn công nữa mà điều máy bay đến ném bom dữ dội. Đến trưa, không gian yên ắng lạ thường. Đợi khá lâu vẫn không thấy Toản và các chiến sĩ khác trở lại, Phùng Khắc Đăng cùng với chiến sĩ Nhữ Đình Quý đi kiểm tra. Lên chốt Toản, anh thấy chỉ còn hai chiến sĩ (sau này mới biết một người đã bỏ trốn). Toản bị thương ở ngực nằm ngửa, thoi thóp bên một gốc cây, gần đó, một đồng chí khác bị chết trong tư thế ôm súng tựa vào gốc cây rừng. Băng bó cho Toản xong, ông cầm tay bạn lay nhẹ: “Toản ơi, cố gắng sống để về quê… Đừng chết nhé…”. Toản mấp máy môi nhưng không nói được câu gì, rồi tắt thở luôn. Ông cúi xuống ôm bạn, cố kìm không khóc mà nước mắt vẫn cứ ứa ra mặn chát. Không có cuốc xẻng, ông phải dùng đá núi đắp thành mộ cho Toản sau đó lấy cành cây phủ lên. Nấm mộ của người lính chiến trường đôi khi chỉ đơn sơ như vậy thôi. Không huyệt sâu, không bia cắm, không khói hương. Những người sống cúi đầu vĩnh biệt liệt sĩ rồi lặng lẽ ra đi để lại phía sau lưng mình một khoảng không gian vời vợi không bao giờ lấp hết. Trận này, ngoài Toản ra còn có một đồng chí nữa hi sinh, một số đi lạc sau đó tìm về đơn vị được.

  Đói. Đó là nỗi ám ảnh ghê gớm trong tháng ngày này. Hòa Vang bị địch bịt chặt, Đại Lộc vốn nghèo, trong chiến tranh càng xơ xác. Địch lại dựng lên hàng rào điện tử Macnamara nên tiếp tế càng khó khăn. Hàng ngày, các đại đội cử từng tổ ba người mang theo một khẩu súng, một cái xoong, một máy lửa, mỗi sáng tản vào rừng kiếm cây môn thục, bắt cá suối để nấu ăn. Tổ đi ba về hai là chuyện đã xảy ra. Đại đội do Phùng Khắc Đăng làm Chính trị viên, Nguyễn Duy Chiến là C trưởng chỉ còn lại 35 người với vài ba bơ gạo dành để nấu cháo loãng cho người ốm đau. Liên lạc Đại đội là chiến sĩ Nga, quê ở Thanh Oai, Hà Tây có tính cách mạnh mẽ, nóng nảy, thẳng thắn nhưng rất dũng cảm được giao nhiệm vụ xuống đồng bằng lấy gạo. Đây là một công việc khá mạo hiểm, xác định đi có thể chết nhưng vì đơn vị không có cái ăn nên phải “liều”. Chỉ huy cân nhắc mãi mới quyết định cử Nga đi. Đến ngày thứ ba vẫn chưa thấy Nga về đơn vị, ai cũng nghĩ rằng Nga đã hi sinh thì sáng ngày thứ tư Nga xuất hiện với một gùi lúa trên vai và một nắm cơm cầm trên tay. Nga đưa nắm cơm đã nguội ngắt bảo, dân cho em hai nắm cơm, em ăn hết một còn một mang về cho các anh đây. Có cái gì đó dâng lên nghẹn ngào trong Phùng Khắc Đăng, chiến sĩ ta là như thế đấy, mỗi người một tính cách nhưng phần lớn đều rất bản lĩnh và yêu thương đồng đội. Nắm cơm được cắt ra mấy phần, mỗi người một lát mỏng ăn cho đỡ xót dạ. Thóc được giã ra bằng mũ sắt, lấy cám nấu cháo với môn thục chẳng khác nào nồi cám lợn nhưng đói quá nên mọi người cứ sì soạp ăn, chốc lát đã hết veo khẩu phần phân phối. Được ít gạo thì dành nấu cháo cho người ốm. Sau chuyến đi này, Nga được kết nạp vào Đảng. Điều còn xót xa đến hôm nay, là khá nhiều người lính trẻ đã chết trong những năm đói này.

  Cuộc tiến quân giải phóng Đà Nẵng năm 1975, cũng có nhiều kỉ niệm đối với Trung tướng Phùng Khắc Đăng. Lúc này, ông đã là Chính trị viên Tiểu đoàn 12 thuộc Trung đoàn 368. Từ ngày 28 tháng 3, cả đơn vị bắt đầu hành quân. Nghĩ lại hơi buồn cười, tiếng là hành quân ra trận mà đội hình chỉ được định hướng đánh theo hướng Bắc dọc đường Quốc lộ 1A tiến ra Đà Nẵng. Dọc đường, dân hồ hởi hoan hô bộ đội. Lính ngụy thất trận trà trộn vào dân đi vào phía Nam. Đơn vị tiến quân ngược dòng người đi về phía Tam Kì mỗi lúc một đông. Chỉ huy Tiểu đoàn chỉ nắm đến đại đội còn các đơn vị thì linh hoạt tận dụng mọi phương tiện để vận chuyển miễn là mau đến được nơi tập kết đánh địch. Bộ đội ta súng pháo vác trên vai, được dân lấy xe máy chở ra Đà Nẵng. Giữa lúc này, ông nhận được thư của đứa em thứ tư báo tin bố mất. Đau xót quặn lòng nhưng không dám khóc, đút vội lá thư vào túi áo để tiếp tục chỉ huy Tiểu đoàn hành quân. Trên đường tiến quân, các ông gặp một bà má đứng bên đường kêu lớn: “Các con ơi! Thằng Hiệp nhà má có về không?”. Phùng Khắc Đăng đã từng học lớp chỉ huy với Phan Xuân Hiệp (tức Anh hùng Quân đội Phan Hành Sơn, người nổi tiếng trong trận đánh địch ở Ngũ Hành Sơn) đến ôm má trả lời: “Anh Hiệp còn sống đấy má ạ!”. Trả lời thế cho má yên lòng thôi vì đã từ lâu ông không gặp Phan Hành Sơn. Thế mà đúng thật, Phan Hành Sơn vẫn còn sống để trở về với người má yêu dấu của mình. Đơn vị đã tập kết đúng thời gian ở đầu cầu Trịnh Minh Thế để hành quân xuống tiếp quản sân bay Nước Mặn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần giải phóng Đà Nẵng vào ngày 29 tháng 3 năm 1975.

  Sự hi sinh của bộ đội ta ở chiến trường Campuchia là rất lớn. Ông kể, mình có mặt ở chiến trường này từ cuối năm 1977 đến tháng 8 năm 1980 và đã trải qua các cương vị Chính trị viên Tiểu đoàn, Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn, Phó Chính ủy Trung đoàn. Chiến trường ở ngoài lãnh thổ Việt Nam, thời tiết khắc nghiệt, đời sống gian khổ, anh em phải xa Tổ quốc, quê hương, gia đình. Quân Pôn Pốt thông thạo địa hình lại chọn lối đánh du kích khiến bộ đội ta thương vong liên tục. Người viết bài này, trong một lần đến Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Tân Biên (Tây Ninh) đã không cầm được nước mắt khi đứng trước 13.000 nấm mộ liệt sĩ phần lớn còn rất trẻ đã hi sinh ở Campuchia, mới thấm thía rằng, để giữ vững lãnh thổ và nền độc lập tự do của dân tộc, chúng ta đã phải đổ rất nhiều mồ hôi xương máu. Đừng bao giờ lãng quên điều thiêng liêng đó. Ai lãng quên sẽ có tội lớn với Tổ quốc, với nhân dân và đồng đội.

  Phnôm Pênh được giải phóng, ông cùng với Tham mưu trưởng được giao nhiệm vụ chỉ huy toàn bộ Trung đoàn về nước. Nhiệm vụ đầy khó khăn vì phải cơ động một lượng vũ khí, khí tài rất lớn, đường hành quân dài, trong khi đó tư tưởng bộ đội không ổn định, khả năng đào ngũ rất dễ xảy ra. Quản lí làm sao đây? Có hai con đường từ  Phnôm Pênh về Tây Nguyên. Một đường đi qua thành phố Hồ Chí Minh và một không. Chỉ huy nêu phương án cho anh em lựa chọn, nếu qua thành phố Hồ Chí Minh thì không ai được đào ngũ. Tất cả đều chọn đường hành quân qua thành phố mang tên Bác và hứa sẽ đi đến nơi về đến chốn. Xe jeep chỉ huy đi đầu, theo sau dằng dặc, cồng kềnh xe pháo, trên thùng chở lính ta. Vào thành phố có đoạn không biết đường, xe pháo ùn ứ lại, cảnh sát giao thông sau khi mắt tròn mắt dẹt kêu trời, đã vui vẻ dẫn đường cho Trung đoàn hành quân qua thành phố đông đúc ồn ào đội ngũ nguyên vẹn quân số, không có ai “tụt tạt” dọc đường. Hôm sau, qua thành phố Nha Trang, do lạ nước lạ cái nên đội hình có lúc cũng bị dồn ứ, may sao lại được các đồng chí cảnh sát giao thông tận tình dẫn đường. Cuối cùng, Trung đoàn hành quân về vị trí đóng quân đúng thời gian, an toàn về người và phương tiện, vũ khí, khí tài. Đến lúc này thì mọi người mới thở phào nhẹ nhõm.
*
*    *
 Thời kì làm Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ông nhớ tới hai kỉ niệm. Năm 1999, miền Trung xảy ra trận lũ lụt lịch sử mà báo chí thường ví là cơn “đại hồng thủy”, ông theo máy bay trực thăng quân sự chở 6000 suất bánh mì, đáp xuống Đàn Nam Giao, Huế đang còn lấp xấp nước. Khi phát cho dân, điều bất ngờ là họ không nhận mà nói: “Các chú mang đi phát cho nơi khác. Ở đó họ bị ngập nước nhiều hơn, khổ hơn bọn tui. Họ sắp chết đói rồi…”. Câu nói đó làm rưng rưng vị tướng trận. Vì thế, khi tham gia cầu truyền hình “Thiên niên kỉ”, ông đã nói: “Lời đầu tiên tôi muốn nói là Quân đội cảm ơn nhân dân. Quân đội là con em của nhân dân, khi nhân dân gặp nạn thì Quân đội phải ứng cứu cũng như khi bố mẹ gặp nạn con cái phải có trách nhiệm vậy”. Chuyện vui là trước khi tham gia cầu truyền hình, ông đã chuẩn bị một bài viết phải nói là hoàng tráng nhưng đến khi vào cuộc thì thấy không dùng nó được mà chọn cách nói vòng vo, kể lại những điều tai nghe mắt thấy ở vùng lũ. Thế mà, người nghe vô cùng xúc động.

  Kể chuyện này, ông đã cười, nói vui với tôi: “Mình bao năm đi chiến đấu, hết chiến trường B lại K, được thưởng cũng khá nhiều huân, huy chương mà không có một dòng nào được ghi trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam. Thế nhưng, qua trận lụt năm 1999, được ghi hai dòng vào Lịch sử Quân đội đấy: Thiếu tướng Phùng Khắc Đăng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đã đi chỉ huy chống lũ lụt tại miền Trung năm 1999… Khi Tây Nguyên có biến, ông cũng đã được Bộ Quốc phòng hai lần (2001 và 2004) cử vào đây. Trở về ông đã có những ý kiến báo cáo, đề xuất rất hữu ích với Bộ Quốc phòng. Một số bài học về công tác dân vận, sự đoàn kết nội bộ đã được kịp thời rút ra từ chuyến đi này.

  Tháng 3 năm 2006, ông nghỉ hưu nhưng vẫn được Bộ Quốc phòng giao làm Phó Chủ nhiệm Chương trình kế hoạch cấp Nhà nước về Dự báo chiến tranh kiểu mới (đạt xuất sắc) và đề án Tổng kết CTĐ-CTCT 30 năm từ 1975-2005 được Hội đồng nghiệm thu cấp Quốc gia và Bộ Quốc phòng đánh giá xuất sắc. Ông còn là Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam nhiệm kì 4 (2007-2012), nhiệm kì 5 (2012-2017) và là đại biểu Quốc hội khóa 13 (2011-2016). Với những đóng góp của mình, ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng 1 Huân chương Độc lập hạng Ba, 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất, 2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba, 1 Huân chương Kháng chiến chống Mĩ cứu nước hạng Hai…

  Về với đời thường nhưng những kí ức trong đời quân ngũ của ông vẫn rất sâu đậm. Hình bóng những đồng đội đã khuất vẫn thường hiện lên trong trái tim người cựu chiến binh đã có mười lăm năm lăn lóc nơi trận mạc. Ông luôn nghĩ rằng, mỗi việc tốt mình làm hôm nay cũng là để cho đồng đội đã hi sinh. Đừng bao giờ lãng quên những người đã ngã xuống vì độc lập tự do của dân tộc, vì hòa bình thống nhất của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân. Tôi hiểu vì sao những mảnh kí ức của ông lại luôn luôn xuất hiện hình ảnh của đồng chí, đồng bào, những con người bình thường như anh Toản, cô Kêu... như nốt nhạc trên bản tổng phổ chiến tranh nhân dân vô cùng bi tráng, những kí ức của ông đã nói với chúng ta rất nhiều điều về một thế hệ anh hùng của những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Những mảnh kí ức này chưa nói hết cuộc đời gian truân của một người lính nhưng nó đã thắp lên được ngọn lửa ấm áp mang tên ĐỒNG ĐỘI.
Hà Nội. Mùa Thu 2016                                         
N.H.Q

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

Quảng cáo