Quả thị quê nhà

Chủ nhật - 13/11/2016 12:41
. MAI THÌN

Chiều nay lên cơ quan, mới mở cửa phòng thì một mùi thơm òa ra, nghe thân thương và dịu mát. Mùi của quê hương tuổi nhỏ có sức quyến lạ thường, làm dịu mát cả không gian đang nắng nóng, dịu cả những căng thẳng, bon chen. Cái màu vàng quen thuộc, mọng tươi đến nõn nà. Cái hương thơm đến lạ, hít hà mãi vẫn không no. Quả thị ai để đó, vừa chất phác, hiền lành, vừa đài các xinh tươi trong một lớp vỏ tinh tươm mà cũ kĩ của người quê có truyền thống giáo dục và tự trọng. Hương thơm ấy không nói nhiều, mảnh nhẹ và loang loang, nhưng đã gợi cho tôi bao nhiêu là chuyện của quê hương, chuyện của làng của xóm, chuyện của ngày xưa và hôm nay…
 
qua thi


Vùng bán sơn địa, nhiều sỏi đá, nên quê tôi có nhiều thị, mà là những cây thị to, tán rợp một góc làng. Đây thường là nơi tụ tập của đám trẻ con những trưa hè. Gốc thị ven đường ở xóm dưới là quán cắt tóc của ông Năm Tân. Nói là quán cho oai, chứ chỉ là một chiếc ghế đẩu nhỏ đặt dưới cây thị sum suê và một hòm đồ nghề đã lên nước đen bóng. Chừng năm ba bữa, quán mới mở một lần, nhưng lần nào cũng đông khách, không đến hớt tóc thì cũng đến để tán chuyện. Rồi gánh đậu hũ, gánh xu xoa của bà Năm Dổng, bà Bảy Đậu chuyên bán, đổi lúa cũng ghé vào. Người hớt tóc cứ hớt, người ăn đậu hũ cứ ăn, nhưng những câu chuyện thì không bao giờ dứt… Nhớ nhất là chuyện “bể dĩa” của đoàn hát bội Phù Cát trong đêm diễn ở quê. Hôm ấy, không biết chuẩn bị thế nào mà đến đoạn Đổng Kim Lân biệt mẹ, diễn viên đóng vai Đổng Kim Lân lại trượt chân ngã lăn trên sân khấu, mặt đập vào thành ghế, máu mũi, máu miệng chảy ròng ròng khiến khán giả một phen hoảng hồn. Cú trượt chân ấy, tìm rõ nguyên nhân là bởi tại cái hột thị đứa nào ăn rồi ném lên sân khấu, để cho Đổng Kim Lân mang hia dẫm phải mà ngã lộn nhào. Nhưng đó cũng chưa là nguyên nhân chính. Nghe bảo hôm sau, ông bầu của đoàn hát còn phát hiện trên trang tổ của đoàn một quả thị mọng vàng, hương thơm ngát. Đây là việc tối kị mà các gánh hát bội rất kiêng sợ, bởi tương truyền, tổ hát bội vốn rất mê thị, nhất là mùi hương của nó. Hễ gặp phải hương thị thì cụ mê đến nỗi bỏ bê cả việc hát xướng, làm cho đêm diễn không gãy giáo, đụng gươm thì cũng bươu đầu mẻ trán như trường hợp Đổng Kim Lân trong đêm diễn nói trên. Chính vì thế mà mùi thơm của thị đã thấm vào văn chương, ca dao, hò vè của vùng đất này: Ngó vô vườn thị thơm thanh/ Thị thơm mược thị bụng em thành thời thôi. Tuổi nhỏ chúng tôi ắp đầy bao kỉ niệm nơi thôn dã, trong đó có những quả thị vàng tươi. Màu vàng ấy còn là màu của lá chuối già, màu của rơm rạ, quê hương. Những quả thị ủ trong máng rơm chín vàng, dù hương thơm mát lạnh, nhưng vẫn không thoát hết được cái mùi rơm rạ cũ. Mùa thị chín thường cũng là mùa thu hoạch của vụ hè thu. Sắc vàng của thị chín góp thêm cho cái màu vàng gần như chủ đạo của bức tranh quê mùa gặt. Trong góc vườn, lấp loáng những quả thị vàng tươi xen với sắc xanh của lá. Bên dưới là rơm rạ vàng khô, ngoài đồng nhiều thửa ruộng chín tới đang chờ người gặt hái. Trên sân, vàng óng từng đụn lúa vừa tuốt, nằm phơi mình trong nắng. Những chú gà con lon ton nhặt thóc bên mẹ gà vàng mơ… Mùa này, bịch lúa nhà tôi thường ngát hương thị chín. Những quả thị hườm hườm được hái sớm phòng dơi ăn trộm, chỉ một đêm trong bịch lúa là chuyển vàng ươm, toả hương thơm nức mũi. Sáng nào đi học, tôi cũng moi ra vài quả cất trong cặp để mang đến lớp làm quà cho tụi bạn ở thị trấn. Thế là giờ học văn của cô Ái, quả thị đã trở thành đề tài sôi nổi cho cả lớp tham gia… Quả thị chín, cơm vừa thơm vừa ngọt, nhưng lúc còn non thì vỏ xanh, cơm chát, chỉ có hạt thì trắng mềm. Chúng tôi thường đem rửa muối cho bớt chát rồi chia nhau nhai nghe dai dai sừng sực như cùi dừa già vừa khô vừa cứng. Cha tôi vẫn thường nhặt hạt thị rửa sạch, phơi khô, rang cháy, để dành hãm với nước trà mà uống, vì nó có chất bổ dưỡng, kích thích sinh trưởng, chống lão hoá. Hồi ấy trên vách đất đầu hồi, cạnh tấm phản gõ, nơi tôi dùng làm bàn học, thường dán đầy những ngôi sao vàng sậm được xé từ vỏ của quả thị. Vỏ thị dai mềm. Chỉ cần dùng dao khía vào vỏ thành năm cánh, rồi lột ra là có một ngôi sao, dán trên vách đất cho khô, để dành làm vị thuốc trị bệnh giời bò, một bệnh ngoài da rất phổ biến trong đám trẻ con nông thôn thời đó. Chỉ cần gỡ cái “ngôi sao” vỏ thị đã khô đem đốt thành than, hoà với dầu phộng mà bôi lên chỗ giời bò vài lần thì sẽ liền da thắm thịt.

Thuở nhỏ ở quê, rất hiếm khi được ăn kem, ăn kẹo như trẻ nhỏ bây giờ. Thường là mùa hè, dăm bữa nửa tháng, nghe tiếng leng keng của ông bán cà rem, hoặc kẹo kéo từ đầu thôn là cả đoàn, cả lũ chạy ra nhìn. May hôm nào mẹ cho được đồng bạc cắc thì mua một que mà mút. Trông bọn trẻ nhà giàu mút kem, chúng tôi cũng lấy thị ra mà mút. Chỉ cần bóp cho mềm đều quả thị chín tới rồi cắn một lỗ nhỏ, rồi vừa mút vừa nặn thì cơm thị tuồn vào mồm cũng ngon cũng ngọt. Lá thị xanh, theo kinh nghiệm dân gian cũng là một vị thuốc, được dùng rất phổ biến. Riêng gỗ thị, được cho là dai nhất trong ba loại cây ở nông thôn miền Trung: “Xoài giòn, mít dẻo, thị dai”. Vì vậy cùng với mít, gỗ thị thường được dùng để chạm trổ các bộ phận tinh xảo trong nhà lá mái, hoặc làm cột, kèo - những bộ phận rường cột trong ngôi nhà. Đặc biệt, lõi của cây thị thường có hình vân, nên gần đây các tay chơi gỗ lũa còn sưu tầm được nhiều mảnh ván thị có lõi vân vi như những bức tranh nghệ thuật độc đáo của thiên nhiên. Bọn trẻ chúng tôi thì thường chọn những cành thị vừa tầm để đẽo những cái vụ. Nhờ gỗ thị mềm, dẻo, lại có màu trắng, nên vụ đẽo từ cây thị thường được chuốc cho láng và chạy rất êm.

Suốt bao đời, cây thị gắn bó với người dân quê tôi, nó che chở, bao bọc, điểm tô cho cuộc sống người nông dân đỡ phần vất vả thiếu thốn. Vì thế cây và người, người và cây đã trở thành mối quan hệ láng giềng không thể thiếu trong cuộc mưu sinh. 

Hồi kháng chiến chống Pháp, nhiều cây đa và cây thị trong các làng không chỉ là nơi hội họp của tổ chức Việt Minh, mà còn là những trạm canh phòng rất hiệu quả. Ông Trần Đình Trắc, quê ở làng Tri Thiện, xã Phước Quang, Tuy Phước kể, làng Tri Thiện của ông có cây thị cao gần ba mươi mét, và cây đa cầu Tống Võ ở làng An Hòa kế bên từng là những điểm canh phòng của dân quân du kích địa phương thời kháng chiến chống Pháp. Trên mỗi ngọn cây cao nhất làng, người ta treo những cái bồ đan bằng tre, bên ngoài cột những dải vải có màu sắc sặc sỡ dài hàng chục mét để người từ xa có thể nhìn thấy. Hàng ngày cắt đặt một người trèo lên cây cao quan sát, nếu thấy địch đổ quân, đi càn thì liên tục kéo bồ lên, giật cái bồ trên ngọn cây cho mọi người cùng biết. Đó là cách truyền tín hiệu cho các trạm canh phòng khác liên tục báo động về căn cứ của quân ta. Cây thị làng Tri Thiện giờ vẫn còn, như một chứng nhân của lịch sử, nhưng cây đa cầu Tống Võ ở làng An Hòa thì đã bị bán cho một lò gạch cưa làm củi đun gạch từ lâu. 

Cũng theo ông Trần Đình Trắc và nhiều cụ cao niên khác thì ngày xưa không phải làng nào cũng được trồng thị, mà chỉ những làng tiêu biểu (gần giống như làng văn hóa cấp tỉnh thời nay), nơi có các bậc tiền hiền, hoặc những nhà khoa bảng đỗ đạt cao mới được trồng thị. Không biết điều đó có đúng không mà cây thị trong vườn nhà ông Trùm Sáu ở làng tôi, cách Văn Miếu Bình Định chừng hai trăm mét, từ lâu được xem là cây thị “cao niên” nhất làng. Cây thị ở thành Cha, xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn cũng đã trên ba trăm năm tuổi; cây thị ở đình Cẩm Thượng, Tp. Quy Nhơn, một di tích đang được đề nghị xếp hạng di tích văn hóa cấp tỉnh cũng được mọi người tôn vinh. Và cây thị làng Tri Thiện của cụ Trần Đình Trắc, thuở xưa chắc chắn đã chứng kiến bao thăng trầm của thị tứ Nước Mặn, một thị tứ tụ hội khá đông thương nhân người Hoa, và là nơi “đô hội” của Bình Định thuở ấy.

Ngày nay, trên cả tỉnh Bình Định những cây thị như trên chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, nhưng chuyện kể về nó, kí ức quanh nó thì vẫn luôn được dân gian nhắc tới như những bậc tiền hiền của làng của xã. Cây thị đã hóa thân thành những tên đất, tên làng, những địa danh đi vào sử sách: xóm Cây Thị, chợ Cây Thị, cầu Cây Thị… Riêng nhà thờ Gò Thị (còn có tên gọi Xuân Phương) ở Phước Sơn, Tuy Phước từ lâu đã là một nhà thờ lớn. Cùng với nhà thờ Nước Mặn, nhà thờ Gò Thị là một trong những nhà thờ lớn của cả khu vực miền Trung. Hồi ấy hẳn phải có một hay nhiều cây thị to toả bóng mát cho nhà thờ, cho những giáo dân đi lễ lấy chỗ mà trú nắng, trú mưa. Những cây thị ấy hẳn phải gắn bó, gần gũi như một biểu trưng cho cả vùng mới được lấy tên mà đặt cho nhà thờ.     

Giờ đây, mỗi lần đi qua nhà thờ Gò Thị, lòng tôi chợt ngậm ngùi khi chẳng thấy bóng thị đâu. Tâm trạng ấy cũng giống như khi đứng trước hiên nhà dõi về góc vườn nơi chái tây. Cây thị ngày xưa vẫn đứng đó, reo vui cùng gió, rộn tiếng chim kêu… giờ đã không còn nữa. 

Cũng giống như những người già của quê, lần lượt ra đi theo quy luật của lẽ tử sinh, nhưng thị lại khác con người. Nó cứ bị mất dần, mất dần mà không hề được tái sinh theo quy luật ấy. Tưởng đã không còn nữa trong tâm trí xô bồ và quyết liệt của cuộc mưu sinh thời hiện đại, nhưng, may sao chiều nay… Cảm ơn em, quả thị quê nhà!    
                                          
M.T                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                         
---------

1. Ông Trần Đình Trắc Là học trò và là con rể của cụ Hà Trì Trần Đình Tân (1893 - 1979), người làng Cảnh Vân, Tuy Phước, đỗ cử nhân năm Ất Mão (1915)  đời Duy Tân, làm Thương tá Tỉnh vụ tỉnh Ninh Thuận, hàm Tùng Tam phẩm (3-2)
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Xếp hạng: 5 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu thuyết của Gabriel García Márquez

Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu...

Cuộc đời của Escobar là khối mâu thuẫn lớn, bởi sự đối lập giữa thiện - ác, thiên thần - ác quỷ, nhân từ - máu lạnh, do đó, hắn có sự hấp dẫn lớn đối với quần chúng hơn bất kì tên trùm tội phạm nào. (PHAN TUẤN ANH)

 
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ - nguyên mẫu và nỗi oan của một con người

Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ -...

Trong các tiểu thuyết của tôi, nhân vật chính hay phụ đều được xây dựng từ những chi tiết rất thực mà tôi tích lũy được. Thường thì, chỉ từ một chi tiết rất nhỏ, bất chợt gặp trong đời sống mà tôi hình dung ra tính cách của một con người. (XUÂN ĐỨC)

 
Lần đầu tiên một nhân vật tiểu thuyết có chức danh này

Lần đầu tiên một nhân vật tiểu...

Ai đọc cũng nhận ra tâm thế người viết là người trong cuộc, là xây dựng chứ đâu phải là người đứng ngoài chửi đổng cho sướng miệng. (Bài viết của NGUYỄN BẮC SƠN).

 
"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh ghép kí ức

"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh...

Là truyện ngắn viết bằng nỗi nhớ và kí ức nên hầu hết các nhân vật trong truyện đều được tôi nhào nặn từ các nguyên mẫu. Nhưng để có được một nhân vật hoàn chỉnh tôi đã “thuổng” của đồng đội mỗi người một vài nét ngoại hình, tính cách

 
Thực tế đời sống và nhân vật trong "Dòng sông phẳng lặng"

Thực tế đời sống và nhân vật trong...

Trong cuộc đời viết văn của mình, rất hiếm trường hợp tôi lấy nguyên mẫu ngoài đời để tạc nên nhân vật trong tác phẩm. Nhưng không có thực tế đời sống thì không thể làm nên các nhân vật đó. (Tô Nhuận VĨ)

Quảng cáo