Tháng mười nhớ tết ăn cơm mới

Thứ tư - 30/11/2016 12:18
. NGUYỄN LUÂN

Cứ mỗi độ tháng mười về, những thửa ruộng lúa chín vàng quê tôi lại nhôm nhoam như tấm áo chàm vá vội, ấy là lúc mùa gặt đang đến rộ. Khi ấy, ông ngoại tôi lại nheo nheo mắt nhìn xuống cánh đồng bảo, chỉ cần cháy hết một khúc củi pồ flày nữa trong bếp là mùa gặt sẽ đi qua.

Buổi sáng sương giăng trên mặt đá, che khuất mái nhà sàn có ô cửa nhìn lên mặt núi xác xơ cỏ úa mỗi khi gió tràn về qua đêm. Đến khi sương thủng, nhìn rõ mặt người, cũng là lúc những người đàn bà vén sương gánh đôi dậu tre, tay cầm liềm bước thập thềnh trên những bờ thấp, bờ cao. Những người đàn ông hục hặc, hè nhau gánh máy tuốt, vác bùng theo sau. Họ nói chuyện tếu rồi cười phần phật, lao xao lăn vào chân núi.

Tháng mười quê tôi có tết ăn cơm mới. Một cái tết giữa thời khắc đông đuổi thu đi như tiếng cú rúc đêm vọng trên vách đá. Cái tết Tò Ỉm, ấm no của người Nùng.

Ngày ông tôi còn sống, vào ngày tết ăn cơm mới, ông thường dậy thật sớm đi lấy nước từ con suối sau nhà rót vào bát để đặt lên cai thờ, ông bảo đấy là nước mới. Đi lấy nước mới phải đi thật sớm để có được dòng nước trong mát nhất cho tổ tiên. Rồi ông ra ruộng chọn những bông lúa đẹp và lạ nhất đem về. Chúng phải bông ra như đuôi sóc, hạt tròn dài mẩy căng mắt cua đá sau mưa rào. Ông bảo phải bông như thế thì những vụ mùa năm sau mới càng được nhiều thóc hơn, hạt lúa đều thì ruộng nào, lúa nào cũng được ăn. Có năm ông đi cả ngày mới chọn đủ. Ông cầm chúng trên tay ngắm nghía như muốn đếm cả những sợi lông măng trên vỏ, lại nâng niu khe khẽ chỉ sợ rụng mất dù chỉ một hạt. Thấy ông nhấc từng bông trên tay, tôi lại nhớ có lần ông bóc mỡ trăn làm thuốc. Chúng cũng thành hạt, thành búi bóng mượt như thế.

Lễ ăn cơm mới.Chọn được những bông lúa ưng ý mang về, phần thì cắm vào ống hương, phần còn lại bỏ vào cái đĩa đặt bên cạnh những lễ vật khác đã được chuẩn bị kĩ lưỡng. Tôi tò mò hỏi ông vì sao phải “cúng cụ” bằng những bông lúa chín. Ông mỉm cười: “Để cảm ơn ông bà tiên tổ cho đã cho cháu con thóc mới, gạo mới, đầy dậu to dậu bé gánh về nhà hết năm này qua năm khác”. Rồi ông chắp tay nhìn vào làn khói hương nghi ngút khấn vái. Ngày ấy tôi nghe không hiểu nhưng nhìn vào vẻ mặt và những sợi khói từ đầu cây hương, tôi lờ mờ nhận ra một điều gì đó. Sau này tôi mới biết đó là khoảnh khắc người còn sống gửi gắm một niềm tin vào một thế giới khác, thế giới theo như cách ông tôi gọi là thế giới tình flạ, nghĩa là ở trên giời. Và đơn giản như thế, ông đã dạy tôi một bài học về sự biết ơn. Sau này tôi còn nghiệm ra những bông lúa trên cai thờ không đơn giản chì là biết ơn tổ tiên, mà nó còn là lịch sử loài người.

Vui nhất với lũ trẻ và mấy chị em gái là làm bánh giầy ngày tết cơm mới. Bánh giầy ngày tết cơm mới được làm từ những hạt gạo nếp ngon và dẻo nhất, mới nhất của mỗi nhà. Gạo nếp được chọn thật kĩ, sau đem đồ trong chõ hơi. Khi gạo chín thành xôi, bà tôi vắt vào cối đảo qua cho bớt hơi nước rồi đem giã. Vất vả nhất là việc giã bánh, bà tôi có cả câu tục ngữ về giã bánh đủ để thấy cái mệt nhọc ở trong đó pay thổn tì, bố nhọc tộ tăm xì (đi vạn dặm không khổ bằng giã bánh giầy). Nhà bà tôi có cối giã bằng chân, chiếc cối đá chôn xuống đất miệng ngang mặt đất. Cần giã được thiết kế như cầu bập bênh của lũ trẻ bây giờ. Các dì tôi thay nhau đạp cần cho đầu chày giã xuống cối tới khi hạt xôi nhuyễn tinh và dẻo quánh. Ông ngoại tôi thường bảo, giã bánh giầy như mọt ăn gỗ, phải từ tốn. Người giã đã từ tốn bao nhiêu người đảo bánh càng phải thật chậm rãi. Giã bao giờ đưa thứ bột dẻo ấy miết trên đầu ngón tay không còn thấy gợn, thấy cục, mới được mẻ bánh ngon. Thế nên, việc làm bánh giầy có khi mất cả buổi mới theo được như ý ông tôi. Bánh giã xong được quết mỡ cho bớt dính rồi lăn thành sợi cỡ cổ tay. Xong đâu đó, mới lựa vắt thành từng cái vừa mắt, không to không bé, độn thêm nhân đỗ, nhân vừng tùy ý rồi rải lên mâm. Lúc này mấy đứa trẻ chúng tôi tranh nhau chấm phẩm đỏ vào đầu ngón tay rồi lại chấm lên mặt bánh thành những chấm be bé hồng hồng. Ông tôi bảo chấm năm chấm cho đẹp, cho có ý nghĩa... Mệt là thế, nhưng ai cũng vui. Một niềm vui xuề xòa sau vụ mùa. Bánh qua mấy ngày khô cứng lại như đá, nhưng chỉ cần xiên vào đầu đũa đem nướng lên bếp than hồng thì lại thơm vô cùng.

Ông tôi mất vào một mùa đông đến sớm, khi cái tết ăn cơm mới chưa kịp đến. Ngày ông mất có tiếng chim lạ như tiếng người khóc suốt đêm. Những vàn núi mênh mông sương mù vón lại như những bánh giầy dột mốc. Cả cánh đồng như tấm chăn chàm khổng lồ ai phơi rúm ró trên mỏm đá tai mèo. Bà ngồi lặng im, đôi mắt trũng sâu nhìn theo đoàn người đưa ông về với núi. Người ta làm nhà mới cho ông trở về bà mới khóc. Mẹ tôi bảo, suốt một đời bà đã khóc vì thương con nghèo khổ, nước mắt bà giờ như nhựa cây nghiến, cây lim. Bà sợ níu bước chân ông sang phía bên kia khi bà còn một mình ở lại.

Những tháng mười, những cái tết ăn cơm mới nữa lại đến. Cậu tôi tiếp tục công việc của ông ngoại. Một bát nước trong, những bông lúa vẫn bông lên như thế. Tôi cúi đầu chắp tay theo cậu. Trong cái sợi khói lờ mờ và mùi hương trầm đặc sệt, tôi như thấy ông mỉm cười đâu đó. Liếc nhìn những bông lúa mới cắm trên ống hương, không một ngọn gió nhưng cứ rung rinh, rung rinh.

Tôi lớn lên đi học xa nhà, rồi có một gia đình mới để chăm sóc yêu thương. Tôi đã bước qua tuổi thơ với không biết bao nhiêu khúc củi pồ flày đun qua bếp, qua tay bà tôi. Tháng mười nữa lại về mang theo tết ăn cơm mới. Tự nhủ với lòng mình sẽ gác lại những bộn bề để về với nếp nhà sàn phủ sương làm áo. Về ngắm những bóng áo chàm lẫn vào màu của lúa, của đá, của đồng đất khi mùa gặt mới lại đến. Và về để rót cho ông bát nước đầu ngày từ dòng suối, giã cho bà cối bánh giầy dù tôi có cố gắng mấy cũng không nhuyễn, không tinh mà vẫn thấy lấp đầy những thiếu vắng như hốc đá trong lòng.

Bữa cơm dọn ra có con cháu đủ đầy. Cậu vẫn không quên để một đôi đũa, chiếc bát cạnh bà. Không ai nói nhưng đều biết nó dành cho ông. Đưa miếng cơm sánh bóng còn thơm mùi nắng mới, mùi đất quen thuộc lên miệng, nghe cái ngọt bùi tan trên đầu lưỡi mà thấy đôi chân mình như con nai, con sóc muốn dừng lại không bước nữa. Ai đó rì rầm như muốn nhắc, dù có víu nhau vượt qua đèo qua suối, thì tháng mười cũng nhớ về ăn tết cơm mới. Đừng quên 
 
N.L
 
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu thuyết của Gabriel García Márquez

Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu...

Cuộc đời của Escobar là khối mâu thuẫn lớn, bởi sự đối lập giữa thiện - ác, thiên thần - ác quỷ, nhân từ - máu lạnh, do đó, hắn có sự hấp dẫn lớn đối với quần chúng hơn bất kì tên trùm tội phạm nào. (PHAN TUẤN ANH)

 
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ - nguyên mẫu và nỗi oan của một con người

Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ -...

Trong các tiểu thuyết của tôi, nhân vật chính hay phụ đều được xây dựng từ những chi tiết rất thực mà tôi tích lũy được. Thường thì, chỉ từ một chi tiết rất nhỏ, bất chợt gặp trong đời sống mà tôi hình dung ra tính cách của một con người. (XUÂN ĐỨC)

 
Lần đầu tiên một nhân vật tiểu thuyết có chức danh này

Lần đầu tiên một nhân vật tiểu...

Ai đọc cũng nhận ra tâm thế người viết là người trong cuộc, là xây dựng chứ đâu phải là người đứng ngoài chửi đổng cho sướng miệng. (Bài viết của NGUYỄN BẮC SƠN).

 
"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh ghép kí ức

"Đồi lau sau hoa tím" những mảnh...

Là truyện ngắn viết bằng nỗi nhớ và kí ức nên hầu hết các nhân vật trong truyện đều được tôi nhào nặn từ các nguyên mẫu. Nhưng để có được một nhân vật hoàn chỉnh tôi đã “thuổng” của đồng đội mỗi người một vài nét ngoại hình, tính cách

 
Thực tế đời sống và nhân vật trong "Dòng sông phẳng lặng"

Thực tế đời sống và nhân vật trong...

Trong cuộc đời viết văn của mình, rất hiếm trường hợp tôi lấy nguyên mẫu ngoài đời để tạc nên nhân vật trong tác phẩm. Nhưng không có thực tế đời sống thì không thể làm nên các nhân vật đó. (Tô Nhuận VĨ)

Quảng cáo