Trầm hương

Thứ bảy - 12/08/2017 13:49
. BÙI THỊ NHƯ LAN

Khi đứng trước cổng xếp bằng đá tràn trạt rêu xanh với bờ rào ken dày bởi những búi trúc vàng ruộm, mình chợt thở dốc. Ngôi nhà sàn năm gian thân thuộc lọt thỏm giữa rừng mắc cọp dày đặc, có cây to chừng mấy người ôm. Lũ cỏ dại, mua, sim đua nhau xùm xòa... Cây cối rậm rịt thế kia, nhưng lối đi từ cổng đến cầu thang nhà sàn lại quang đãng do được trải những viên đá đỏ. Những viên đá này ở dãy núi Pỵa phía sau nhà. Viên nào viên ấy sàn sàn bằng nhau như quả trứng gà, trứng chim. Những viên đá làm đầu mình chợt thoáng ra, sáng lên. Mình nhớ pa bảo, từ thời xa xưa, các nếp nhà trong bản từ cổng vào, nhìn lối đi là biết nội tình, tính cách của gia chủ thôi. Mình nhìn quanh nhìn quẩn mãi vẫn thấy vắng lặng. Từ nhà mình đến các nếp nhà trong bản còn phải đi bộ mỏi chân, vào sâu mãi trong thung lũng. Mà giờ có con đường to phía trên chỗ ba cây phách chạy thẳng vào bản rồi, chắc là không có người đi qua nhà mình nữa nên rừng mới rậm, cây mới to như thế. Vậy thì ai đã rải những viên đá ấy để lối đi nhà mình sạch đẹp thế?

Không gian quanh nhà tràn hương thơm. Mùi hương ngấm vào người, phảng phất theo mình từ lúc tóc xanh rì đến bây giờ đã đổi màu. Hương vị thanh diệu ấy lan tỏa, ướp đẫm khoảng không. Giá bây giờ pa còn sống, mình sẽ hỏi pa mùi hương tinh khiết kia ở đâu trôi ra?

Nghĩ lại mới thấy mình là kẻ vô tâm, chỉ biết tận hưởng sự chăm sóc chu đáo của pa, rồi thản nhiên cau có, dằn vặt pa mỗi khi không ưng ý. Cái mắt mình mở mà không thấy nỗi đau của pa trong căn nhà vắng bóng đàn bà. Một mình pa làm ra hạt thóc chắc, cái bắp to để nuôi mình trưởng thành. Pa đánh đổi cả đời để cái chân mình vững chắc, cái đầu mình khôn. Thế mà đến bây giờ, đầu hai thứ tóc rồi, mình vẫn không hiểu vì sao nhà mình ăm ắp mùi hương. Hồi pa đã yếu, cái mắt không còn tinh anh, cái chân đã chậm, mình có về thăm chốc lát rồi quày quả đi ngay. Pa nói gần, nói xa, khi xưa cái ăn ít thì nhà có người, bây giờ thứ ăn nhiều mà không ai muốn về nơi nuôi mình lớn lên... lời của pa chui vào tai này của mình rồi thoát ra ngay tai kia, mình vẫn vô tư đi biền biệt.

Vừa lên cầu thang gỗ thì bụi túa ra, bàn chân lún vùi như đi trong cát. Thế mới biết, lâu lắm rồi không có ai đi lại. Mặc cho bụi bay tứ tung, mình phăm phăm bước lên trên nhà. Cánh cửa bằng gỗ nghiến cài then rất chặt. Cành sleng gài bên trái cửa trong ngày cúng thôi tang pa tuy đã khô cong, nhưng chưa có chiếc lá nào rụng. Mắt mình chợt cay xè. Mình đẩy cửa bước vào trong nhà. Dường như có tiếng thở ở đâu đó. Rất gần, rất rõ. Chân mình chưa đến tới sập gỗ, mắt chưa kịp nhìn hết xung quanh thì “…xoạch… xoạch… vèo… vù… ù… vù…” Một luồng gió mạnh, kéo theo vật gì đó đỏ rực như mặt trời lao vút qua người mình. Bỗng nhiên mắt mình nổ hoa cà hoa cải, người run bần bật, hai chân chấp chới tựa như đi trong khoảng không.

Lạ quá đi! Bao nhiêu năm bươn bả đi từ vùng này sang vùng khác, trôi từ cơ quan nọ đến sở, ngành kia ở chốn thị thành, đã từng giẫm đạp nhiều người khác để leo lên quyền cao chức trọng, mình chưa từng biết sợ. Thế nhưng giờ đây, khi đằm người vào gian nhà thân thuộc của mình thì lại run rẩy. Mình tỉnh hay mơ? Tiếng động lạ lùng với luồng gió đỏ kia có thật không? Hay do mình tưởng tượng ra? Mình tự véo vào cái má nung núc thịt thì thấy đau quá. Biết đau là thực rồi, có phải mơ đâu?

Lê người đến trước ban thờ, trong hương thơm nhẹ nhàng, tinh khiết, mình mở to mắt. Kìa! Ban thờ nhà mình sạch sẽ tinh tươm. Giữa là chiếc lư hương cổ của tổ tiên ông bà để lại, óng màu đen bóng. Từng bát hương sáng loáng như có phép nhiệm màu. Tóc gáy mình dựng lên.

Lạ quá thôi! Sàn nhà sáng màu vân gỗ, sạch sẽ như có bàn tay của ai đó ngày ngày dọn dẹp. Trên mái nhà lợp ngói âm dương có chỗ đã mục, lộ ra khoảng trời xanh bé xíu. Những tia nắng lọt qua từng lỗ hổng, nhảy nhót, vẽ hoa vàng trên sàn gỗ…

Phải chăng mình mải mê chạy theo chức tước, địa vị, quay cuồng trong vòng xoáy cuộc sống, đến nỗi quên cái gốc của chính mình? Mà cũng không hẳn là thế, chính gốc rễ người trên núi, có thời điểm là nấc thang vô hình để mình leo cao. Còn hai chữ thương binh của pa là bình phong vững chãi để mình dựa vào. Mình chợt thấy nhớ pa quay quắt. Những hình ảnh tuổi thơ chầm chầm trôi như một thước phim.
*
*    *
Chiều đầu tháng chín. Từng tia nắng nhợt nhạt hanh hao kéo mây về đỉnh núi Pỵa, ném vào đất trời màu tím nhàn nhạt. Một thằng nhóc toãi chân ngồi bệt trên đầu cầu thang, cái mắt ngóng về vạt rừng lim, nơi tụi hoa bjooc sluc đua nhau khoe màu vàng, chờ pa lùa đàn dê về. Mà sao hôm nay thảm hoa bjooc sluc lại mang sắc vàng biêng biếc tím nhỉ?

Cái nhận biết qua ánh nhìn non nớt của thằng nhóc đang nhồi vào đầu những con chữ lớp bốn, mắt chưa kịp trôi hết thảm hoa thì không biết từ đâu, gió băng băng chạy về, tung những cọng rơm trên sàn, trong sân bay lượn, xoay tít như ngàn ngàn con cù. Gió bực bội túm chặt cây, giật phăng lá già, lá non bay chấp chới lộn ngược lộn xuôi ràn rạt về thung xa.

Bầu trời hối hả kéo những đám mây màu tro bếp khổng lồ che kín ngọn núi. Từ giữa đám mây xỉn màu ấy, bung ra những tiếng ung oang chát chúa của tụi sấm hù dọa. Từng lưỡi lửa sáng trắng như màu nhựa cây chớp lóa phụt ra, chém tụi mây thành những mảnh vá chằng chịt. Mưa ràn rạt đan chéo quất từng vệt roi trắng xuống mặt đất, hung hãn như tiếng khua vó của bầy ngựa trên đường đá.

Từ trong những ngọn roi nước xối xiết ấy, một người đàn ông chân trần vâm vấp, chạy gằn hối thúc bầy dê chúi sừng, cắm mặt lao qua cổng đá, chui tọt vào cái chuồng then ngang bằng gỗ tạp phía sau nhà. Thằng nhóc run rẩy lao xuống cầu thang, mắt đỏ mọng như quả sang, ôm bập lấy mặc cho thân thể người đàn ông ướt rượt, sũng nước. Người đàn ông công kênh thằng nhóc trên vai, giữ bằng một cánh tay trái chắc nịch, chậm rãi bước lên sàn nhà.
 
Cời ngọn lửa trong bếp cháy bùng lên, người đàn ông nhìn theo những hạt mưa đan chéo chi chít dày đặc, thở dốc từng hồi. Tai thằng nhóc úp vào vồng ngực có vết sẹo dài tựa dãy núi nhỏ, tua rua chân rết của người đàn ông, chợt nghe như có tiếng rít bên trong. Bỗng nhiên thằng nhóc sợ, mắt giàn giụa nước.

 
FullSizeRender (19) new
Minh họa: Lê Anh Vân

Người đàn ông đưa cùi tay phải cụt lủn, lằn ranh rúm ró, vuốt xuôi lưng thằng nhóc, nói nhẹ bẫng:
- Con trai à, sao run thế, lại khóc nhè à? Nói pa nghe nào.
Bàn tay thằng nhóc xoa đi rờ lại dãy núi vá trên ngực cha mình, thì thầm: Con… con sợ tiếng kêu trong ngực pa. Cái tay phải pa đánh rơi ở đâu?

Người đàn ông ngó mông lung ra ngoài trời trắng nước, gằn giọng:
 - Ây dà! Thằng giặc Mĩ nó lấy trộm mất tay pa rồi, cái vết sẹo này cũng do nó gây ra trong ngày pa cùng đồng đội đánh giặc ở Quảng Trị.
- Pa à, cái đài vẫn đưa tin thằng giặc ác đấy thôi, thế… thế sao pa lại về nhà?
Vết sẹo trên ngực người đàn ông trồi lên thụp xuống. Tiếng thở phập phù như cái bễ lò rèn ở cổng chợ huyện. Giọng người đàn ông nghèn nghẹn:
- Tay pa không cầm nổi súng nữa, lá phổi cũng mất nửa, mảnh đạn thằng giặc vẫn còn găm trong người...

Rồi thì cứ thế, trong tiếng mưa rào rào, ùng oàng của sấm chớp, lời người đàn ông khi nghẹn lại rủ rỉ, lúc căm phẫn dâng tràn kể về những đêm hành quân bí mật dưới mưa gió, đồng đội người nọ nắm tay người kia vượt qua suối nguồn nước cuốn. Về trận đánh nảy lửa với lũ giặc trên quả đồi nắng bỏng da xém thịt. Về thế trận giằng co giữa cánh đồng trơ trọi đất đá bởi sự cày xới của bom đạn... ở nơi tuyến lửa miền Nam ấy, mồ hôi, máu, thịt đồng đội của ông trộn vào đất đá, cỏ cây.

Người đàn ông nói đến đấy rồi im lặng. Trên khuôn mặt lằn những rãnh cứa như hằn sâu thêm. Mắt nhuốm màu lửa từ bếp đỏ rực lên, sáng quắc. Chợt từ trong tấm lưới ken dày mưa gió, sấm sét dội vào vách đá, xé toang bóng tối làm thằng nhóc giật nảy người.

 Cùi tay trái của người đàn ông thao thiết, nhẹ nhàng miết trên lưng thằng nhóc trong hương thơm nồng nàn tràn ngập.
Mưa gió dai dẳng vần vũ. Lửa trong bếp chui chúi, ngả nghiêng. Gian nhà như loãng ra, rộng thênh. Thằng nhóc chưa đủ lớn để hiểu hết những câu chuyện của pa nó. Thế nhưng, có một điều mà bấy lâu nay thằng nhóc khao khát biết, mong muốn hỏi. Thằng nhóc xoay xoay bàn tay bé nhỏ khắp lồng ngực gồ ghề nhăn nhúm của pa, ngập ngừng:
- Pa à, sao pa không gọi mé về? Mé nhà mình ở chỗ nào thế pa?

Hai cánh tay người đàn ông, một lành một mất chợt thõng ra, lỏng lênh. Vết ngực người đàn ông dềnh lên hõm xuống gấp gáp rồi lại như căng cứng. Người đàn ông khó nhọc thở hắt ra, khịt mũi thật mạnh, miệng mím lại, thoát ra tiếng kêu ken két như muốn nén điều gì đó. Người đàn ông nâng mặt thằng nhóc lên, nhìn sâu vào mắt, giọng chợt trầm buồn như mây mùa thu:
- Ừ… ờ… rồi con sẽ gặp mé mà…
- Pa à, con lo mé bị đau như pa, con… con… con sợ! - Thằng nhóc chợt nấc lên.

Người đàn ông cắn chặt môi một lúc lâu, rồi bật ra tiếng ho khan, bàn tay lành lặn vẽ một đường cong không chủ định:
- Con đừng có khóc! Phải ghìm nước mắt, cho nó chảy ngược vào bụng. Nếu vấp ngã phải biết vùng dậy đi tiếp.

Nói rồi người đàn ông cười vang, tiếng cười như sóng nước cuộn dưới lòng suối hòa vào hương thơm tinh khiết, ru thằng nhóc vào giấc ngủ, tung tẩy theo nhịp ca réo rắt của côn trùng trong tiếng mưa rơi trầm bổng.
Thằng nhóc và người đàn ông ấy, chính là mình và pa...
*
*    *
Bao năm qua rồi, các vật dụng trong nhà vẫn y nguyên như hồi pa còn sống. Nước từ trên núi vẫn đua nhau lăn theo máng tre ngà chảy lóc tóc vào chiếc vại gỗ. Mình để nguyên bộ quần áo lấm bụi đường, lấy gáo vầu dội nước xối xiết. Nằm lăn ra chiếc phản gỗ, chợt thấy cuối chân phản có những chiếc lông chim đỏ rực vương vãi. Quen quá... Ồ, lông con Noộc Đeng. Nhưng... chẳng lẽ nó còn sống đến bây giờ ư?

Cái lần mình nhoáng nhoàng về nhà, pa đã ngoài bảy mươi. Vết thời gian nhô lên trên đôi vai gầy guộc. Cánh tay bị thương khẳng khiu, vồng ngực pa hõm sâu, khiến vết sẹo sẫm lại, tím tái. Vào lúc nồi cơm vừa bốc hơi chín, canh rau dớn cho gừng thơm lừng trên mâm gỗ, thì từ đầu hồi nhà, con đỏ rực từ lông đến mào sà xuống đứng im lặng bên pa.

Mình hỏi, pa bảo nó là chim quý. Một sớm mai, trong hơi sương mờ đục, pa vừa xuống cầu thang thì thấy nó nằm xõa cánh bên những giọt máu hồng dưới chân cầu thang. Con chim bị một mũi tên của tụi người ác đi săn bắn xuyên qua cánh trái. Đôi mắt nó nhìn pa run rẩy, cầu cứu. Pa đi lấy lá rừng đắp vào vết thương cho nó. Khoảng hơn một tháng thì lành. Sau khi khỏi, con chim không bay về rừng mà ở lại làm bạn với pa. Cái áo lông khoác trên người nó màu đỏ thì gọi là Noộc Đeng cho có tên. Hôm ấy, trong bữa cơm, con Noộc Đeng nhìn mình với đôi mắt dò hỏi, không thiện cảm. Pa đưa tay vuốt nhẹ bộ lông óng ả, quý phái của Noộc Đeng bảo, nó là thằng con tao đấy, không phải người lạ đâu, đừng có bực mình. Noộc Đeng gãi gãi cái mỏ vào ống chân pa. Hết ngang rồi dọc. Nhìn nó, mình thấy giống thằng hề. Thật đáng ghét.

Cơn đau bất thình lình ập đến khiến pa bỏ dở bát cơm. Tiếng khục khục từ lồng ngực bật ra mỗi lúc mỗi nhiều khiến ông rũ xuống, gương mặt méo mó biến dạng. Mình hốt hoảng chạy lại một tay giữ lưng, một tay vuốt ngực cho ông. Pa há hốc miệng ngắc ngắc tranh thủ hớp vội chút không khí để thở xen giữa những tiếng rít khè khè kéo lên từ cổ họng. Vài phút trôi qua, mồ hôi rịn ra sau gáy, mình thở phào khi tiếng khè khè nhỏ dần, những tiếng khục khục chỉ còn vang nhỏ trong lồng ngực. Có tiếng phạch phạch khẽ. Mình nhìn qua chợt giật mình thảng thốt khi thấy Noộc Đeng đang dùng mỏ day nhẹ chỗ khuỷu trên đường gân rồi chuyển xuống cổ tay ở cánh tay còn lành lặn đang để thõng bên người của pa. Đôi cánh giang rộng đập đập tạo thành luồng gió mát quạt cho pa. Chỗ con chim đang day ấy chính là huyệt khổng tối và xích trạc. Sở dĩ mình biết hai huyệt đó bởi hồi bé bị viêm phổi pa đã day và bảo mình. Chao ôi! Hóa ra mình không quan tâm pa bằng nó! Ý nghĩ ấy khiến nước mắt mình tự nhiên ứa ra, muốn lao đến ôm Noộc Đeng vào lòng mà không dám.

Hôm pa đi vào cõi hư không để trở thành người thiên cổ, khi mọi người đã về hết, mình gục đầu cúi lạy pa lần cuối giữa rừng mả âm u, lạnh lẽo, sâu hun hút. Nước mắt mình mặn chát. Noộc Đeng sải cánh như mũi tên bay xòa xuống trước mộ pa, đặt lên đó viên đá đỏ tròn xoe. Nó phủ gục, rũ xuống, lấy mỏ bứt từng đám lông. Những chiếc lông lớn nhỏ, đỏ như máu, chấp chới theo gió bay phủ lên mộ pa như một tấm thảm.

Đúng là Noộc Đeng rồi. Chính nó lao vút qua người mình như một làn gió. Bao năm qua nó vẫn âm thầm ở trong ngôi nhà hoang lạnh này chờ mình về ư? Tình nghĩa sâu nặng với pa mình, để rồi nó không muốn rời xa căn nhà nó được pa cứu sống? Sao lại có chuyện lạ đến vậy? Hay là mùi thơm đằm đượm đang dâng lên trong nếp nhà đã giữ chân Noộc Đeng? Thoảng trong gió có những tiếng vỗ cánh xập xòa, lẫn vào từng hồi từng chặp đá lăn lốc cốc. Con chim đầu đàn to sụ cùng bầy chim lông đỏ sải cánh chao lượn, chân chúng cắp những viên đá đỏ bay về ngõ nhà mình. Chúng sà xuống, dùng mỏ cào cào, san bằng phẳng những viên đá trứng gà trứng vịt. Khoảng không bừng sáng trong ánh chiều dần sẫm lại, mắt mình va vào con chim to sụ có cái mào hai lớp dựng đứng lên.

Một làn gió mát thổi tới, tụi chim nhộn nhịp bay lên cất cao tiếng hót “tu… huýt… tu tu… huýt…” bay bổng ngân nga, quyện trong hương thơm ngát kéo mí mắt mình díp lại. Trong giấc ngủ nồng say, mình nghe như có tiếng “gù gù… gù gù” êm ái kề bên, thế nhưng mắt mình nặng như đeo đá không thể mở ra.

Cổ họng khô khốc vì khát nước làm mình thức dậy. Đêm khuya lắm rồi. Tụi côn trùng đua nhau nảy từng cung bậc rì rầm, làm thành giàn đồng ca đêm cuối tháng Bảy thanh thản. Ơ! Trên ban thờ nhà mình ai thắp đèn nhỉ? Mà không phải đèn, ánh sáng phát ra từ lư hương cổ. Nguồn sáng trong trẻo, nhẹ nhàng như lọc qua lớp thủy tinh vàng nhạt pha sắc tím này mình đã gặp ở đâu? Có phải ở thảm hoa Bjooc Sluc năm xưa không? Mình nín thở, nhắm mắt lại rồi mở ra. Trong khoảng ngược sáng mờ ảo, mình nhìn thấy một cái bóng rất to mang màu đỏ đen loang lổ, trên mỏ dài quắp miếng gì đó màu trắng, di chuyển nhẹ nhàng trên ban thờ. Nó lấp ló sang phải, rồi nhanh nhẹn chuyển sang bên trái, lên lên xuống xuống nhịp nhàng. Như một phản xạ tự nhiên, mình co gối bật người đứng phắt lên, lồng ngực đập thình thịch như có ngàn vạn tiếng trống.

Xoạch… vù… vù… r..â…m… rầm. Ánh sáng trên ban thờ nghiêng chao, vụt tắt.
Bóng tối như một tấm khăn choàng trùm kín nhà. Người mình lạnh toát, vội vàng đẩy củi vào bếp vuông cho lửa cháy bừng lên.

Lúc ấy, từ phía ban thờ, Noộc Đeng run run lăn lại bên bếp, đầu nó gục xuống như mắc lỗi. Cái mỏ nó dài ra ngậm tay áo mình giật giật. Mình thở hắt ra: Mày làm tao hết hồn Noộc Đeng à.
Cứ thế, mình và Noộc Đeng ngồi sát nhau, ngập trong hương thơm trong vắt. Hương thơm đã dẫn dụ mình trở về.
*
*    *
Sáng. Hơi sương tinh khôi thấm đẫm đất trời. Noộc Đeng đứng ở ban thờ từ bao lâu rồi không rõ, mỏ ngậm khăn mặt màu trắng của pa mình trước đây, cặm cụi lau lư hương cổ. Mình sải bước đến bên nâng lư hương lên cùng Noộc Đeng lau chùi thì phát hiện dưới đế một khúc gỗ tròn đen quánh, dẻo dai tỏa hương ngào ngạt, lan xa. Mình tròn mắt. Thì ra, tổ tiên ông bà từ bao đời nay đã gói hương trầm trong lư hương bằng đồng đen quý giá, chay tịnh trên ban thờ. Kế bên bệ để lư hương cổ, một chiếc rương gỗ hình chữ nhật xinh xắn, chạm trổ những cánh chim bay trên trập trùng hoa vàng. Sụp xuống, mình chắp tay vái tổ tiên ông bà rồi từ từ mở nắp rương ra.

Đôi bàn tay múp míp của mình chợt run rẩy khi nâng tấm áo loang sậm vết máu, bọc bên ngoài quyển sổ màu xanh. Từng trang giấy trắng đã ngả màu vàng, những hàng chữ xiên xiên nhảy múa, đan xen cùng những vết máu khô.

Ngày 20 tháng 4 năm 1965
Nắng đổ lửa xuống chiến hào trên điểm cao không một bóng cây, ngọn cỏ. Đất đá bị cày xới bầm dập, lồi lõm, nham nhở vì bom, đạn cối của giặc xối xuống. Đại đội mình kiên cường bám trụ, đẩy lùi từng đợt tấn công của tụi Mĩ. Đại đội trưởng Khiết bị thương ở đầu, máu chảy xối xiết nhưng vẫn hò hét chỉ huy cho đến khi lịm trong tay mình. Khi anh mở mắt, cũng là những lời cuối cùng vĩnh biệt: “Em… ngày chiến thắng… em thay anh về Thái Nguyên, nơi những lò cao gang thép đỏ lửa… em nói với chị… anh rất nhớ…”

Khoảng lặng hiếm hoi giữa những trận đánh. Tiểu đội mình còn bốn tay súng. Mình bị thương khá nặng ở tay, và ngực. Máu ra nhiều. Kệ! Mình lấy băng quấn chặt lại. Trời ơi, sao mà ắng nóng đến thế? Mình khát nước cháy khô cổ... sao trước mắt mình có nhiều hoa lửa bay đến thế.
….
Ngày 12 tháng 7 năm 1967
Mình đã ra Bắc điều trị, không thể ở lại chiến đấu cùng đồng đội. Đau xót quá. Đồng đội mình giờ đây ai còn, ai mất mình cũng không biết. Anh Khiết ơi, em về chậm mất rồi. Chị đã hi sinh trên trận địa phòng không khi đang cùng lực lượng tự vệ bắn máy bay trên bầu trời Việt Bắc. Mái nhà tranh của anh cũng bị hố bom nuốt rồi. Bé Sáng con anh mới hơn tám tháng tuổi, cháu đang khát sữa mẹ. Xin anh cho em được nuôi cháu trưởng thành. Dù sao em cũng không còn khả năng lấy vợ, sinh con…

Ngày… tháng… năm…


Mình rũ xuống như cái xác không hồn, ngước nhìn di ảnh pa trên ban thờ. Đôi mắt pa nhìn mình bao dung, đôn hậu. “Pa... pa ơi...”

Có một luồng gió nhẹ bẫng, ngát hương, nhấc bổng mình lên, lôi mình chạy ầm ầm xuống cầu thang, lao ra ngoài rừng mả, trượt trên đá nhọn, gai sắc. Mình sai quá rồi. Cái sai nọ chồng lên cái kia nhiều năm nay dính chặt, ngấm vào từng thớ thịt, mạch máu. Nước mắt chậm chạp lăn trên gò má mình muộn màng, hối tiếc.

Noộc Đeng đã bay ra mộ pa từ lúc nào, màu lông của nó lồng trong những viên đá đỏ rực sáng.
Gió thổi ràn rạt, chân nhang trên mộ pa chợt cháy bùng bùng, kết thành quầng lửa đỏ rừng rực, bay vút lên gọi tụi mây ngũ sắc kéo bổng mặt trời tung nắng vàng trong vắt, lung linh.
 
B.T.N.L
 

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 13 trong 3 đánh giá
Xếp hạng: 4.3 - 3 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

Quảng cáo