Trôi giữa cuộc chiến

Thứ tư - 21/12/2016 12:22
. ĐINH PHƯƠNG​
  
1.
Bầu trời tháng tư như dấu thánh giá gầy guộc. Mây đóng thành tảng dày trùm kín chân trời xám ngoét. Ngày qua ít gió. Không khí nóng bức, ngột ngạt toát lên trong từng hơi thở. Vô vàn cột khói thốc lên lần hồi rồi tan biến giữa các tòa nhà lớn trong thành phố. Tất cả nháo nhào. Vội vàng trốn trong bóng quá khứ. Cái đọng lại ở thực tại là từng khoảng nghi ngờ cắt ra giữa vô vàn khúc sống khác biệt. Nhiều lúc, khi bị đặt vào một ngày tháng tư tôi thường tự hỏi dấu thánh giá ấy về đâu.

Tôi đợi chỉ để thấy Vũ.
Với khẩu Makarov mỗi đêm tôi ước mình có thể chết ở một cơn mơ nào đó thật cũ. Có Vũ. Và khung cảnh quen thuộc của Bắc Bộ một ngày bất kì của năm năm tư. Lúc tôi và cha vẫn sống yên lành với đức tin của mình. Chuẩn bị chu đáo cho mỗi buổi đi lễ vào tối thứ bảy.

Tôi tin Chúa từ mười sáu tuổi trở về trước. Còn sau đó thì không. Chẳng nhà thờ, tân ước hay cựu ước. Tôi chỉ còn tin chính những suy nghĩ của mình về một tình bạn ngăn cách bởi Vĩ tuyến 17. Một buổi tối tháng tư rất cũ tôi gõ cửa, mở cửa phòng, đi vào, ngồi đối diện cha. Lúc đó cha đang ngồi bên ấm trà nhài. Khói bay lởn vởn vi vút đậu nơi vai áo. Cha bỏ kính, để cuốn sách về hành trình truyền giáo của giáo sĩ Alexandre Rhodes bằng tiếng Pháp xuống mặt bàn. Ngẩng đầu lên hỏi.

“Con tìm cha?”
“Con muốn nói chuyện với cha về việc con muốn dọn ra ở riêng và mở một quán cà phê nhỏ.”
“Ở nhà con có thiếu gì đâu. Cha muốn con ở bên cùng cha mãi mãi phụng sự Chúa vĩnh hằng.”
“Con xin lỗi cha. Con có cuộc sống của riêng con. Con không còn tin Chúa nữa.”
“Thế sao con còn vào Nam?”

Cha cố gắng kìm giọng nói của mình xuống đến nhỏ nhất. Sự điềm đạm sắc lạnh giấu kín sẵn sàng bật tung. Mím chặt môi, bật máu, máu loang theo cằm nhỏ giọt xuống đất. Mặt tái nhợt. Tay run run nắm chặt cốc nước trà đang nguội dần. Ngày theo Chúa vào Nam trên cảng Hải Phòng mặt ông cũng tái thế. Gió biển mặn chát che vội giọt nước mắt mềm yếu giấu sau áo thụng. Mưa phạt nghiêng buốt nhức. Từng con sóng xô dạt vào bờ chém vung vít những suy tư không đầu, cuối. Trên tàu ông làm dấu thánh, đọc kinh và lạy Chúa. Gạt bỏ hết các mối quan hệ họ hàng, làng xóm. Bốn mươi năm cuộc sống nơi làng quê trở thành con số không tròn trĩnh.

Tôi không giống ông. Tôi cố gắng chen lấn giữa những đức tin hằn học và yếu đuối đi về cuối tàu nhìn lại đám người đỏ đen vây quanh bờ biển. Vũ ở trong đám người kia. Chiếc áo trắng tôi tặng Vũ ngày đi thấp thoáng ẩn hiện.

“Viễn ơi.”
Vũ gọi. Tôi nghe tiếng Vũ âm âm. Người xung quanh đi tiễn cùng Vũ biến mất. Bờ biển trống hoác. Chỉ còn chiếc áo trắng thấp thoáng bay từ trái sang phải, trước ra sau.
“Viễn ơi Viễn.”
“Viễn đây Vũ ơi.”

Vũ gọi. Tôi trả lời khẩn thiết. Thân thể Vũ biến mất. Chiếc áo trắng hóa đỏ bay nhập vào biển. Sóng biển giận dữ trào dâng, đỏ ối. Thuyền chòng chành. Tiếng Vũ hút sâu. Nếu cha không kịp giữ lại tôi đã lao xuống biển cùng hình ảnh về Vũ.
Lúc này Chúa trong ông đang quẫy đạp đòi trừng phạt tôi. Nhưng đồng thời nửa không Chúa lại đòi tha cho tôi bởi tôi là con ông. Huyết thống gắn với kí ức.
“Con chờ Vũ.”
“Người đi giữa cuộc chiến hứng đạn hai bên.”

Cha thảng thốt dằn mạnh cốc xuống bàn, nước chao nghiêng. Ông đứng dậy mở cửa sổ. Khoảng cô đơn tối sẫm nhức nhối bủa lấy căn phòng. Mắt ông ngấn nước. Vài chiếc xe máy, xe đạp, mấy gánh hàng rong lẻ tẻ đi qua. Mai chiếu thủy tỏa hương phảng phất. Trời tháng tư oi nồng, ít gió.

Cũng trong một sáng tháng tư cha đặt dưới gối tôi phong bì với số tiền đủ mở một quán cà phê nơi hẻm nhỏ không tên trong thành phố. Ông vào phòng lúc tôi đang ngủ. Giữa giấc mơ dang dở về Vũ. Hôn nhẹ lên trán, cầu Chúa ban phước lành cho kẻ nhầm đường lạc lối, để vật cần để, rượm bước đi.

Ra gần đến cửa ông bước quay lại nhìn tôi trìu mến. Tay ông vuốt nhẹ mớ tóc lòa xòa trước trán. Tôi sinh ra đã không có mẹ, cha là người thân thứ hai của tôi sau Vũ. Tuổi trẻ của ông cũng đã qua đi trong rồ dại. Từ một người không đạo, yêu mẹ, một người có đạo, mà ông theo đạo.

Cảm giác tỉnh thức đau buốt. Tôi trở mình quay vào tường khóc. Tường loang lổ chảy. Nước mắt loãng tháng tư. Tôi uống nước mắt chính mình để thấy nỗi đau cha trải qua.
Cha gọi tên mẹ thay vì cầu Chúa.
Phong bì trắng, không dán, không ghi tên.

 
FullSizeRender (15)
Minh hoạ: Đào Quốc Huy
Ngày tôi vào chào cha để dọn ra ở riêng cũng là một ngày rất trắng. Cái trắng do nắng phương Nam chiếu vào bức tường đối diện bàn uống nước cha vẫn ngồi làm việc. Bộ pyjama cha tôi mặc cũng trắng. Ông không ngẩng lên nhìn tôi. Cắm cúi ghi hết dòng này sang dòng khác, trang này sang trang khác. Cặm cụi trải suy nghĩ của mình trên giấy. Thỉnh thoảng đứng dậy ra giá sách tìm cuốn cần tra cứu đem về bàn. Ông không quay lưng nhìn tôi. Vết sẹo trên môi chưa lành. Khoảng lưng trắng còng xuống sau tiếng thở dài ngắt quãng.

Thời gian bàng bạc tãi ra theo từng tiếng ngân của chiếc đồng hồ treo tường.
“Cha ơi con vào chào cha.”
Cha không nghe thấy lời tôi. Nhấc chiếc cốc lên. Tôi tin sẽ thấy mình trong cốc. Song rốt cuộc chẳng thấy gì. Chỉ là một ngày rất khác khi sự tự do được đặt cược vào tháng tư.
 
2.
Quán cà phê gồm hai tầng. Tầng trên để ở. Tầng dưới sửa sang lại qua loa, trang trí và thêm vào ít bàn ghế. Ngôi nhà đầu tiên là của một lão già gốc Thanh từng đi lính cho Pháp. Sau anh con trai thừa kế bán lại cho tôi với giá vừa phải. Anh ta sợ căn nhà, sợ chính cái áp đặt nguồn gốc mà anh không thể chối bỏ.

“Đời này tôi phải tìm bằng được cha tôi. Người sống hoặc một nhúm xương cốt đã hòa với đất.”
“Ông ấy ở đâu?”
“Cha tôi đã từng sang Algerie, Tunisie, Sénégal… làm bia đỡ đạn cho người Pháp. Cuối cùng biệt tích ở một miền đất nào đó mà không ai biết chính xác. Lúc tôi ra đời thì ông ấy đã đi rồi.”
“Thế anh định đi đâu để tìm?”
“Tôi tìm trong những cơn mưa.”

Anh trả lời, mắt nhìn cắm xuống đất, hai tay nắm vào nhau thật chặt. Tôi im lặng, khóe mắt cay cay, biết tìm đâu cơn mưa có cha anh ở trên cái quả đất chưa khi nào ngừng nghỉ giao tranh này. Xương người này lẫn xương người kia. Khuôn mặt người này nhầm sang khuôn mặt người khác. Hiền lành lẫn ác nghiệt trộn chung với nhau.

“Tôi tin anh sẽ nhanh chóng tìm được cha.”
Anh khẽ thở dài. Tôi chủ động chấm dứt cuộc trò chuyện. Tôi đưa tiền, anh ta đưa giấy tờ, chúng tôi chào tạm biệt nhau. Dáng anh ngả về cuối đường xiêu xiêu chực đổ.

Tôi biết chắc chắn anh ta sẽ không bao giờ trở lại đây nữa. Lịch sử xóa tên cha con anh nhanh như lúc hai người tưởng mình có thể mon men đến gần với lịch sử. Triệu triệu người, lớp này nối lớp khác trên cái đất nước này bị lịch sử nghiền nát đến thảm hại. Tôi và Vũ cũng nằm trong cái guồng quay ấy không sao thoát ra.

Quán không có mấy khách. Tôi vừa làm chủ vừa là người phục vụ. Tôi đặt tên quán là Vũ.
Ngày đầu tiên khai trương không khách. Tôi đợi từ sáng sớm đến chiều, đóng cửa khi khoảng thời gian của đêm ập xuống. Tự lấy rượu uống đến say. Vodka ồng ộc chảy nhạt thếch và hoảng loạn. Bầu trời ập xuống rất thấp. Thành phố không mấy khi có bão. Tôi nhớ đến cồn cào những cơn bão tháng sáu Bắc Bộ. Gió đu trong sợ hãi hoảng loạn. Mưa ràn rạt trôi qua thính giác. Vị giác nghèn nghẹt giữa từng hơi thở gấp gáp. Thị giác nhập nhòa tối sáng. Đói lẫn lo lắng và khoái cảm. Vũ ngồi bên cạnh nói về ước mơ của mình. Vũ ước lớn lên sẽ đi bộ đội, được bắn súng, ném lựu đạn đùng đoàng. Đứa trẻ nào trên cái mảnh đất khổ đau, nghèo đói này cũng ước mơ như thế.

Tôi nghe, nhắm mắt lại là thấy máu. Máu thay bão ào vào các giác quan. Máu dâng ngập bàn chân chưa dừng lại.
“Viễn ước lớn lên làm gì?”
Tại sao tôi phải trả lời. Lúc nào Vũ cũng tỏ ra mạnh mẽ. Rồi sự mạnh mẽ ấy để làm gì trên cái đất nước này. Tôi chỉ thích là một con người bình thường. Có một gia đình bình thường. Không đức tin lẫn chính trị. Không phải giết ai, hận thù ai. Dù mọi người vẫn gọi tôi là một thằng ranh cua bấy, mềm oặt và vứt đi. Chúa trước tuổi mười sáu dạy tôi yêu thương tất cả mọi người.

Tôi uống chưa hết tháng tư. Say dở dang cơn bão tháng sáu Bắc Bộ thì Tim đến. Tim ngồi quán hết tháng tư, sang cả tháng năm lẫn tháng sáu. Hôm nào cũng đen đá. Tim ngồi chứng kiến tuổi hai sáu của tôi qua đi trong một ngày thành phố nóng như lửa đổ. Từ tuổi hai sáu trở đi tôi không còn nhớ tuổi của mình là bao nhiêu nữa. Tôi đoạn tuyệt với thời gian. Chấm dứt việc xé lịch lẫn xem đồng hồ. Và làm quen người bạn thứ hai sau Vũ.

“Xin chào. Có thể kiếm cho tôi một khẩu súng ngắn được không?”
Tôi kéo ghế ngồi đối diện. Bộ quân phục rằn ri thẳng thớm vừa khít. Không cầu vai. Tóc vàng cháy. Mắt xanh nước biển. Mặt rộng. Râu mọc lởm chởm. Vết xăm hình đại bàng chạy ngang cổ sang trái chỉ nhìn thấy phần đầu lởm chởm lông đang rướn lên kiêu ngạo. Hai tay khoanh trước ngực. Cảm giác về nỗi cô đơn lớn hơn là cảm giác xa lạ.

“Loại gì?”
Tiếng Việt rõ ràng, ở chính giữa cảm giác vui buồn. Anh ta biết trước tôi sẽ hỏi câu đó.
“Dễ sử dụng, sát thương mạnh.”
Tim gật đầu. Đến khi tôi bắt đầu cười nhạo sự cả tin của mình thì Tim quay lại. Gọi đen đá. Khi tôi mang cà phê ra thì anh đặt khẩu súng lên bàn.
“Makarov, Liên Xô, dễ sử dụng, trọng lượng vừa phải, sức xuyên phá mạnh ở tầm gần.”
“Để tự sát là một điều hoàn hảo.”
“Tôi phải trả anh gì?”
 “Không gì cả.”

Tôi nhờ Tim lắp một viên duy nhất vào băng đạn, số còn lại mang đi đâu thì mang.
 “Đời đầy may rủi.”
 Tim lắp, chỉ cách đóng, mở chốt an toàn, trao súng cho tôi, quẳng số đạn còn lại lẫn cầu vai của mình vào thùng rác bên cạnh chân. Vài ngôi sao nháng sáng trong ánh mặt trời trước khi nằm chung với nhiều thứ bẩn thỉu.
“M… kiếp. Vinh quang nào chẳng lấm máu.”

Chửi. Không dặn gì thêm. Trên cơ thể con người không có nhiều điểm có thể dẫn đến cái chết tức thời. Cảm giác nhớ Vũ đến cồn cào. Tình bạn của chúng tôi liệu có khác gì khi xuất hiện thêm khẩu súng và Tim. Những nhân vật, đạo cụ trên sân khấu ẩn mình chưa ra hết. Tôi trốn mình vào góc phấp phỏng chờ đợi. Vũ còn mải hóa trang, học thuộc lời thoại cho ngày gặp gỡ. Vũ không vội. Nhởn nha ngày một biến cái ước mơ thuở nhỏ của mình thành hiện thực.

Người Tim có mùi cỏ vò, vị tỏa ra hăng hắc, ngai ngái. Mùi cỏ gợi tôi nhớ đến Vũ. Uống thật say bên Tim tôi hỏi Vũ giờ này làm gì. Giết một ai đấy với đôi tay vấy máu. Chết rục ở góc rừng nào đó vì đói và sốt rét. Đang làm tình cùng một cô gái mà Vũ chưa biết tên. Bị bắt hoặc đầu hàng sau trận chiến khốc liệt. Đào ngũ bị rong đi khắp làng.

Tôi đặt tình huống và uống.
Mừng cho khoái cảm của Vũ. Mừng cho chiến công của Vũ. Mừng cho tội ác được ghi nhận. Buồn cho sự tủi hổ Vũ đã trải qua. Vật lộn với cuộc chiến đấu nội tâm dai dẳng Vũ đang chiến đấu. Sợ hãi với bản năng con người ai cũng có. Nghi ngờ điều mình tin tưởng trong hoàn cảnh cam go nhất.

Tôi trong lúc nào đó hóa thân là Vũ. Sự hóa thân mang màu khập khiễng. Vũ biền biệt không tin tức. Đài phát thanh ra rả những cái tên. Trong đó có nhiều Vũ. Chẳng có Vũ nào tôi cần tìm.

Tim vẫn đến từ sáng sớm. Thỉnh thoảng, có ở lại qua đêm uống thật say. Hứng lên tâm sự.
“Tôi chỉ thích làm cựu binh chứ không muốn làm chiến binh. Mấy chục năm sau dứt khoát trở lại nơi đây xem tất cả thay đổi thế nào. Con người có còn mang trên mình sự nhẫn nại đến tội nghiệp.”

Tim nói, cái danh cố vấn với anh không thích hợp. Chẳng có việc gì làm ngoài nghe báo cáo và đưa ra vài chỉ thị giết người này người kia, đưa quân đến chỗ này chỗ nọ. Đến cái của nợ tôi kiếm cho cậu cũng từ một chỉ thị như thế. Nó đến từ phía bên kia, của một người chỉ nhìn thoáng qua song sắt. Khi sự tra tấn đã biến con người trở nên khác.

“Người ấy tên gì?”
“Vũ. Không nhớ họ.”
Tôi lặng đi.
 
3.
Với khẩu Makarov trong tay.
Tôi sẵn sàng lấp đầy quá khứ bằng sự hiến dâng sinh mạng mình. Cái còn lại là một nhúm kí ức tao loạn của cha, của Vũ, của Tim, nhóm người quen, họ hàng bôn ba, chìm nổi hết trại tị nạn này sang đến trại tị nạn khác. Hoặc giả không may mắn nó sẽ chìm xuống làm mồi cho cá giữa đại dương.

Song không phải lúc nào quá khứ cũng để tôi yên.
Cầm khẩu Makarov lên. Mở chốt an toàn. Chầm chậm đưa nòng súng vào thái dương bên phải, tay đặt vào cò sẵn sàng siết nhẹ. Chết ở vị trí này sẽ không ai nhận ra khuôn mặt của tôi. Bung bét hết cả não, xương, tóc và máu. Tôi đổi vị trí, xuống ngực. Tim đập nhịp một đều đặn bền bỉ. Ngộ nhỡ không trúng tim, tay run run chệch đi vài phân. Sẽ rất phiền. Tôi sợ đau đớn hơn cả chết. Đặc biệt lại là đau đớn trong một ngày tháng tư.

“Tự sát thế nào để chắc chắn chết.”
“Mở miệng, ngậm vào, chếch nòng súng cao về phía não. Bóp cò.”
“Chắc chắn.”
“Đời đầy may rủi.”

Giọng Tim lạnh tanh. Gục xuống. Tôi nôn thốc nôn tháo. Tôi nôn xuống tháng tư sắp kết thúc. Nôn vào chính cái mục đích mình đã sống mấy chục năm nay. Vì Vũ. Vì sự sum họp giả tạo mà tôi biết chắc chẳng dẫn đến điều gì tốt đẹp. Vì Vũ tôi đã bỏ cha lại một mình. Vì Vũ tôi đã không còn là tôi của tuổi mười sáu ngập tràn đức tin và lòng yêu thương con người. Vì Vũ mà tôi đã biến sự ảo tưởng của mình thành hiện thực. Gặp gỡ ư. Rồi để làm gì? Thời thơ ấu khốn khổ ấy đã qua mấy chục năm nay. Vũ có khi chẳng còn nhớ tôi là ai trong mớ người đã đi qua cuộc đời mình.
Ngày ấy, giữa cơn mưa phùn lạnh tím tái của miền Bắc. Trước giờ lên đường ra Hải Phòng, ngồi ngang chiếc cầu bắc qua dòng sông cạn, Vũ hỏi.

“Mày thực sự tin chứ?”
“Tao không biết. Thực lòng tao chỉ tin vào tình bạn của mày.”
“Rồi tao sẽ bắn nát cái niềm tin của mày ra?”
“Để làm gì?”
“Tao không biết.”

Hơi thở hai đứa trắng toát. Trong cuộc chiến của riêng hai chúng tôi còn bao điều chưa biết lẩn khuất nữa. Đáng ra Vũ không nên trả lời câu hỏi của tôi. Đáng ra Vũ phải nhổ nước bọt, đấm vào mặt, đá vào người, xé nham nhở áo quần tôi như bọn trẻ con trong cái miền quê nghèo lúc nào cũng nghĩ tới khói lam chiều đã làm. Đáng ra Vũ phải coi tôi là kẻ thù cần tiêu diệt, không cùng giai cấp, không thể chơi cùng, nói chuyện cùng ngay từ giờ phút gia đình tôi quyết định vào Nam.

Sự tốt bụng chỉ làm tăng nghi ngờ.
Giờ tao loạn điểm lấm tấm trên những cơn mưa rắc trắng đầu hai đứa. Tôi chỉ lo Vũ cảm. Lúc ấy, Vũ lo sợ sẽ bắn chết tôi giữa niềm khoái cảm của lí trí và dằn vặt kí ức. Cuối cùng, tôi biết Vũ sẽ chọn lí trí như bao lần trong trò chơi trốn tìm Vũ kiên quyết không ra khỏi chỗ nấp để mặc kiến cắn đến đỏ chân.

Với tay nhấp ngụm nước vừa rót từ bình. Âm thanh nước va vào thành thủy tinh thành dòng xoáy mạnh. Lớp váng vẩn đục lờ đờ trên bề mặt nước khiến tôi đột nhiên thấy ngột ngạt. Mở bừng cửa sổ, cánh cửa đập vào bờ tường chát chúa. Dòng kí ức tưởng đã ngắt ra bừng sống dậy chen lẫn tiếng pháo dập xa xa vọng tới. Dưới đường ngổn ngang xác lính, xác dân, tủ, xe, cùng những cuốn sách mới hôm qua còn bày chỉn chu trên giá. Báo chí mới hôm qua vẫn hùng hồn khẳng định sẽ tử thủ thành công, phía Bắc Việt không thể nào xuyên qua làm chủ thành phố.

Thế mà…
Tôi không yêu cái thành phố sắp bị tháng tư nghiền nát này. Nhưng cũng đồng thời tôi không mong nó bị phá hủy. Trò chơi của Chúa tạo thành góc cạnh trên những khuôn mặt khác Chúa.

Trong tiếng pháo ấy chắc chắn có phần của riêng Vũ, sự căm hận dành sẵn cho sự phản bội. Tôi lơ lửng trôi giữa cuộc chiến. Biết đi đâu về đâu? Bên nào cũng tràn ngập hận thù.

Cốc nước có hình Vũ. Một dạng tồn tại của tuổi mười sáu không tan đi lưu cữu trên thành cốc.
 
4.
Cha đến tìm tôi vào một ngày tháng tư. Tóc trắng xóa buông dài sau lưng. Cha vẫn minh mẫn. Từ ngày tôi đi cha chỉ chú tâm dịch sách, không quan tâm đến thời cuộc, chẳng hằn học, hận thù. In cuốn nào cũng gửi tặng. Rồi sau này những cuốn sách của cha sẽ theo gió bụi về với cha. Giấy vụn vô tri.

Cha im lặng nhìn khoảng sáng trong mắt tôi. Bao năm qua tôi chỉ về nhà vào mỗi dịp tết. Cha ngồi nhìn tôi uống. Say khướt, khóc lóc và chửi bới. Dọn dẹp đống rượu lẫn nhớt dãi từ bụng tôi ọc ra. Rửa mặt mũi, thay quần áo, dìu tôi vào phòng, đắp chăn nhìn tôi ngủ. Cha nhẫn nại trong những ngày sum họp ít ỏi của mình. Còn tôi thì chỉ biết uống. Uống để quên hết đi cảm giác bị Vũ bỏ rơi. Uống để xóa mặc cảm tội lỗi trước cha. Uống như chạy trốn.

Rồi khi trở lại ngõ nhỏ thẫn thờ nhớ hình ảnh cha gầy guộc trong bộ pyjama trắng ngồi cắm cúi viết.
“Con bất hiếu.”
“Con có niềm tin của riêng mình, cha không trách.”
“Nhưng niềm tin ấy sai.”

“Kiên định lên con.”
“Con sợ.”
“Henry Miller đã viết, để được yêu đương là hoàn toàn cô đơn.”
“Cha có cô đơn?”
“Cô đơn không tự nảy sinh trong mỗi người. Cảm giác ấy luân chuyển tuần tự từ người này sang người khác.”

Tim đến tạm biệt. Tháng tư nở đỏ rực bởi máu. Tim mặc bộ đồ bà ba thay vì áo rằn ri. Chúng tôi không uống. Cảm giác cô đơn bên nhau quan trọng hơn việc giết chết lí tính lẫn cảm tính bằng rượu. Tim hát. Nhạc, lời lẫn vào tháng tư. Nóng day dứt. Buồn lạ lùng. Quãng đời phía trước mông lung gió dại. Tôi thở dài. Tim gầy guộc, mắt bớt xanh, hai má hóp, râu mọc thành từng mảng lớn hai bên má bết đặc mồ hôi.

“Tôi sẽ trở lại Việt Nam.”
“Vẫn ước mơ cựu binh?”
“Ngay từ nhỏ tôi đã ước mơ được làm cựu binh.”
“Liệu có thoát khỏi cuộc chiến này với danh nghĩa chiến binh?”
Mắt Tim tối sẫm. Xanh chuyển đen. Mùi cỏ vò bỏ đi.

Hai năm sau ngày về Mĩ Tim chốt cửa tự bắn vào đầu mình bằng một khẩu Makarov tương tự khẩu đã tìm cho tôi. Cái chết đến tức thì. Tim chẳng bao giờ có cơ hội đi đâu nữa. Người ta phá cửa, nôn mửa, gói Tim trong quan tài thả chầm chậm xuống nghĩa trang thành phố.

Cái cuộc sống chứa Tim trong hai năm ấy không phải là cuộc sống của Tim. Xứ nhiệt đới gió mùa đã giết chết Tim về mặt tâm hồn.

Tháng tư hoa trắng lác đác phủ quan tài.
Tôi chờ tàn tháng tư thì Vũ đến trong hình hài chiếc bóng.
Tôi hỏi Vũ sao giờ mới đến.

Bóng Vũ im lặng không nói. Một tay đưa lên đưa xuống từ mặt bàn xuống gầm bàn, tay kia xuyên từ bên này qua bên kia chiếc cốc uống nước có hình hoa trà. Bóng Vũ trong suốt. Hơi nước thành nguội ngắt. Vị đắng đọng trong không gian lan đến tận góc phòng. Tôi thấy vị đắng đi vào mình, mang mùi nặng trịch quá vãng. Càng cố gạt đi thì càng đẩy sự xâm lấn diễn ra nhanh hơn.

Tôi hỏi bóng Vũ…
Bầu trời đọng qua mắt bóng thoáng trở xám xịt. Áng mây trắng bay qua có hình lá dứa sau tan thành hình chiếc ủng hòa vào đám mây bên cạnh không có hình gì. Tiếng nói của tôi chìm xuống vùng sáng lạnh của một ngày tháng tư. Bao giờ nó sẽ ngoi lên được để đến chỗ bóng Vũ? Tôi không biết. Ô cửa kính nhìn xuống đường chia cái nhìn của hai đứa thành vô vàn khúc rời khác nhau. Tôi tìm Vũ xa lắc lư trong kí ức. Ngày ấy Vũ rất xanh, vùng cỏ nơi tôi sinh ra xanh biếc đến nhức mắt. Tôi và Vũ lăn qua hết mùa cỏ này đến mùa cỏ khác cho đến ngày tàn tạ... 
 
Đ.P
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

Quảng cáo