Tuấn mã sứt môi

Thứ sáu - 09/12/2016 12:30
. NGUYỄN KHẮC NGUYỆT

Có những thứ đã hằn sâu trong tâm trí nhưng lại giống như những cơn mưa bóng mây. Thoạt như mưa đấy mà không phải mưa. Thoạt nắng đấy cũng chẳng phải nắng, cứ nghĩ nó cũng chỉ còn trong kí ức mình mà thôi thì bất ngờ vào một dịp nó bất thần hiện ra… Và con tuấn mã sứt môi của tôi là một trường hợp như thế. Năm 1995 khi về dự Lễ kỉ niệm 30 năm ngày thành lập Đoàn H03 xe tăng. Trong lúc chờ đợi, tôi tới Ban kĩ thuật yêu cầu đồng chí trợ lí ngành tra sổ sách tìm giúp. Cũng là hú họa chứ chẳng tin sẽ thấy. Quá bất ngờ! Nó vẫn nằm trong danh sách xe chiến đấu. Tôi bán tín bán nghi không hiểu có sự nhầm lẫn hoặc trùng tên không nên bỏ cả dự lễ chạy sang khu kĩ thuật. Thì kia, nó kia rồi! Con số 380 trên thân xe sơn màu vàng, nó nhàn tản nằm nghỉ ngơi cạnh những chiếc xe khác.

Mày đấy ư, tuấn mã sứt môi? Tôi sung sướng gần như bật lên một tiếng reo như thế và lao đến! Nhưng sao nó lại mới vậy? Màu sơn xanh bóng không một hạt bụi, cái môi sứt đã được thay thế bằng một cái cửa xả lành nguyên! Vẫn chưa tin tôi phi người lên tháp pháo để tìm lỗ thủng - chứng cứ tin cậy nhất để minh định đó có phải tuấn mã sứt môi của tôi không. Vâng! Đúng là nó thật! Cái lỗ thủng giờ đã được hàn lại bằng một tấm thép song vẫn không xoá đi được những vết sứt sẹo trên cửa pháo hai, trên bệ giá súng. Trong một thoáng tôi như thấy Duyệt đang ngồi dựa lưng vào khẩu 12 li 7, tay ôm cây đàn guitar bập bùng bản nhạc “Chiều Matxcova”, còn Luông, Thọ và tôi tựa lưng vào tháp pháo thả hồn theo từng nốt du dương.

Tôi chui vào trong xe. Chỗ nào cũng sáng bóng, sạch bong. Tôi kéo thử cần lái - vẫn chắc chắn, nhẹ nhàng như xưa. Hóa ra, tuấn mã sứt môi của tôi đã trải qua một cuộc “đại tu”. Bên trong tấm thân già nua của nó là những trang thiết bị mới, các loại vũ khí cũng được bổ sung đầy đủ nên vẫn cường tráng trong đội hình sẵn sàng chiến đấu của đơn vị. Tôi thầm cảm ơn những người đồng đội trẻ đã “cải lão hoàn đồng”, làm hồi sinh sức chiến đấu cho con tuấn mã bị thương của tôi.

Ôi! “tuấn mã 380” - tuấn mã sứt môi thương mến của tao! Mày đã cùng thế hệ chúng tao đi đến cùng cuộc chiến tranh giải phóng đất nước. Và giờ đây, khi chúng tao đã nghỉ ngơi, thì mày, với nguồn sinh lực mới lại sẽ cùng những đồng đội trẻ của tao tiếp tục trong những cuộc trường chinh mới nếu như đất nước, dân tộc mình gặp phải họa xâm lăng để gìn giữ hương hỏa của tổ tiên bao đời truyền lại.
*
*    *
Xin được bắt đầu câu chuyện về anh bạn tuấn mã sứt môi của chúng tôi bằng một lời đính chính: Đó không phải là một con ngựa mà là tên cánh lái xe đại đội 4 đặt cho chiếc xe tăng số hiệu 380 của tôi. Chẳng là trong một lần kéo nhau, nó bị chiếc xe sau chồm lên, cả một băng xích chà rách tả tơi lá chắn bùn sau và làm bẹp dúm cửa xả. Để tiếp tục hành quân, chúng tôi phải đục một lỗ cho khí xả thoát được ra ngoài, vì thế tiếng nổ động cơ không còn trầm ấm và chắc nịch như trước mà cứ “phèn phẹt” như tiếng người bị sứt môi, trong khi trước đó, trong một bài báo tường, tôi đã ví nó như “một con tuấn mã”. Chính vì vậy cánh lái xe trong đại đội liền thêm hai từ “sứt môi” vào làm phụ danh cho nó.
 
XE TANG
Xe tăng Lữ đoàn 203 tiến vào Dinh Độc Lập 1975          Ảnh: TL

Tuy có hơi tự ái, song tôi luôn tự hào về con tuấn mã sứt môi của mình. Trước hết, đại đội có 8 xe trong khoảng từ 380 đến 390 nên đương nhiên nó là anh cả, là số một. Thứ hai, 380 là xe duy nhất trong tiểu đoàn được trang bị một cái cẩu để phục vụ sửa chữa dã ngoại. Tất nhiên, đó chỉ là một cái cẩu dùng pa lăng kéo tay. Tuy vậy nó cũng được việc ra trò: những ngày sau Hiệp định Paris tôi cùng con tuấn mã sứt môi của mình rong ruổi đi phục vụ trung tu, tiểu tu cho cả tiểu đoàn. Cũng nhờ những chuyến đi phục vụ sửa chữa đó, tay nghề của tôi vững lên rất nhiều.

“Chiến mã” thì như vậy còn các “kỵ mã” cũng không đến nỗi nào. Trưởng xe Nguyễn Đình Luông người Thanh Hoá có dáng dấp của một đô vật. Anh đã tốt nghiệp trường trung cấp thể thao của tỉnh, đã có thâm niên trưởng xe mấy năm nên sử dụng điện đài, vũ khí rất thành thạo. Pháo thủ Trương Đức Thọ người Vũ Thư, Thái Bình là người rất chịu khó mày mò, học hỏi nên tính toán phần tử bắn và thao tác vũ khí rất nhanh. Pháo hai Vũ Xuân Trực người Lập Thạch, Vĩnh Phú dáng vóc thấp đậm rất phù hợp với “nghề nghiệp” pháo hai. Còn tôi, như đã nói ở trên, nhờ được rèn rũa nhiều nên tay nghề cũng khá.

So với các xe trong đại đội thì xe tôi có tuổi bình quân trẻ nhất và có thể nói cũng khoẻ nhất, làm gì cũng băng băng. Nhìn bọn tôi cùng lúc điều chỉnh 2 băng xích, đại đội trưởng Thận phải tặc lưỡi: “Nếu thi đấu vật nhau với kéo co chắc chắn xe này vô địch toàn quân!”. Nhưng riêng về khoản “tình yêu, tình báo” thì kém nhất: trong bốn tên, chỉ có pháo thủ Thọ là có “tí tình vắt vai”, còn Luông, Trực và tôi vẫn chưa hề biết mùi vị tình yêu nó như thế nào. Có lẽ vì thế mà bao nhiêu tình cảm chỉ còn biết dồn cho nhau và dồn cho con tuấn mã sứt môi thương mến mà thôi. Cũng vì yêu quý nên tôi và mấy anh em đều hết lòng chăm bẵm nó. Lúc nào nó cũng sạch bong, đủ 5 tiêu chuẩn kĩ thuật… và bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng lên đường.

Thế rồi cũng đến lúc chúng tôi được dùng tới.
Ngày 20 tháng 3 năm 1975 đại đội tôi được lệnh lên đường đánh Huế. Thành Huế có một ý nghĩa đặc biệt đối với mỗi chúng tôi. Cách đây đúng 3 năm, khi cuộc tiến công chiến lược năm 1972 bắt đầu thì đại đội tôi đã được lệnh hành quân vào Tây Huế để hình thành mũi vu hồi tiến công giải phóng Huế theo đường 12 (ta gọi là đường 72). Tách ra khỏi đội hình của Lữ đoàn 203, chúng tôi lặng lẽ vượt Trường Sơn nhằm hướng Nam thẳng tiến. Sau gần một tháng hành quân, đêm đi, ngày làm công tác kĩ thuật, dưới là đèo cao, dốc đứng, đường lầy, trên là máy bay lùng sục, đánh phá, thỉnh thoảng lại một đợt “toạ độ B52”, chúng tôi đến vị trí tập kết quy định trên đường 12 cách Huế chừng hơn 30 cây số vào cuối tháng 4 năm 1972. Cuộc hành quân cấp tốc thành công nhưng chúng tôi cũng đã gánh chịu những tổn thất đầu tiên: xe 388 cùng với 4 thành viên kíp xe đã hứng trọn một quả bom B52 giữa sân bay A lưới. Tuy nhiên, do chiến dịch phát triển không thuận lợi, “xê 4” chúng tôi được lệnh “án binh bất động” để chờ thời cơ. Không ai có thể ngờ sự chờ đợi đó kéo dài suýt soát 3 năm như thế… Giống như võ sĩ sau những ngày dài ẩn mình chờ lên võ đài, chúng tôi cũng thế, háo hức xen lẫn hồi hộp, âu lo… Nhưng tất cả đều quyết tâm cho một cuộc lên đường. Đêm 22 tháng 3 chúng tôi được lệnh hành quân đi đánh cứ điểm núi Bông gần Huế với một nghiêm lệnh: “Từ đỉnh Động Truồi đi xuống tuyệt đối không được bật đèn” vì từ dưới dốc nhìn lên, một que diêm cũng rõ và ngay lập tức sẽ bị pháo binh địch dập xuống ngay.

Động Truồi là một con đèo khá dài vì nó là con dốc từ Trường Sơn xuống đồng bằng, đường quanh co, hiểm trở, một bên là ta luy dựng đứng, bên kia vực sâu thăm thẳm, thế mà chúng tôi lại phải lái mò mới gay chứ. Có thể nói đây là một thử thách lớn lao không chỉ với riêng tôi. Vì tôi đã được đi trinh sát đường cơ động trước nên “tuấn mã 380” của tôi được vinh dự dẫn đầu đội hình. Mò mẫm suốt đêm đến 5 giờ sáng, chúng tôi cũng đã tới được vị trí “điều chỉnh cuối cùng” cách chân núi Bông chừng 3 km. Đúng lúc đó bầu trời như bị xé nát bởi hàng trăm quả đạn pháo, hoả tiễn H12 và cả cao xạ 37 li hạ nòng bắn vào cứ điểm. Ngay lập tức, chúng tôi được lệnh tăng tốc chiếm tuyến triển khai. Trời đã sáng rõ nên chúng tôi chạy với tốc độ cao nhất có thể. “tuyến triển khai là một sườn đồi đối diện với núi Bông, cách chân núi chừng hơn 1 km. Khi thấy 2 xe trước dàn đội hình, tôi về số 2 tăng chân dầu. Ngay sau đó thấy Trưởng xe Luông hỏi Thọ: “Có nhìn thấy mục tiêu không?”. Thọ trả lời: “Nhìn rõ!”. Luông bảo: “Thế thì bắn đi. Trực liên tục nạp đạn nổ nhé!”. Mấy giây sau tôi thấy “Uỳnh”, rồi tiếng vỏ đạn rơi loảng xoảng trong xe. “Tuấn mã” của tôi hơi sựng lại rồi chồm lên, cứ vài chục mét lại bắn một phát. Tôi tiếp tục tăng tốc độ để vượt một cái khe. Đột nhiên một bụi le chờm lên mũi xe và nằm chình ình ngay trước kính lái. Tôi khẽ thở ra. Xe đi vào nền đất yếu nên mũi xe xục xuống đội gốc le trượt lên, nếu tiếp tục đi tới sẽ sa lầy. Tôi vội dừng xe cấp tốc rồi vào số lùi. Lùi hơn chục mét tôi nhích đầu xe sang trái tìm đường khác vượt qua thì nghe Trưởng xe Luông hét vào máy: “Dừng lại! Xuống là chết đấy! Cả 386, 381 bị lầy rồi”. Tôi hé cửa nhìn sang phải thấy xe 381 đã bị ngập gần hết băng xích, còn xe 386 của đại đội trưởng Thận thì chỉ hở cái tháp pháo. Thật hú vía, nếu cứ dấn ga mạnh lên thì xe tôi chắc cũng đang vùng vẫy giữa đống bùn thế kia.

Lúc này 390 cũng đã đến, tôi nghe Luông hạ lệnh: “Tại chỗ diệt mục tiêu để yểm hộ 390 cứu kéo!”. Tôi chọn vị trí thuận lợi dừng xe, Thọ tiếp tục bắn từng phát chắc nịch. Địch cũng đang bắn trả bọn tôi nhưng chúng toàn dùng pháo “chơm”, loại đạn này với xe tăng thì chỉ như gãi ghẻ, song rất nguy hiểm với bộ binh và sinh lực lộ. Loay hoay mất một lúc xe 390 mới kéo được 381 lên, sau đó cả 2 xe đấu vào mới kéo được 386 ra khỏi vũng lầy. Sau khi báo cáo lên cấp trên đại đội tôi được lệnh dừng tại chỗ dùng hoả lực chi viện bộ binh đánh chiếm cứ điểm. Đây là dịp để các pháo thủ trổ tài vì với khoảng cách như thế này, xe lại dừng tại chỗ thì có thể nói pháo xe tăng sẽ bắn “bách phát bách trúng”. Làm lính xe tăng đã mấy năm nhưng quả thực đến hôm đó tôi mới có dịp thấy hết sức mạnh hoả lực của xe tăng. Cứ mỗi phát đạn pháo thì một công sự chiến đấu của địch trong cứ điểm lại tung lên. Bộ binh nhiều anh khoái chí nhảy lên reo hò. Thực ra bộ binh ta đã bắt đầu tiến công núi Bông từ hôm 20 tháng 3 nhưng trầy trật mấy ngày vẫn chưa chiếm được, nay thấy có xe tăng đến tham gia tiến công, lại bắn phát nào trúng phát ấy họ sướng là phải. Đến gần trưa thì quân địch trong cứ điểm không thể chịu đựng nổi và bắt đầu rút chạy. Chúng tôi muốn truy kích nhưng trên không cho và thông báo cho biết đoạn đường 14 dưới chân núi Bông rất nhiều mìn.

Một giờ sáng ngày 29 tháng 3 chúng tôi được lệnh đi đánh Đà Nẵng. Phải công nhận đường nhựa do Mĩ làm cực tốt, xe chạy hết tốc độ mà không hề hấn gì, chỉ để lại trên mặt đường hai vệt trắng do một tí bột đá bị xích xe cào lên. Tuy nhiên, ngay khi đổ hết đèo Phước Tường, tôi không nhìn thấy xe 386 đi đầu đâu nữa. Nghĩ thầm trong bụng “Sao hôm nay tay Hoả (Lữ Văn Hoả - lái xe 386) chạy ghê thế, mới thoáng cái đã mất hút!” và tăng tốc độ đuổi theo. Nhưng vừa hết đèo hơn trăm mét đã thấy đại đội trưởng Thận đứng bên đường, quần áo ướt lướt thướt vẫy tay ra hiệu cho bọn tôi dừng lại. Lúc đó bọn tôi mới nhìn thấy 386 đang chúc đầu xuống cống chỉ còn hở tí đuôi xe. Té ra do chạy tốc độ cao, không làm chủ được tay lái, xe bị “phản chuyển hướng” và lao xuống cống. Thật hú vía! Nếu dưới cống không có nước thì không biết kết cục thế nào. Thế là cánh lái xe chúng tôi lại có thêm một bài học.

Kéo xe 368 lên xong, chúng tôi tiếp tục lên đường đến Lăng Cô. Bên là núi biếc, bên là biển xanh, phía trước là Hải Vân cao vời vợi, đẹp đến nao lòng. Nhưng niềm phấn khích của chúng tôi bỗng bị “dội một gáo nước lạnh”: cầu Thừa Lưu đã bị phá. Tôi nhớ lại hôm đánh Huế mà lòng ngao ngán. Cũng chỉ vì cây cầu An Nông bị phá mà chúng tôi đã mất mấy tiếng đồng hồ vòng tránh. Ăn trưa xong, xe pháo cũng đã kiểm tra ngon lành nhưng công binh vẫn chưa làm xong ngầm, những sọt đất đá đổ xuống sông cứ chìm nghỉm đi chẳng để lại dấu tích gì. Bỗng ai đó kêu lên: “Hay là cho xe đi qua cầu đường sắt”. Nhìn về phía thượng nguồn quả nhiên có một cây cầu đường sắt nằm cách đó vài chục mét còn nguyên vẹn. Đại đội trưởng Thận dẫn chúng tôi lên xem. Sau khi nghiền ngẫm một lúc anh quả quyết: “Cứ liều một cái xem sao chứ chờ công binh làm ngầm thì không biết đến bao giờ!”.

Quả thật đây là một quyết định khá liều lĩnh và có lẽ trong lịch sử sử dụng xe tăng chưa hề có tiền lệ. Nhưng cũng chính quyết định này đã cho phép chúng tôi vượt được sang bờ Nam để tiếp tục hành trình.
Quá trưa chúng tôi đến chân đèo Hải Vân. Đã nghe nói khá nhiều về con đèo này nhưng cánh lái xe “xê 4” chúng tôi không hề “ngán” bởi những tay lái đã vượt Trường Sơn thì sự hiểm trở của Hải Vân không nghĩa lí gì. Chỉ mỗi tội đèo dài quá nên những chiếc xe tăng hạng nặng của bọn tôi vượt qua khá vất vả. Do động cơ luôn làm việc quá tải nên hầu như lúc nào nhiệt độ dầu nhờn, nhiệt độ nước làm mát cũng trên 100 độ C, thỉnh thoảng lại phải dừng lại để xử lí. Lên gần đến đỉnh đèo thỉnh thoảng lại thấy một đám mây tràn xuống mặt đường làm tầm nhìn chỉ còn vài mét. Ở những khúc cua, biển hiện ra phía dưới sâu hun hút xanh ngắt một màu. Được bộ đội địa phương dẫn đường, chúng tôi nhanh chóng đi sâu vào thành phố và sau gần một giờ đã đến đúng vị trí quy định. Theo tôi được biết thì “xê” 4 chúng tôi là đơn vị xe tăng duy nhất nằm ở giữa thành phố. Không giống như các đơn vị bộ binh có thể giấu quân dễ dàng, những chiếc xe tăng của “xê” 4 chúng tôi nằm chình ình giữa phố nên là tâm điểm để nhân dân kéo đến. Họ đến để xem, để hỏi, để tìm hiểu và chắc cũng để suy ngẫm về những gì đã đến và sẽ đến với họ. Trừ những anh em phải đứng gác trên xe còn mỗi chúng tôi trở thành một “tuyên truyền viên bất đắc dĩ”. Họ hỏi chúng tôi đủ thứ: nào là cuộc sống ở miền Bắc thế nào? Hợp tác xã là cái gì? Cộng sản là làm sao?...

Họ xúm lại xem chúng tôi nấu cơm và ăn cơm, xem rồi bà con xì xào với nhau: “Giải phóng cũng ăn cơm như mình”! Trước đây nghe nói địch tuyên truyền: “Bảy Việt cộng đu không gãy cọng đu đủ”, tôi cho rằng ta nói quá lên nhưng khi một bà má vịn vào vai tôi lay lay mấy cái rồi nói: “Tổ cha chúng nó! Người như ri mà hắn bảo bảy người đu không gãy cọng đu đủ” thì tôi tin đó là sự thật. Cũng tại đây tôi đã phải vi phạm quy định khi cho mấy thanh niên leo lên con tuấn mã sứt môi để họ tận mắt xem chúng tôi có bị xích ở ghế ngồi không?

Ngày 14 tháng 4 chúng tôi rời Đà Nẵng lên đường Nam tiến. Đến cầu Mộ Đức - một cây cầu bị địch phá và nối tạm bằng cầu Mĩ, chúng tôi lại nằm dài chờ đợi công binh làm ngầm. Sau gần một ngày, chiếc xe đầu tiên qua đến giữa ngầm thì chết máy, nước tràn vào động cơ. Đã khó khăn lại càng thêm khó khăn vì không thể kéo được xe lên để tiếp tục thi công. Đúng lúc đó lữ đoàn phó về kĩ thuật Dương Xuân Tụ quyết định: “Cho thằng 389 qua cầu Mĩ thử xem sao!”. Đây cũng là một quyết định táo bạo và liều lĩnh vì theo thiết kế, cầu Mĩ chỉ chịu được trọng tải 8 tấn, nếu nhân với hệ số an toàn là 3 thì nó cũng chỉ chịu được tối đa là 24 tấn. Trong khi đó, xe tăng của bọn tôi nặng những gần 40 tấn. Còn tại sao lại chọn 389 đi qua đầu tiên là bởi nòng pháo của xe này đã bị một mảnh bom B52 chém vào sâu gần đốt ngón tay, trong điều kiện chiến trường chưa thay được nhưng cứ cho đi cùng với mục đích hỏng đâu sẽ “thịt” đấy lấy khí tài cho xe khác. Thế là toàn bộ thành viên 389 xuống xe, chỉ còn mình lái xe Nguyễn Hữu Nghị điều khiển xe qua cầu.

Tất cả lái xe của đại đội tôi đứng tập trung ở đầu cầu theo dõi. Thực ra nếu cầu sập thì cũng chỉ một mình 389 nằm lại, nhưng nguy cơ lớn hơn là toàn bộ mạch máu giao thông trên đường 1 qua đây sẽ bị ngừng trệ. Quả thật đây là những giây phút cực kì căng thẳng đối với chúng tôi nên tất cả nín thở nhìn vào từng mắt xích xe 389. Và kia rồi! 389 đang lăn những mắt xích đầu tiên vào phần cầu Mĩ. Cả nhịp cầu oằn xuống, lắc lư như đưa võng nhưng không sao cả. Vâng! Không sao cả. Chúng tôi ôm lấy nhau nhảy tưng tưng lên mừng rơi nước mắt. Tuy vậy lữ phó Tụ vẫn tập trung cánh lái xe chúng tôi lại và nhắc nhở: “Xe tăng của ta có thể vượt qua được các nhịp cầu tạm lắp bằng cầu Mĩ, song cần phải đi thật nhẹ nhàng, ổn định chân dầu và toàn bộ kíp xe phải xuống xe!”. Từ đó trở đi, cứ gặp “cầu Mĩ” là bọn tôi xem xét qua loa rồi vượt. Phải công nhận người Mĩ tính toán kết cấu thật “siêu”, trọng tải vượt gấp rưỡi giới hạn an toàn mà vẫn gánh ngon.

Sau hơn chục ngày hành quân chúng tôi đã có mặt ở rừng Lá, phía Bắc Xuân Lộc vài chục cây số. Đây là “vị trí tập kết” của chiến dịch cuối cùng: chiến dịch Hồ Chí Minh. Vậy là chúng tôi đã hoàn thành một cuộc hành quân bằng xích hơn nghìn kilômét. Có thể nói đây là một kì tích của bộ đội xe tăng. Và quả là tuấn mã sứt môi đã không phụ lòng tin của anh em chúng tôi. Sà sã gần nghìn cây số mà không một hư hỏng nhỏ!

Chiều 27 tháng 4, tuấn mã sứt môi cùng 4 anh em tôi ngậm ngùi rời khỏi đội hình đại đội để lên vị trí tập kết chiến đấu của “xê” 5 ở rừng cao su An Viễn.
Ngày 28 tháng 4, chúng tôi đánh Nước Trong. Đây là chốt chặn cuối cùng phía Đông Sài Gòn nên rất “rắn”. Sau khi diệt được một số mục tiêu, 380 của tôi bị trúng đạn. Đó là một quả đạn pháo cỡ lớn nổ ngay trên nóc quạt gió của tháp pháo làm thủng một lỗ đút lọt nắm tay. Quả đạn làm pháo hai Duyệt hi sinh, trưởng xe Luông bị thương phải chuyển về tuyến sau, Thọ bị vài mảnh găm vào vai, tôi thì bị sức ép. Nhưng gay nhất là vũ khí, khẩu pháo 100 bị kẹt cứng không quay được, khẩu 12 li 7 đã bay đi mất, khẩu đại liên bên pháo bị bẹp rúm. Đang vừa tức, vừa buồn nhưng tôi cũng phải phì cười vì mấy tên tếu táo trong đại đội đến động viên và bình phẩm: “Đã sứt môi giờ lại thêm mẻ trán. Tha hồ mà đồng bộ nhé!”.

Tôi bảo Thọ: “Dẫu có mẻ trán, sứt môi cũng phải vào bằng được Sài Gòn!” Thế là cả hai xoay trần ra làm. Cuối cùng, pháo lại quay được bình thường, riêng khẩu đại liên thì chịu. Như thế là hoả lực của chúng tôi chỉ còn khẩu pháo và khẩu súng máy phía trước của tôi. Về người cũng chỉ hai anh em. Tôi hỏi Thọ: “Vừa nạp đạn, vừa bắn có được không?”. Hắn bảo: “Tao thử rồi! Làm được nhưng hơi chậm”. Thọ thao tác lại một lần cho tôi xem, tôi bảo: “Thế cũng được rồi! Nhưng từ bây giờ trở đi lúc nào cũng cứ nạp sẵn một viên đạn xuyên trong nòng, gặp xe tăng là bùm luôn, còn nếu gặp bọn bộ binh thì cứ để đấy cho tao.”

Sáng sớm 29 tháng 4, “xê” 4 bắt đầu nổ súng tiến công. Đã có kinh nghiệm những trận đánh trước, các xe dùng đạn nổ bắn vào bìa rừng cao su để phát quang làm lộ ra những chiếc xe tăng đang ẩn nấp để tiêu diệt. Sau khi 2 chiếc M48 và 1 chiếc M41 bị bắn cháy, bọn địch bắt đầu rút chạy. Tuyến phòng thủ Nước Trong bị phá vỡ.

Mờ sáng 30 tháng 4, các đơn vị đi đầu đã đến ngã ba Tam Hiệp, nơi đường 51 gặp xa lộ Biên Hoà. Vốn chỉ quen với những con đường nhỏ hẹp, lúc đầu chúng tôi hơi “choáng” vì sự rộng rãi đến thênh thang của cái gọi là “xa lộ”. Nhưng quả thật là tuyệt vời khi được nhấn ga không hạn chế trên cả 2 làn đường vắng teo. Chúng tôi cán nát dưới hai băng xích quần áo, súng ống, giày mũ nhà binh rải rác trên đường.
Qua Tăng Nhơn Phú, cầu Rạch Chiếc, cầu Sài Gòn đã ở ngay trước mặt! Tuy nhiên việc vượt qua nó không hề dễ dàng. Ngay ở chân cầu những chiếc thùng phuy và bao cát được dựng lên theo hình zíc zắc chỉ để lọt 1 thân xe qua, phía sau những vật cản đó là những chiếc xe tăng mai phục. Ngoài ra lợi dụng mặt cầu cong, một số xe tăng địch mai phục ở phía sau. Ở vị trí này chúng vừa giấu được mình vừa quan sát và phát huy hoả lực rất thuận lợi. Vì vậy, chỉ sau mấy phút giao chiến, 2 xe tăng ta đã bị bắn cháy, tiểu đoàn trưởng Ngô Văn Nhỡ hi sinh.

Với kinh nghiệm của những trận đánh trước, đại đội trưởng Thận lệnh cho các xe trong đại đội lợi dụng địa hình tại chỗ tiêu diệt các xe tăng dưới chân cầu và trên cầu. Vì tại chỗ bắn, lại tập trung hoả lực nên xác xuất trúng rất cao, chỉ sau mấy phút hai chiếc M48 nấp sau vật cản đã bị bắn cháy, đạn trong xe nổ dữ dội, khói lửa mù trời. Bọn trên cầu thấy vậy cũng bỏ chạy luôn. Chớp thời cơ, toàn đại đội tăng tốc độ qua cầu dẫn đầu đội hình lữ đoàn nhằm hướng Dinh Độc lập. Và như bạn đọc đã biết, xe 843 và xe 390 của “xê” 4 chúng tôi đã húc đổ cánh cổng Dinh Độc lập. Đại đội trưởng Bùi Quang Thận đã thay mặt tất cả chúng tôi kéo lá cờ Giải phóng lên nóc Dinh báo hiệu giờ toàn thắng của dân tộc.

Đứng giữa sân Dinh Độc Lập tôi như mê đi trong những cảm xúc lâng lâng khó tả. Và trong trái tim tôi trào dâng niềm thương nhớ về Duyệt, về Luông. Tôi cũng thầm cảm ơn con tuấn mã sứt môi 380 đã không phụ lòng tôi, đã đưa anh em tôi tới tận cái đích mà bao người mong mỏi. 14 giờ ngày 30 tháng 4, khi các đơn vị khác đang được nghỉ ngơi tận hưởng niềm vui chiến thắng thì “xê” 4 chúng tôi lại được giao nhiệm vụ: “chiếm cảng Sài Gòn và khống chế mọi sự đi lại trên sông”.

Rời Dinh Độc Lập chúng tôi đi về phía Cảng. Lúc này đường phố Sài gòn đã trở nên đông vui, nhộn nhịp vô cùng. Bà con đứng kín hai bên đường vẫy cờ, vẫy hoa đón mừng chúng tôi nhưng chúng tôi vẫn mải miết đi. Khi gần đến cảng, một khung cảnh hỗn độn diễn ra trước mắt chúng tôi: Hàng đoàn người, cả dân, cả cảnh sát, cả lính... cởi trần trùng trục đang khuân hàng từ trong kho cảng ùn ùn kéo ra. Biết đây là bọn hôi của lúc tranh tối tranh sáng, anh em bộ binh ngồi trên xe giương súng lên trời bắn từng loạt để dẹp song không ăn thua, một ông già ôm thùng rượu trong tay còn hớn hở cười tung lên xe tôi một chai rượu ngoại. Chỉ đến khi xe 390 vào được cổng cảng và bắn một phát pháo thì tình hình mới được cải thiện. Giữa những ngôi nhà cao tầng, tiếng nổ của trọng pháo 100 li như dữ dội hơn, tác động của sóng xung kích cũng mạnh hơn nên hết thảy quẳng hàng nằm rạp xuống đất rồi lẳng lặng tản đi. Toàn bộ khu vực cảng yên tĩnh trở lại.

Khi tất cả các xe của đại đội đã vào bến cảng, đại đội trưởng Thận cho dàn đội hình hướng pháo ra sông và cắt cử người canh gác các kho hàng. Mấy chiếc xe tăng pháo đánh thấp gườm gườm chúc xuống lòng sông có tác dụng ngay tức khắc: Chúng tôi chỉ cần khẽ vẫy tay một cái là mọi con tàu đang đi trên sông ngay lập tức tấp vào cầu cảng để chúng tôi kiểm tra. Còn mười cái kho trong cảng thì thật là hỗn độn, hàng hoá bị bới lộn lung tung nhưng còn bạt ngàn, vô thiên lủng. Chúng tôi nhặt mỗi xe một ít vải để bảo dưỡng xe và một ít thực phẩm, còn lại sắp xếp đâu vào đấy.

Chiều xuống dần. Bình yên quá đỗi. Anh Thận gọi chúng tôi ra ngồi sát mép cầu cảng hóng gió và tuyên bố: “Hoà bình rồi! Giờ chúng ta ăn mừng thắng lợi!”. Một chai rượu được mở ra, chúng tôi chuyền tay nhau uống. Ba thùng pháo sáng thu được từ trước cũng được khui ra, chúng tôi thi nhau bắn lên trời. Những chùm pháo sáng lung linh trên bầu trời Sài Gòn tím thẫm như đêm hội hoa đăng mừng chiến thắng. Chai rượu tiếp tục được chuyền tay. Khổ! Lính trẻ vừa lớn lên là vào chiến trường đã biết bia rượu thế nào đâu, uống vào chỉ thấy cay xè nóng ran trong cổ, trong bụng, nhưng vẫn thấy ngây ngất, cái ngây ngất chắc không phải chỉ vì men rượu mà vì tất cả những gì chúng tôi - những người chiến thắng cảm nhận.

Tính từ khi rời hậu cứ A Lưới chúng tôi đã trải qua 42 ngày ròng rã liên tục hành quân và chiến đấu. Những con tuấn mã trung thành đã đưa chúng tôi vượt hàng nghìn kilômét đến thành phố Sài Gòn - cái đích cuối cùng cuộc trường chinh của cả dân tộc. Ngồi trên tháp pháo sứt sẹo của con tuấn mã sứt môi thân thương, tôi như mê đi tận hưởng những giờ phút hòa bình đầu tiên và mơ về những ngày sắp tới.
*
*   *
Tháng 7 năm 1975 tôi chia tay tuấn mã sứt môi, chia tay “xê” 4 cùng những người đồng đội thân thương đi học sĩ quan. Vừa tốt nghiệp thì hai đầu biên giới đã vang lên tiếng súng, tôi lại ra đi theo yêu cầu nhiệm vụ. Cuộc sống bộn bề công việc đã cuốn tôi đi như cơn lốc. Nhưng giữa những bộn bề, bươn chải ấy, tôi vẫn giành một góc trái tim cho những người đồng đội và con tuấn mã sứt môi ngày ấy. Tranh thủ khi điều kiện cho phép tôi đã trở lại chiến trường xưa thắp cho Duyệt nén hương. Tôi cũng đã đến thăm nhà Luông, nhà Thọ, nhà Trực và một số anh em khác. Các đồng đội tôi tuy có lúc vết thương tái phát khi trái gió trở giời song đều hạnh phúc, con cái cũng đã khôn lớn trưởng thành. Còn con tuấn mã sứt môi, tôi vẫn đinh ninh rằng với thương tích đầy mình như thế chắc nó sẽ được chuyển sang làm xe huấn luyện, có khi còn bị loại khỏi trang bị và đưa vào lò nấu thép tái sinh rồi cũng nên.
Ấy thế mà không phải! 
N.K.N
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 6 trong 2 đánh giá
Xếp hạng: 3 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

Quảng cáo