Nước mắt ngày về In Email
Thứ tư, 26 Tháng 5 2010 09:34

bien 1I. Ngày về

 Đó là ngày 15 tháng 2 năm 1973.

Mờ sáng, khu A trại giam tù binh ở Hố Nai - Biên Hòa đã nhộn nhạo hẳn lên bởi tiếng loa quân cảnh thúc giục tất cả tù nhân ra sân tập hợp. Mấy ngày trước, Ủy ban Liên hợp Quân sự bốn bên đã đến trại tù thông báo về Hiệp định Pa-ri và cuộc trao đổi tù binh sắp sửa diễn ra

Vì thế đa số anh em không lấy gì làm ngạc nhiên, tuy trong lòng vẫn dội lên một cảm xúc lâng lâng khó tả? Không biết đây là cuộc trở về với Nhân dân, Tổ quốc và những người thân thích, hay là bị địch hốt đem đổ xuống biển khơi như một số tin đồn.

 

Điểm danh xong, địch gọi một danh sách rồi chia cứ 25 người ngồi thành một cụm. Được khoảng

5 cụm như thế thì chúng bắt đầu mở cổng, dẫn ra từng tốp. Khoảng 50 phóng viên báo chí cả tây lẫn ta, máy ảnh, máy quay phim lăm lăm trong tay chực sẵn bên con đường dẫn ra cổng ngoài, xô đến. Quân cảnh, súng dựng ngược trên tay xông xáo, xô gạt, có phóng viên bị ngã dúi xuống hào. Tiếng la ó phản đối dậy lên khắp chốn. Sau cùng, quân cảnh đành khoác súng vào vai, dăng tay nhau thành một vòng người bao quanh tốp tù nhân, cứ thế mà đi ra cổng ngoài, có đến ba, bốn lớp rào gai cự mã.

 

Địch dồn tù nhân lên các xe vận tải có mui, mỗi xe có 4, 5 lính quân cảnh cầm súng canh, lại còn xe Jeep gắn đại liên mở đường, khóa đuôi, hụ còi liên tục trên đường tới sân bay Biên Hòa. Chúng tôi bị dồn lên một trong hai chiếc máy bay quân sự sơn màu xanh vàng loang lổ. Lần này thì không còn bị còng tay, bịt mắt như những lần di chuyển trước.

Khoảng nửa buổi sáng thì máy bay đổ xuống sân bay Phú Bài - Huế. Sân bay trơ trụi hoang tàn, lổn nhổn đất đá bạc phếch dưới bầu trời u ám. Dưới mấy chòi canh cao cao còn sót lại, chỉ có mấy xe tải và lính canh chờ sẵn. Tù nhân lại đỡ nhau lên xe, đi chừng một giờ trên một con đường trơ trụi và xóc kinh người. Hai bên đường chỉ thấy những đồng bưng hoang hóa, cỏ xơ xác loe hoe trên cát, phơ phất những cụm cây chồi cằn cỗi. Nhiều nhất chỉ thấy cờ ba que vàng chói với 3 sọc đỏ. Cờ cắm tứ tung trên đồng hoang, trên gò mả hay trên cồn cát bạc màu. Căng mắt nhìn về phía trước, mãi không thấy gì khác, cho đến khi tất cả gần như một lúc bật reo lên: “Cờ ta kìa”. Chỉ là những chấm nhỏ màu xanh đỏ điểm vàng mà trong mắt chúng tôi đã lồng lộng một bóng cờ nửa xanh, nửa đỏ với ngôi sao vàng rực rỡ cứ vẫy vùng trong gió trong buổi lễ xuất quân cách đây đã 5 năm. Thế rồi, những điểm sáng ấy cứ lớn dần lên, đã thành những lá cờ nguyên vẹn, đã thành cả một rừng cờ cách mạng bay rợp bên kia sông Thạch Hãn. Lẫn vào trong gió là âm điệu hùng tráng của bản nhạc “Giải phóng Điện Biên”. Những người tù nhìn nhau nước mắt vòng quanh mà không thể thốt nên lời.

 

Xe dừng. Bên này sông lố nhố hàng trăm lính ngụy mặc quần áo rằn ri, súng chống vào bẹ sườn đứng dọc bờ sông. Nhìn sang bên kia, bộ đội ta cũng dàn quân đứng xanh bờ Bắc. Phía sau cờ và biểu ngữ, còn có những chiếc lều bạt, thấp thoáng bóng nhiều người mặc áo blu trắng ra vào. Sau một vài thủ tục trước sự chứng kiến của phái đoàn Liên hợp Quân sự, trong đó nổi bật những bộ quân phục quân đội ta ngời sáng, lấp lánh quân hiệu trên mũ kê-pi, chúng tôi được dẫn xuống những chiếc xuồng con, mỗi chiếc bảy, tám người. Quần áo tù binh dù chỉ mang trên người một bộ cũ nát nhất, nhưng đa số anh em cũng cởi ra, vất lại bờ. Xuồng chạy quá giữa sông, một số anh moi từ ống chân giả hoặc tháo những dải băng quấn tay, quấn chân lấy ra những khẩu hiệu, cờ đỏ hoặc xanh đỏ, có sao vàng đồng loạt phất lên, hướng về phía bờ sông phía Bắc. Những khẩu hiệu có nội dung hoan hô chiến thắng vĩ đại của dân tộc; hoan hô sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ; Hoan hô Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và Đảng Nhân dân cách mạng... Những khẩu hiệu này chúng tôi đã chắp lại từ băng cuộn và vải vụn. Màu viết và vẽ có được nhờ đem những bộ đồ nâu địch mới phát đem nấu rồi lấy nước ấy cô đặc lại, hoặc dành dụm các viên thuốc có màu chế màu vàng đỏ. Những bộ đồ còn lại cũng đã đem đốt ngay giữa sân tù vào mấy ngày trước đó, sau khi nghe tin chính thức về cuộc trao trả sau Hiệp định Pa-ri.

Xuồng cách bờ chừng hai mươi thước. Đã nhìn rõ mặt từng đồng chí thân yêu trong bộ quân phục ga-ba-đin xanh quen thuộc. Bộ đội trên bờ ào xuống nước, ghé vai vào từng xuồng cõng từng người chúng tôi lên. Vang vang bên tai tôi là những tiếng đồng thanh hô khẩu hiệu: “Nhiệt liệt chào mừng các chiến sĩ chiến thắng trở về. . .”. Bỗng nhiên nước mắt lại chảy thấm xuống vai người đồng đội. Vậy ra, Đảng, Nhà nước và Quân đội đã không chỉ coi chúng tôi là những tù binh. Chúng tôi còn được gọi là những chiến sĩ đã chiến thắng trở về, góp phần vào chiến thắng vĩ đại của dân tộc sau 20 năm chiến đấu.

 

Trong những lều bạt vừa dựng mới tinh còn thơm mùi vải mới, lần đầu tiên sau hơn năm năm, tôi lại được uống chén trà Ba Đình pha từ ấm chén sứ Hải Dương do các cô y tá và du kích Quảng Trị trao cho. Sau đấy là diện ngay quân phục mới, có cả mũ tai bèo và ba lô, dép đúc. Trong túi quần xúng xính, lại còn có hai bao thuốc lá giấy bạc nhãn Tam Đảo và Điện Biên vừa mới được phát cho.

 

Chiều hôm ấy, chúng tôi được đoàn xe đến chở về ăn nghỉ tại Đông Hà và sáng hôm sau lại đi tiếp về miền Bắc. Một ấn tượng sâu đậm là ở cầu Hiền Lương, cây cầu suốt hai mươi năm chia đôi đất nước. Xe vừa qua cầu thì được đón về một bãi rộng, nơi đã có sẵn một sân khấu của đoàn văn công Tổng cục Chính trị đón chờ. Bộ đội và nhân dân đông chặt trên sân. Các cô gái Vĩnh Linh bê các đĩa kẹo và thuốc lá, xách theo những ấm nước chè xanh nóng đi mời bộ đội. Trên sân khấu, tiếng đàn, lời ca bay bổng làm xao động tất cả nỗi lòng của người lính trở về và cả bà con Vĩnh Linh, vùng đất lửa. Đoàn văn công mời các chiến sĩ lên giao lưu. Người ngâm thơ, người hát. Tất cả đều là những bài được sáng tác trong nhà tù đế quốc. Tôi còn nhớ có một bài thơ viết ở Phú Quốc được một chiến sĩ ngâm. Cô gái đàn tranh của đoàn vừa cố gắng đệm đàn theo, vừa khóc. Những bài ca bài thơ ấy từng được chắt ra từ tim óc máu xương tù nhân trong những ngày khốc liệt của lao tù.

 

Biểu diễn chưa xong, đã có lệnh lên đường. Xe chạy tiếp trên con đường ổ gà lổn nhổn, hai bên chi chit hố bom mà cỏ mới vừa mọc lại. Đằng xa, mé đông là ngổn ngang những cồn cát trắng. Lòng người bỗng ngân lên câu hát “Quảng Bình quê ta ơi...”. Khoảng ba, bốn giờ chiều thì đoàn xe lại được lệnh ngừng ngay bên quốc lộ. Phía Tây là sông nước mênh mang, cặp bờ ngay gần quốc lộ đã thấy bà con đứng chờ đông lắm. Họ xoay trở những chiếc thuyền con cho người trên bờ dễ xuống. Chúng tôi được hướng dẫn xuống thuyền, lúc đó đã được trải chiếu mới tinh trên lòng thuyền. Đoàn thuyền lướt đi trên dòng sông đôi bờ vẫn còn những cây dương nổi tiếng vút cao như chưa hề qua trận mạc. Hỏi ra, đây là con sông Kiến Giang và chúng tôi đang được đưa về nghỉ ở xã Phong Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình. Lý do: - để cho sức khỏe mọi người khá lên trước khi lên đường ra Bắc.

 

Xâm xẩm chiều, đoàn thuyền cập vào các bến sông. Các gia đình đã chờ sẵn để đưa bộ đội về nhà mình chăm sóc. Mỗi nhà có từ hai đến bốn chiến sĩ. Tôi cùng hai anh khác được về nhà Mẹ Xoa ở Đội Cá cách bờ sông chỉ vài chục mét. Vừa mới thả ba lô xuống chiếc giường to gia đình giành cho, đã thấy tiếng lao xao ngoài đường thôn nghe như một vụ cãi nhau. Ra xem thì mới biết nhiều gia đình đang thắc mắc tại sao nhà mình không được nhận bộ đội về ở, hay là mình bị coi là “Việt gian, phản động”. Cán bộ xã, thôn cũng phải giải đáp mỏi miệng rồi mọi người mới chịu ra về.

 

Chồng mẹ Xoa đã mất, nhà chỉ có sáu mẹ con. Cậu lớn nhất đi trọ học cấp III trên phố huyện. Tiếp theo là hai chị em gái Thủy và Lan, sau nữa là hai cậu con trai tên Sơn và Hải. Năm ấy Thủy mới 16 tuổi tuy chỉ học lớp 7, là con lớn nhất ở nhà, một lao động chính cùng mẹ làm lụng để nuôi sống gia đình nên trông đã ra dáng một thiếu nữ. Mẹ Xoa thật giỏi giang. Một mình nuôi năm con, nhưng nhà cửa cũng khá khang trang, tuy vẫn mái tranh nền đất nhưng luôn gọn gàng, sạch sẽ. Các con của Mẹ đều ngoan, dù bé như Sơn, Hải cũng biết chia việc để làm ruộng và kiếm cá. Khi chúng tôi đến, Mẹ phải dậy sớm lo cơm sáng và trưa, chiều cũng về sớm hơn để nấu bữa cơm ngon hơn hẳn mỗi ngày thường. Hóa ra, xã Phong Thủy chính là nơi có hợp tác xã Đại Phong nổi tiếng trên miền Bắc giữa những năm 1960 với khẩu hiệu: “Sóng Duyên Hải, gió Đại Phong, cờ Ba Nhất”. Bà con địa phương kể: “Đây là lần đầu tiên Đại Phong được đón tiếp và nuôi bộ đội. Đây còn là một nhiệm vụ hết sức vinh dự do đích thân nhà thơ Tố Hữu, thay mặt Trung ương Đảng giao cho Đại Phong”. Hàng ngày, các tốp thiếu nhi chia nhau đi từng nhà có bộ đội để ca múa cho các chiến sĩ xem, nghe. Các em đều khoảng 11, 12 tuổi cả trai và gái rất hồn nhiên và ngoan ngoãn, lại múa giỏi và hát thật hay, cho gì cũng không dám nhận dù chỉ là viên kẹo hay tấm bánh quy. Dù là nơi có phong trào hợp tác hóa nổi tiếng nhưng các gia đình nông dân Đại Phong vẫn rất nghèo. Dân Đội Cá vẫn đi đánh cá về đổi gạo từng ngày. Nhiều bữa, gạo tiêu chuẩn bộ đội chưa phát kịp, bà con lại đi vay về nấu cơm cho bộ đội.

 

Hàng xóm với nhà Mẹ Xoa cũng có ba anh bộ đội trong đó có anh Dương quê Nghệ An mù cả hai mắt. Bù lại, anh nói chuyện rất hay và thổi sáo cũng rất cừ. Mới ở có mấy ngày, gia đình bên ấy đã nhấm nháy gả cô con gái lớn cho anh. Cô ấy xem chừng cũng ưng ý nên suốt ngày chăm sóc anh Dương. Nhiều lúc sang, tôi thấy cô ngồi bên anh nghe chuyện, sụt sùi nước mắt. Nghe nói sau này họ đã thành gia thất. Thủy vẫn gọi chúng tôi bằng chú, dù năm ấy tôi mới 22 tuổi. Thủy cùng cô bạn học là Tuyết Bông cao hơn và khá xinh hay đến thăm tôi, hỏi bài vở. Cũng may, tôi còn chút ít kiến thức về toán cấp III học được trong tù nên cũng giải đáp được vài ba chỗ về Toán mà các em đang học. Cứ như thế, 6 ngày trôi qua lúc nào không hay. Chiều hôm ấy, chúng tôi được phổ biến sáng hôm sau sẽ tiếp tục lên đường. Đêm đó, các nhà có bộ đội ở hầu như thức trắng. Các bà mẹ thì lo giết gà, thổi xôi để bộ đội ăn sáng và gói mang theo. Các ông bố thì bên gói thuốc rê hay chiếc điếu cày, nói chuyện thâu đêm. Các cháu thiếu nhi đi hát từ nhà này qua nhà khác.

 

Về khuya, hai anh ở cùng đã đi ngủ, tôi và Thủy ngồi đối diện nhau bên chiếc bàn với ngọn đèn dầu nhỏ gọn. Không nói được gì nhiều. Em cắm cúi viết rồi đưa cho tôi mảnh giấy ghi những dòng lưu niệm, nhắc nhở đừng quên con người và mảnh đất quê em. Tôi cũng viết những dòng kỷ niệm vào cuốn sổ em đưa. Mãi sau, em mới bật tiếng gọi tôi bằng anh, dặn tôi đi đâu, làm gì cũng phải viết thư vào. Tôi hứa! Đêm tàn lúc nào không hay. Dưới bếp, Mẹ Xoa đang chặt thịt gà và gói xôi vào lá chuối. Lệnh hành quân không cần phát mà cả xóm làng lao xao từ 4 giờ sáng. Trên bến sông có một cảnh tượng không thể nào quên. Bộ đội vừa bước xuống thuyền bà con trên bờ đã bật lên những tiếng khóc, làm hầu hết anh em bộ đội cũng sụt sùi nước mắt. Một số thanh niên nam nữ và cả các ông bố, bà mẹ cũng lên những chiếc thuyền, chiếc nống (một loại xuồng nhỏ và dài) đi theo ra đến tận đường. Khi chúng tôi lên xe, bà con và các em không thể đi theo nữa thì tất cả dân và bộ đội đều òa lên khóc, khóc thật to, nước mắt chan hòa. Đấy là một buổi chia tay xúc động tột cùng mà với tôi, trước đó cũng như sau này, không bao giờ có nữa.

      

 II. Những cánh chim tự do  

 

Trở về từ nhà tù Phú Quốc, ở huyện Xuân Trường (Nam Định) ngoài tôi ra còn hai anh nữa. Một anh cụt chân cao gần hết cả đùi, hai tay chống nạng. Một anh mù, dò dẫm gậy, tay vịn vào ba lô của bạn. Còn tôi bề ngoài thì lành lặn nhưng bên trong gãy quai xanh, xương sườn và thêm một vài mảnh đạn nhỏ nằm trong phổi trái.

 

Bến xe chỉ cách nhà tôi non cây số. Tôi dẫn hai anh bạn tù về nhà, rồi sau tìm cách chở các anh về quê ở cách đấy không xa. Đặng Văn Đoài, ở xã Xuân Đài. Còn Nguyễn Xuân Trưởng thì quê ở cạnh làng tôi:- Xuân Thượng. Hai dãy phố nhỏ của làng tôi đây rồi! Ở giữa là sông, thời còn bé chúng tôi hay đi câu cá mương và cá rô gion trên từng bến đá. Hai bên sông, thì bên Ngọc Cục là đường đá, bên Hành Thiện là đường gạch lát nghiêng.

 

Người trên phố tò mò ngắm ba anh bộ đội dắt nhau đi. Một vài gương mặt thấy quen, nhưng tôi chưa nhận ra ai. Ngược lại, cũng có người nhận ra tôi rồi thốt kêu lên: “Ơ kìa, con ông Hài! … Ối giời ôi, còn sống về rồi hả cháu”. Thế rồi người nọ kể với người kia, rồi bỏ việc đi theo, lúc chúng tôi về đến nhà thì đã có một đám đông người trước cửa. Cha tôi từ trong nhà đi ra, thốt sững lại, tý nữa thì làm rơi cái điếu bát đang cầm. Dù lúc này, người đã biết rằng tôi còn sống trở về, nhưng bây giờ mới là lúc gặp lại sau hơn năm năm biệt vô âm tín. Xúc động, còn vì đa số anh em tù binh, kể cả tôi đã có giấy báo tử.

 

Hàn huyên, cơm nước xong xuôi. Cho tới chiều thì anh em tôi mượn thêm xe đạp chở các anh Đoài, Trưởng về làng. Lại tiếp tục những niềm xúc động, vui mừng chan cùng nước mắt. Cả ba anh em may sao là còn đầy đủ cả mẹ, cha và anh chị em. Niềm vui nhờ thế mà nhân lên gấp bội phần. Chuyến ấy, cấp trên cho về phép một tháng, sau đó trở lại đoàn an dưỡng ở Thọ Xuân, Thanh Hoá để chuẩn bị chia tay nhau nhận nhiệm vụ mới. Hai anh về Đoàn an dưỡng thương binh nặng ở tỉnh. Còn tôi được điều về tiểu đoàn Xuân Thuỷ đóng quân ở vùng biển huyện nhà. Xếp hạng thương binh tôi nhẹ nhất. Sau đó chúng tôi ít gặp nhau, chỉ còn liên hệ qua những lá thư.

 

Tôi vừa công tác vừa âm thầm dò tìm những bạn tù xưa xem ai còn, ai mất, ai đã được giải quyết chế độ, ai về quê hoặc chuyển đi đâu? Tôi đã rất hạnh phúc khi tìm lại được người thầy giáo trong tù mà tất cả anh em trong trại đều vô cùng kính trọng và quý mến. Đó là anh Lê Hồng Thu, tên thật là Nguyễn Văn Chiển. Trước khi đi “B” năm 1966, anh Chiển là Hiệu trưởng trường cấp III Lê Hồng Phong ở Thành phố Nam Định. Ở trại nào anh cũng gây dựng được các lớp học văn hoá trong tù. Anh bị bắt năm 1967, và tôi đã gặp anh tại khu B - trại Hố Nai Biên Hoà từ tháng 5 năm 1970. Tại đây anh đã mở lớp dạy cấp III cho một nhóm tù binh hơn một chục người. Nhóm này sau đó lại trở về mở lớp tại các phòng giam của mình. Tôi ở phòng giam số 6, ngay sau phòng số 3 nhốt riêng các sĩ quan, nên được Đảng ủy bí mật trong tù phân công dạy cho lớp sĩ quan phòng số 3. Đến giờ quy định là các vị thiếu tá và đại uý quân ta chống nạng ra đứng vịn hàng rào. Phía bên này, tôi tự tưới nước rồi xoa mịn một khoảng sân cát bằng chiếc chiếu đôi để viết bài giảng lên trên. Bên kia các “thủ trưởng học trò” cũng cắm cúi ghi chép trên những tấm bảng con con tự tạo. Người học giỏi và chăm chỉ nhất của lớp ấy chính là “Thiếu tá Sang” theo cách gọi vừa kính nể vừa tôn phục của cả hai phía ta và địch. Bởi thiếu tá từng được mệnh danh là “hùm xám miền Đông”, từng bị địch cưa cụt chân đi cho “bõ ghét” vì kiên quyết không khai, không khuất phục khi sa vào tay giặc. (Sau này ông trở về sống ở quê là thành phố Huế).

Tháng 5.1971, địch có đợt chuyển tù từ Biên Hoà ra đảo Phú Quốc, tôi mới phải xa thầy giáo Lê Hồng Thu. Tấm bảng số logarit do thầy tự lập lại ở Biên Hoà làm công cụ học tập, mà tôi chép trên một mảnh bìa giấu kỹ đem theo, vẫn bị quân cảnh Phú Quốc tìm ra và tịch thu kèm theo một trận đòn “thừa sống thiếu chết” vì bị chúng nghi là “mật mã”. Nhưng chỉ vài tháng sau, tôi đã nhận được tin thầy qua một bài thơ được vo tròn nhét vào đầu chiếc đòn gánh khiêng thùng do anh em trại C4 đem tới quăng cho. Bài thơ nguyên văn như sau: Xa mặt nhưng lòng không cách xa / Vẫn nhớ Biên Hoà nhớ bạn xưa / Lớp học mở đều trên sân cát / Mụn áo làm nên sách giáo khoa / Tinh thần hiếu học biết bao nhiêu / Mài miệt nắng mưa những sớm chiều / Ai đã cho tôi niềm vinh dự / Làm người thầy giáo ở trong lao / Tôi muốn như con tằm nhả tơ / Sợi vàng óng ánh dệt ước mơ / Của người nuôi dạy tôi khôn lớn / Ban cuộc đời tôi một ý thơ / Hẹn ngày toàn thắng ta gặp nhau / Lầu cao cửa kính ngói tươi màu / Thơm mùi giấy mới trang sách mới / Tự hào ôn lại những buổi gian lao. Tin qua, tin lại mấy lần, rồi thầy cũng gửi cho tôi bảng số logarit thầy mới lập lại chủ yếu bằng trí nhớ. Tôi cẩn thận chép sang một miếng “pông xô” (lớp nhựa phủ ngoài áo mưa quân đội bị rách, nên địch bỏ đi). Vào ngày trao trả, tôi đã giấu đem theo và còn giữ được đến tận ngày nay. Phong trào học tập văn hoá trong trại D9- Phú Quốc của tôi lại được phục hồi với tấm bảng số logarit của thầy Thu ấy.

 

Chính là nhờ những bài học trên cát mà trong kỳ thi đại học tôi được 16 điểm trong khi điểm đậu của trường Đại học Xây Dựng năm 1974 chỉ là 13,5. Vào trường nhập học, tôi lại đăng ký thi vẽ, và đậu vào khoa Kiến trúc. Tốt nghiệp năm 1980, tôi được giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy.

Những năm tôi học Đại học Xây Dựng ở nơi trường sơ tán là huyện Bình Xuyên (ga Hương Canh), cũng là khi anh Nguyễn Văn Chiển được Bộ Giáo dục bổ nhiệm về làm Hiệu trưởng trường Bổ túc Công nông ở Giáp Bát, Hà Nội. Sau đó anh lại được điều về làm hiệu trưởng trường đảng Lê Hồng Phong của Thành ủy. Anh em, thầy trò tôi vì thế mà thường được gặp nhau, tha hồ mà “ôn lại chuyện gian lao”. Những năm học ấy, Thương binh còn được hưởng chế độ miễn vé tàu nên tôi cũng chăm chỉ đi về tuyến Hương Canh, Hà Nội. Đôi khi cũng gặp một vài bạn tù vất vả, bám theo tàu đi buôn xa…

 

Còn hai anh bạn tù quê cùng huyện với tôi thì sao? Ở Xuân Trường quê tôi ngày ấy, thương binh càng nặng thì càng dễ lấy vợ. Truyền thống này, có lẽ bắt đầu từ khi có thương binh, bộ đội miền Nam ra tập kết sau năm 1954. Thoạt đầu là anh Đoài “mù”. Anh được ngay một cô gái quê cục mịch, nhưng đằm thắm hồn hậu “xin chết”. Sau đó là anh Trưởng. Đám cưới nào cũng được tổ chức rình rang với rất đông bạn đồng ngũ, bạn tù. Vợ anh Trưởng còn rất giỏi giang, tháo vát. Cả hai anh bạn này đều khá đông con: Anh chị Trưởng bốn, Anh chị Đoài năm đứa. Chỉ vợ chồng anh Đoài yên chí lập nghiệp ở quê, nơi có gạo tám nổi tiếng Xuân Đoài, được chính quyền xã ưu tiên cấp đất mặt đường xây nhà dựng cửa. Anh chị Trưởng sau một hồi đi buôn chè cũng chán, chị được bè bạn rủ đi Hà Nội gia nhập đội quân gom nhặt ve chai. Lần hồi, họ mua được miếng đất xấu ven đường Đại Cồ Việt làm bãi chứa, bản thân cũng lên đời “chủ bãi”. Giờ thì đã phất lên lắm. Mỗi đứa con lớn lên được cha mẹ cho nhà, cho bãi, đứa Hà Nội, đứa Hải Phòng. Mới rồi anh chị Trưởng thấy sự nghiệp “tất cả vì tương lai con em” đã hoàn thành, năm 2008 liền trở lại quê Xuân Thượng xây trên nền đất cũ một ngôi nhà hết gần 1 tỷ. Hai vợ chồng  vào độ tuổi gần 60 mới coi như được “vui thú điền viên”.

 

Từ hai anh Trưởng, Đoài, tôi cũng đã tìm đến vài anh em khác cùng cảnh ngộ. Nhờ chính sách thương binh liệt sĩ, lại thêm các phong trào “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa” ở nhiều địa phương mà đa số các anh em cựu tù binh có cuộc sống chẳng đến nỗi nào. Phần đông trong họ có gia đình nhà cửa êm ấm, con cái làm ăn hoặc học hành thành đạt nhờ năng lực biết tự thân vận động để đi lên. Cũng đã có vài trường hợp bệnh tật phát sinh nên mất sớm. Nhưng đáng thương nhất là một anh ở xã Xuân Tân, tên là Đinh Xuân Hoà (tên trong tù là Bồng). Anh là một tù binh trẻ nhất trong số những anh em tôi biết, bị cụt tay và thêm vết thương sọ não, an dưỡng xong được xếp thương tật hạng 1/4. Tay thì đã đành chẳng mọc lại được, nhưng vết sọ não đã làm anh càng ngày càng chìm sâu vào thế giới của riêng mình. Hoà không lấy vợ, sống cùng gia đình người em ruột. Tháng 4.2009 cùng anh Đoài đến thăm, tôi chỉ thấy một người quắt queo tóc râu bơ phờ nằm thu lu trên võng. Gọi không nói, hỏi không thưa, dắt tay lên thì đi lại lờ vờ như cái xác không hồn. Tôi tự hỏi: Có bác sĩ giỏi nào có thể giúp được anh không? Để anh biết mình đã là một cánh chim tự do về giữa quê hương.

 

Gần đây nhất tôi có nhờ anh Chiển ráp nối để gặp lại mấy anh bạn tù xưa, quê Hà Nội. Cũng dễ thôi! Bởi anh Chiển đã về hưu, hiện làm Phó Ban liên lạc hội người tù kháng chiến Hà Nội. Bữa ấy đúng ngày 15 tháng 2 năm 2009, sau 36 năm chúng tôi ra tù. Người đầu tiên mà tôi muốn nhắc tới là anh Tống Trần Hội, một người thương tật đầy mình nhưng vô cùng dũng cảm năm xưa, nay cùng vợ con sống ở huyện Sóc Sơn. Hội cũng là một học trò của lớp sư phạm trên cát tại nhà lao Biên Hoà của thầy giáo Lê Hồng Thu năm 1970. Đi lại hết sức khó khăn, lại ở xa nên Hội đã không thể về tái ngộ. Người thứ hai là anh Nguyễn Hữu Triệu, sống ở phường Kim Mã. Anh Triệu cũng là một tù binh “gan cùng mình” ở khu A Biên Hoà. Cũng chỉ còn một chân như anh Trưởng, nhưng Triệu luôn luôn chống nạng dẫn đầu đoàn đại biểu tù nhân ra trực tiếp đấu tranh với giám thị các trại tù, cả ở Biên Hoà hay Phú Quốc. Triệu là một trong số rất ít người được Đảng uỷ nhà lao Hố Nai quyết định kết nạp Đảng ngay trong tù. Lễ kết nạp lại càng đặc biệt. Đấy là ở gầm sàn của một buồng giam. Ván sàn cách đất 50cm. Dưới gầm ván đã được vẽ sẵn một lá cờ búa liềm. Vài anh canh gác bên trên. Bốn người khác chui vào nằm ngửa, chụm đầu lại gần nhau. Người giới thiệu lần lượt nói lời giới thiệu; Bí thư đọc (miệng) quyết định của cấp uỷ nhà lao. Còn Nguyễn Hữu Triệu - đảng viên mới đọc lời tuyên thệ, cũng theo đúng bốn điều của nhiệm vụ Đảng viên, tuy không được chính xác từng câu chữ. Vậy là xong, chẳng có biên bản hay giấy tờ nào ghi nhận làm bằng cớ. Ấy thế mà sau khi ra tù, câu chuyện này được xác minh, thì Đảng bộ Đoàn an dưỡng đã làm một lễ riêng công nhận tư cách đảng viên cho Nguyễn Hữu Triệu. Sau khi an dưỡng, anh đã được cơ quan cũ - Ngân hàng Nhà nước Hà Nội đón về, giao cho chức Trưởng phòng Tổ chức cán bộ. Đến năm 2008 thì vừa đủ tuổi về hưu.

Như thế đấy, cuộc trở về đầy nước mắt của chúng tôi, những tù binh từ trại giam Biên Hòa, Phú Quốc đã lùi xa ba mươi sáu năm. Chúng tôi đã trở về trong vòng tay bao dung nhân ái của Đảng, Quân đội và Nhân dân. Quan trọng hơn, chúng tôi được coi là những chiến sĩ vẫn tiếp tục cuộc chiến đấu giữa những lớp rào gai, dưới muôn vàn lớp đòn thù tàn bạo để giữ tròn khí tiết và phẩm giá người chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam. Những dòng cuối cùng của bài viết này cho tôi được nhắc đến những người dân niền Trung, những người đầu tiên đã đón chúng tôi trở về. Mẹ Xoa ơi! Thủy ơi, Lan ơi - những em bé của Đại Phong ơi! Tôi vẫn còn mắc nợ với các em, với Mẹ. Sau khi vào Đại học, tôi chỉ thư từ được khoảng ba năm rồi thôi, bởi những kiến thức và cuộc sống nhọc nhằn đã hút tôi về phía trước. Nhưng trong tôi, luôn có một vầng bóng mát nơi quê hương gió lào cát trắng của Mẹ và các em.

 

 

Nguyễn Quốc Việt

 

Bình luận

Tên bạn:
Email:
Tiêu đề:
Bình luận:

CÁC TIN BÀI KHÁC




Van Nghe Quan Doi, Powered by Joomla!
© Copyright 2007 http://www.vannghequandoi.com.vn, All rights reserved.
Contact us ® Ghi rõ nguồn "http://www.vannghequandoi.com.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này .