|
Báo Tiền Phong đã có một bài viết về bà. Minh Vụ và Mai Nương là tác giả. Bài báo thiệt hay và xúc động, tôi đọc mấy lần mà còn muốn đọc nữa. Bài báo kể rằng: ở Nam Định, tại số nhà 22, đường Hai Bà Trưng có một bà già đã 71, nuôi một cháu bé từ thuở 15 tháng tuổi, nay cháu đà 19, tốt nghiệp phổ thông rồi bước vào đại học. Bà ấy tên là Nguyệt.
Chuyện đời của bà len mãi vào đầu óc tôi, như một mối tình chợt đến, không sao xua đuổi. Tôi nghĩ: thế nào mình cũng phải tìm tới thăm bà. Vậy là sáng chủ nhật 13 tháng 12 vừa rồi, tôi đi Nam Định. Đang rảo bước tìm hỏi phố Hai Bà Trưng thì có tiếng người xởi lởi: ông hỏi phố Hai Bà Trưng hả? – Hai Bà Trưng đây rồi. Nhưng chẳng có hai bà Trưng đâu? Tôi mở to mắt, hay là mình nhớ nhầm. Định lựa lời xin lỗi thì bà hàng xén nhoẻn cười: ở đây chỉ có hai bà cháu thôi! Tôi chợt hiểu. Người Nam Định dễ mến, khách lạ từ xa mà như người quen thân đã lâu. - Dạ, thế thì cho chúng tôi đến nhà hai bà cháu ạ. Theo lời của bà hàng xén đôn hậu, tôi tạt qua ngõ 22 rồi rẽ sâu vào một hẻm cụt. Không phải là nhà. Mà là một cái buồng bé xíu. Không có số. Chỉ là một quy ước: mấy cái căn phòng nhỏ này mang số chung cùng với ngõ 22 đó thôi. Cửa đóng. Gọi là cửa, nhưng là một tấm liếp nẹp tre. Một bà cụ phía bên cất tiếng: - Bà ấy mới đi rồi! - Dạ thưa cụ, đi đâu ạ? - Ra ngoài bến xe buýt thì tìm thấy bà ấy. Đến bến xe buýt, trước mắt tôi là một bà già, đang bụm ngửa hai bàn tay: - Thưa ông, ông làm ơn cho cháu xin bát nước. Bà ấy gầy, thấp, quần xắn cao, lưng còm nom càng thấp hơn. Bà Nguyệt đây rồi! Tôi đến gần và thưa với bà: tôi ở Hà Nội về, muốn gặp thăm bà. Bà Nguyệt ngước nhìn tôi, một chút ngạc nhiên, mắt thăm thẳm. Bà dạ như vẫn dạ với mọi người, rất nhỏ, rồi đi trước dẫn đường cho chúng tôi, dáng lom khom của người gù, hơi chúi về trước.
*
Bà Nguyệt mồ côi mẹ từ rất sớm. Cha dẫn ra Nam Định kiếm ăn. Ông lấy vợ kế, ngày miền Bắc giải phóng năm 1954, cha cùng vợ kế dắt nhau vào Nam. Bà theo sống với dì. Dì cũng vào Nam với mấy đứa con. Bà ở lại một mình. Sau ngày miền Nam giải phóng, người anh đi xe từ Nha Trang ra đón bà. Ở được mươi ngày, bà nói với người anh: thôi, cho bà trở về Nam Định. Tôi hỏi: - Sao không ở luôn với người anh? - Người anh này làm có tiền. Bán hàng sắt, nuôi được người ở. Giải phóng rồi, người ở trở về quê. Anh ấy bảo: ở đây giúp việc nhà cho vợ chồng tôi, không hết gạo đâu! – Tôi lắc đầu: gặp thăm anh là quý rồi. - Ở với người giàu lắm tiền không thích. Bà Nguyệt nói thêm. Bà trở về Nam Định, tiếp tục đi bán xôi. Năm 1991, tuổi bà đã 50. Một hôm có một người đàn ông bế một đứa bé ngang qua, bỗng ghé lại nhờ bà trông giùm. Rồi người ấy đi luôn, bỏ lại đứa bé. Nó mới 15 tháng tuổi, không quen hơi lạ, nó khóc suốt ngày. Lúc này người anh đã sang định cư ở Mỹ. Nghe tin, người anh nhắn về: nuôi con nhà người ta mà làm gì! Sang bên này ở với vợ chồng tôi, tôi lo cho đến hết đời. Còn như cứ nuôi nó thì thôi, đừng nói đến tình nghĩa anh em nữa. Bà làm giấy khai sinh cho cháu. Quen hơi, nó bớt khóc. - À âu... bà ghé môi vào cằm cháu: Thảo ơi, Thảo à... (cháu bé tên là Thảo). Bà nựng: Người ta bỏ bà thì thôi, bà không bỏ cháu đâu. Bà dỗ khi Thảo khóc. Bà ru Thảo khi Thảo chưa ngủ muồi. Bà mớm cơm, xi đái, bà đổ phân, bà giặt giũ, bà chạy đi mua thuốc. Đến tuổi đi mẫu giáo, không có tiền đóng tiền học, bà dạy Thảo viết chữ thường rồi viết chữ hoa. Đến tuổi lên cấp 1, bà xin cho cháu vào trường Lê Quý Đôn. Đến tuổi học cấp 2, bà xin cho cháu vào trường Phùng Chí Kiên. Năm nào Thảo cũng được giấy khen, bà cất vào chiếc hòm thiếc. Lúc ấy tuổi bà đã già, không còn dậy khuya nấu xôi được nữa. Bà ơi, Thảo vẫn gọi bà từ ngày bập bẹ - Bà ơi, con đi ngủ, bà nhé... Thảo lên giường ngủ sớm để 4 giờ sáng hôm sau thức dậy đi dọn bàn ăn, rửa chén bát cho nhà hàng lấy tiền trả tiền học. Một bà bạn của bà thương, dạy cho Thảo nghề thêu. Thảo thêu được áo gối, đem bán, gom đủ tiền mua áo dài đi học. Thảo tốt nghiệp cấp 2. Bọn học trò cùng lớp, ngày hè chia tay, ký tên vào chiếc áo Thảo thường mặc, chúc Thảo thi đỗ cấp 3. Đỗ rồi mà Thảo lại khóc, bà ơi... Căn phòng bé xíu của hai bà cháu, cái có giá nhất là chiếc giường đôi, mua từ mấy chục năm trước, ban đêm trải chiếu ra, ban ngày thì gấp chiếu lại. Đêm đêm, hai bà cháu ôm nhau ngủ trên chiếc giường gỗ ấy. Thảo quàng tay lên cổ bà: Bà ơi, con xin thôi học. Bà mắng Thảo: Không được. Khổ mấy cháu cũng phải đi học. Đêm đó là đêm nhiều nước mắt nhất trong đời bà - Khổ mấy cháu cũng phải đi học. Biết thế, nhưng làm sao có tiền nuôi cháu học. Bà đến nhà hàng xin rửa bát. Chủ nhà hàng thấy người bà nhỏ thó, gió thổi nhẹ cũng đổ, lắc đầu. Sáng 13 tháng 12 hôm rồi, bà nói với tôi, hai giọt lệ vẫn đọng trên khóe mắt: Ăn xin là việc tồi tàn. Trên đời có ai muốn đi ăn xin đâu. Ăn mày cửa Phật, phải nhiều tiền lắm đấy chứ. Người giàu sang mới ăn mày được cửa Phật. Ăn xin đâu phải là nghề. Nhưng biết làm sao bây giờ. Hai giọt nước mắt khô rồi lại ứa. Tôi nhìn hai giọt lệ trong của bà mà chua xót. Chỉ còn có cách đi ăn xin. Bà nói thế: - Dạ thưa ông, dạ thưa bà, dạ thưa cô, dạ thưa bác, làm ơn cho cháu xin bát nước. Bà gạn những “bát nước” trong lòng bàn tay khô ráp, gom lại thành mấy đồng, mấy chục đồng. Thảo xưng với bà bằng cháu. Còn bà 71 tuổi rồi, trên đầu thưa hai thứ tóc, lại xưng cháu với hết thảy mọi người, khi bụm ngửa hai bàn tay ăn xin để nuôi cháu học và nuôi bà đi ăn xin. Thảo ơi, Thảo có thấu hết điều đau đớn đó không?
* Thảo nói: - Cháu hiểu. Như tôi và như mọi người được sinh ra trên đời này, Thảo cũng có cha và có mẹ. Cha Thảo đem Thảo gởi cho bà, trao cho bà gánh nặng sinh tồn, gánh nặng làm người, rồi bỏ đi, đi mất tiêu. Mẹ Thảo, một người đàn bà đua đòi, thà sống đục còn hơn chịu lam lũ vật lộn với đời vượt qua cảnh nghèo túng. Người đàn bà biết lấy chồng và biết sinh con ấy thích hoan lạc mà không thích đổ mồ hôi, ngoe nguẩy kiếm tiền bằng đem nước bọt lừa đời, để rồi đưa thân vào tù. Sau khi ở tù ra, có cải tạo được hay không, họa hoằn mấy ông quản trại mới biết, người đời ai mà hiểu được, cô ta lại vào tù. Người đàn bà đã làm mẹ một lần, đã một lần nghe tiếng trẻ khóc chào đời, vẫn sống qua đêm ở đâu đó trên đất này, có gặp Thảo một lần, rồi tránh mặt cho đến nay. Tôi cũng muốn gặp người mẹ đó, dẫu sao cũng là một người mẹ, tội nghiệp thế và quái ác thế, nhưng lại rùng mình, cắn răng và chép miệng, như bất thình lình bắt gặp sự bội bạc trên đời. Từ Nam Định, tôi trở về Hà Nội, đến khu nội trú của các cháu sinh viên trường Đại học Mở. Thảo cao, trắng, đôi mắt to, đang dắt cô con gái nhỏ của chủ nhà. Chủ nhà động lòng thương cảnh khó của hai bà cháu mà đồng ý cho Thảo ở nhờ. Gặp Thảo tôi lại nhớ đến bà Nguyệt. Chắc giờ này bà đang ở bến xe, dạ thưa ông, dạ thưa bà..., chiếc quần màu đã phai, mấy miếng vá, viền quanh là các đường chỉ của người già tay đã run. Lại nhớ đến căn phòng bé tẹo của bà. Một chiếc đồng hồ cũng bé tẹo, tương xứng với căn phòng, loại rẻ nhất trong loại đồng hồ để bàn. - Đồng hồ này mua từ lúc nào? - Từ khi bé Thảo bắt đầu đi học. Chỉ sợ nó đến lớp trễ giờ. Một cái kéo cắt giấy treo trên cột nhà. - Cái kéo này để làm gì ạ? - Để cho Thảo cắt giấy, học nữ công. Bên ngoài hiên có ba chiếc nón, hai chiếc nón rách treo ở phía ngoài. Một chiếc nón lành, có bọc nilông, treo cẩn thận ở phía trong. Trong căn phòng hẹp này, cái gì cũng trùng xuống như lưng còng của bà. Một chiếc bàn học đã cũ, một chiếc hòm thiếc để trên vạt giường. Khi tôi đến, ngồi nói chuyện được hồi lâu, bà mở hòm lấy cho xem giấy khai sinh của cháu và xấp áo hồi Thảo mặc đi học, cái này là hồi cấp 1 này, cái này là hồi cấp 2 này. Tất cả đều được gấp gọn, phơi phong qua nhiều nắng, rất thơm. Trên gương mặt của bà, lúc này hình như có một tia nắng đầu đông, len vào cái ngõ cụt tôi mới đi qua, lau khô hai giọt nước mắt. Chờ cho mấy anh em chúng tôi xem hết, bà lại xếp mớ áo quần của Thảo, chăm chút và cẩn trọng vô cùng. Niềm vui và hạnh phúc, bà đã dồn vào đó, nén vào đó, dành dụm 19 năm nay. Cho ai đó, cho bà hay cho Thảo?
*
Tưởng rằng gặp bà, tôi sẽ có dịp may cắt nghĩa được một phần nào cuộc đời cao cả của bà. Nhưng không. Chẳng thể nào cắt nghĩa được. Tôi định hỏi: - Thưa bà, dạ có lúc nào bà tuyệt vọng không? Nhưng lại thôi. Gàn thế! Tôi mắng tôi. Anh tuyệt vọng thì có. Không thấy ư? Nước mắt vẫn ứa ra trên hai hõm mắt mà nào có nghe tiếng khóc. Tôi lại định nói: - Xin lỗi bà, bà cho phép tôi hỏi: bà đã yêu chưa? Gàn quá! Tôi lại mắng tôi. - Con người ta sinh ra ở đời, ai mà chả yêu. Có mấy loại người thì có mấy loại tình yêu. Gã trọc phú kiểm lại tiền. Đám đầu cơ chứng khoán, đầu cơ vàng và bất động sản, kẻ được dân tin ủy cho giữ đất của dân cướp trộm đất đem bán lén, kiểm lại lời. Lũ địa chủ mới kiểm lại lúa. Anh chàng viết văn si mê đắm đuối kiểm lại khoảng ngày đã sống. Còn bà, đôi mắt có vân màu đục, kiểm lại các dòng kỷ niệm, bèo dạt mây trôi, những mớ hạnh phúc rời, dính chặt nhau như xôi chiều còn ủ nóng. Bà cầm chiếc áo vải trắng Thảo mặc hồi cấp 2. Lần đầu tiên từ khi tôi đến, tôi thấy bà cười, bà nói: - Các bạn học sinh cùng lớp ký tên cả vào đây đấy! Tôi cũng cười theo mà nước mắt lại chảy. - Tôi xin bà chiếc áo này, có được không ạ? - Của con Thảo, hỏi con Thảo í! Ở căn phòng nhỏ xíu này, ngày trước, khi Thảo đã ngủ muồi thì bà còn thức. Đêm đi, không ai biết. Chỉ lúc tiếng rao hàng từ ngõ cụt da diết vang lên, có ai mua xôi không nào, hàng xóm mới biết bà đã dậy từ lâu. Sau một ngày lăn lộn bà trở về chiếc giường đôi, hơi ấm hai bà cháu lại thơm nồng khi chiếu trải. Nơi căn phòng hẹp có chiếc giường đôi choán gần hết không gian, cái gì cũng là của Thảo. Cái bóng đèn học và cái bóng đèn dự bị, những hai cái cơ đấy, phòng khi cháy bóng thì đã có cái thay, để cho Thảo học chứ! Và cả bà nữa, bà cũng là của Thảo mà thôi
Ngày 20 – 12 – 2009
NGUYỄN CHÍ TRUNG
N.C.T
|