Giữa mùa lá rụng năm 2009, tôi được theo đoàn công tác của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam sang Cộng hòa Pháp và Angiêri.
Trước chuyến đi, là thành viên của đoàn, tôi biết về nước Pháp không nhiều. Những hiểu biết ít ỏi đó chủ yếu qua các tác phẩm văn học, hội họa, điện ảnh, một vài tập sách lịch sử, và những trang thông tin trên báo chí, truyền hình. Trong tâm trí của tôi là hình ảnh một nước Pháp phát triển sớm và khá hoàn hảo. Vì từ lâu tôi biết có một Pari - thủ đô của ánh sáng, với những đế chế thôn tính nhiều vùng thuộc địa trên các châu lục. Và sau này là một nền cộng hòa với kinh tế, văn hóa, ngang ngửa với những nước mạnh nhất trên thế giới. Sẵn mang theo một hình ảnh như vậy, nên vừa xuống sân bay, vượt một đoạn đường dài trên phố xá, lạ chưa, tôi không thỏa mãn được những điều đã nghe, đã biết. Có lẽ với tâm lý đứng trước một anh khổng lồ, người ta thường để mắt vào khiếm khuyết của họ. Tôi không là ngoại lệ đó. Dọc con đường từ sân bay về trung tâm Pari tại sao lại nhiều rác đến như vậy. Rác từ những hàng cây trút lá đang vào giữa đông. Thảng hoặc vẫn thấy những vỏ đồ hộp, những mảnh ni lông nằm lặng lẽ bên đường phố. Còn nhận ra một đống cát sỏi, vài thùng sơn của người thợ xây dựng bỏ lại ở một góc phố. Một số cây cầu, đường hầm toát lên một màu cũ kĩ. Quả thật có những tuyến phố ồn ào, tấp nập, na ná Hàng Đào, Hàng Ngang của Việt Nam.
Cảm giác này đã mất hẳn vào một buổi chiều ngay sau đó, khi ung dung ngồi trên du thuyền sông Xen, ánh vàng của chiều sớm lấp lánh trên sóng nước, với hai bên bờ sông là những lâu đài nối tiếp lâu đài, cao lớn, mẫu mực về kiến trúc, và những hàng cây đôi bờ sông Xen khoe sắc vàng rực rỡ. Cho đến lúc này tôi mới nhận ra dáng vẻ lộng lẫy, trầm mặc của một Pari đồ sộ, rộng lớn. Kinh ngạc hơn khi con sông đẹp như thơ ca này lại có thể trong xanh và sạch sẽ như vậy. Rất nhiều chim biển bay lượn như đùa giỡn và tìm mồi trên sông. Có cả những chú vịt trời cần mẫn, lanh lẹn kiếm ăn ở đó. Ngẫm ra mới biết, bao nhiêu tấn nước thải từ cơ man những lâu đài, biệt thự không hề tống ra con sông kiều diễm này. Tất cả đều theo một con đường khác dẫn ra những mạch cống to lớn để thoát đi như trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức Bà của Victor Hugo.
Nhưng chỉ đến ngày thứ hai, thứ ba, một cảm giác khác lại chen ngang vào suy nghĩ của tôi. Hình như Pari cổ kính quá. Hình như Pari không còn thay đổi được nữa. Hình như Pari... Về xây dựng và hạ tầng cơ sở, Pari dường như đã ổn định. Toàn bộ Pari như một công viên, các khu phố đều gắn liền với những khu rừng nhỏ. Nếu như kiến trúc và xây dựng là một tiếng nói, thì Pari sẽ không còn đâu một chút không gian để mà thay đổi, để mà trỗi dậy, để mà thể hiện những ý tưởng mới. Câu chuyện ở đây thật sự có hai mặt của nó. Pari với những lâu đài cổ kính kia sẽ đứng mãi với thời gian. Nó xứng đáng như vậy. Nó cấy sâu ấn tượng vào tâm hồn người ta và trở thành một thứ giá trị quen thuộc không thể bỏ qua. Nhưng xét về mặt nào đó, nó chắn đường và là một dấu chấm cho sự phát triển. Một chứng minh rõ ràng tại trung tâm triển lãm lớn mới xây dựng tọa lạc trên một con phố đông đúc của Pari như một tiếng nói ngược lại hoàn toàn với quá khứ. Nó to lớn, đồ sộ và chỉ có thép và kính. Một đống thép và kính, không một viên gạch, không sự hào nhoáng, nó giống như một nhà máy lọc dầu, cán thép, và thật sự là một sự nổi loạn trước một Pari đang hiện diện. Càng ngạc nhiên khi trung tâm triển lãm ấy gồm nhiều khu vực với nhiều chức năng khác nhau. Có chỗ để tổ chức triển lãm theo chuyên đề, có chỗ là phòng học, có chỗ để truy cập Internet, nhiều chỗ cho những dịch vụ khác. Trung tâm này lúc nào cũng đông người vào ra, họ tìm đến những dịch vụ vui chơi, giải trí, về số lượng không kém du khách đến với bảo tàng nổi tiếng thế giới như Louvre...
Lại nữa, còn là một Pari nguy cơ tắc đường luôn luôn rình rập. Từ sân bay về cư xá của tuỳ viên quân sự chưa đầy 30km mà xe của chúng tôi phải chạy mất hơn 2 giờ đồng hồ. Thế mới biết nạn tắc đường ở Pari cũng na ná như ta và các thành phố khác trên thế giới.
Trưởng đoàn công tác của Tổng cục Chính trị - Trung tướng Nguyễn Tuấn Dũng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong đoàn có đại diện các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng và Thiếu tướng Lê Mã Lương, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Chúng tôi hay nói vui, gọi ông là một trong những người lính bộ binh số một trong kháng chiến chống Mỹ. Ông là người ham mê nghề nghiệp, đi đâu ông cũng săm soi hiện vật và cách trưng bày các hiện vật đó. Còn Trung tướng Nguyễn Tuấn Dũng, với tầm nhìn và vị trí của một nhà lãnh đạo, ông quan tâm nhiều đến tổ chức bộ máy, cơ chế vận hành bảo tàng, quy trình xây dựng, đặc biệt là ứng dụng khoa học kĩ thuật vào trưng bày hiện vật bảo tàng. Ở Pháp và Angiêri, ông đều được các tướng lĩnh đón tiếp và làm việc một cách trọng thị.
Các bảo tàng của Pháp nhìn chung đều ở tình trạng một chân ghé vào nhà nước (Bộ Văn hóa), một chân đứng trong phạm vi quản lý của Quân đội. Bộ máy của họ có sĩ quan chỉ huy, sĩ quan chuyên ngành và cán bộ dân sự được đào tạo tại các trường đại học. Hệ thống bảo tàng của họ, ngoài Bảo tàng Trung ương Quân đội, còn có Bảo tàng Lục quân, Bảo tàng Hàng hải (trong Bảo tàng Hàng hải có phần trưng bày Bảo tàng Hải quân thời hiện đại, trong Bảo tàng Lục quân còn có nhiều bảo tàng các quân binh chủng). Vấn đề mấu chốt ở chỗ, phần lớn kinh phí cho tổ chức hoạt động bao gồm cả trả lương cho cán bộ nhân viên, bảo tàng đều phải tự cân đối. Hoạt động của các bảo tàng quân đội và bảo tàng liên quan đến quân đội đều cơ bản ổn định, người xem bảo tàng đã thực sự tham gia nuôi sống bộ máy và hoạt động của họ. Như Bảo tàng Trung ương Quân đội Pháp một năm 1,4 triệu người vào tham quan. Vé vào cửa của người xem nếu tính tiền Việt Nam đều trên dưới 300 ngàn đồng. Tuy nhiên ở Pháp, họ miễn phí cho những đối tượng dưới 26 tuổi. Việc này ở Angiêri cũng vậy, học sinh và giới trẻ được miễn phí hoàn toàn. Đây là tính ưu việt của các nước bạn trong vấn đề giáo dục truyền thống mà Việt Nam rất cần suy nghĩ để có bước điều chỉnh phù hợp.
Trước tiên về xây dựng, những bảo tàng lớn của Pháp như Louvre, Bảo tàng Quân đội, Bảo tàng Hàng hải, Bảo tàng Huân, Huy chương, cơ quan lịch sử quân sự Pháp... phần lớn đều được cải tạo từ các cung điện, các lâu đài để tổ chức hoạt động. Đó là lí do để bảo tàng nào cũng đẹp và bề thế, một vẻ đẹp cổ điển về kiến trúc. Còn như bảo tàng Bavây, nơi phát lộ và đang xây dựng di tích Roma thời cổ đại thì khác. Họ đang trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện. Về xây dựng Ba Vây không có gì đáng kể. Nhưng ở bảo tàng này họ giỏi và đi đầu về sử dụng khoa học kĩ thuật trong trưng bày, giới thiệu di tích những cổ vật của khu thành cổ La Mã tới người xem.
Ở Angiêri, do quan tâm đặc biệt đến lịch sử quân sự nên họ đã đầu tư xây dựng một bảo tàng mới, to lớn, hoành tráng, tọa lạc trên một vùng đồi vừa thoáng rộng, vừa có hướng nhìn ra biển. Về kiến trúc đây là một bảo tàng lớn rất đẹp nhưng tất cả đều do thiết kế, không thuê tư vấn nước ngoài, kinh phí cho công trình phần lớn vốn là nhà nước và quân đội chu cấp. Quân đội Angiêri coi Việt Nam như một tấm biển chỉ đường cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Họ kính trọng Việt Nam và có hẳn một bộ phim về Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chuyến thăm của ông cách đây mấy chục năm, qua đó khích lệ tinh thần dân tộc, cổ động cho kháng chiến giải phóng 132 năm đô hộ của thực dân Pháp.
Mắt thấy, tai nghe, thu nhận nhiều hơn cả vẫn là việc học ở xứ người cung cách trưng bày hiện vật, một vấn đề cốt lõi, quyết định sự thành bại của sự nghiệp bảo tàng. Ở Việt Nam, cũng như Bảo tàng Quân đội và cựu chiến binh Angiêri, các hiện vật được bày trên các bục bệ đều có người giới thiệu. Có một chút của ánh sáng và âm thanh… Sự hấp dẫn còn chìm sâu trong các hiện vật bảo tàng, ít đọng lại điều gì sâu sắc cho người xem. Ngược lại, ở Bảo tàng Trung ương Quân đội Pháp, sau khi xem trực quan cùng lời giới thiệu của Thiếu tướng Robe Brecso (Giám đốc Bảo tàng) ta thấy một nghệ thuật trưng bày dường như thoát khỏi quan niệm cũ về hoạt động bảo tàng. Ở đây và ở bảo tàng Bavay (thành cổ Roma) ngoài xem những hiện vật tĩnh tại qua lời giới thiệu, phần trọng tâm người xem được trực tiếp trông thấy hình ảnh và diễn biến những sự kiện chính của nhân vật. Đáng tiếc, lịch sử và bảo tàng của chúng ta, vì một lí do nào đó chưa xây dựng được những câu chuyện và chưa có những nhân vật. (Tôi muốn nói đến các tướng lĩnh và anh hùng tiêu biểu). Cần nói hơn cả ở đây là những hình ảnh qua kĩ thuật 3D đã tái tạo những mẩu chuyện nhỏ mang tính văn học, có nghĩa lấy sự lắng đọng là chủ yếu, sử dụng tối đa nghệ thuật âm thanh ánh sáng và điện ảnh. Bản thân những chi tiết chân thực đó lập tức giữ chân người xem dừng lại bên nó khá lâu. Hơn thế, ở Bavay đeo thêm cặp kính màu đen, lập tức người xem trở thành nhân vật thứ hai trong câu chuyện đang diễn ra. Sự tương tác (như lời người giới thiệu) là nghệ thuật kéo người xem vào trong câu chuyện đang diễn biến. Lúc này người xem vừa chứng kiến, vừa là người đưa ra những suy nghĩ của riêng mình. Rõ ràng, việc quan niệm bảo tàng với đặc trưng là bày những hiện vật gốc đã dừng lại phía sau rất xa của công tác bảo tàng.
Các bảo tàng Angiêri ngoài phần xây dựng rất xứng đáng với tầm vóc một bảo tàng lớn, nghệ thuật trưng bày của họ cũng khá độc đáo. Khá nhiều hộp hình, sa bàn được sử dụng. Có thêm ánh sáng, âm thanh, khách tham quan càng bị hấp dẫn bởi những hiện vật gốc có từ nhiều thế kỉ trước. Người xem qua liên tưởng bỗng xuất hiện những suy nghĩ xa xôi. Angiêri là một đất nước có nhiều di tích lịch sử nổi tiếng từng được công nhận là di sản văn hóa thế giới như Bảo tàng Tipaxa (nơi bảo tồn văn hóa Roma), Bảo tàng Elmoujahid (Bảo tàng Lịch sử). Tất cả đều đang trở thành địa điểm du lịch của du khách trong và ngoài nước.
Theo lịch trình, đoàn đã đến thăm cơ quan lịch sử quân sự Pháp. Thiếu tướng Robe (giám đốc trung tâm) đến nhiệm sở khá sớm để tiếp đoàn. Tại đây đoàn được giới thiệu một biển tài liệu với hàng triệu sự kiện, trong đó có nhiều tài liệu dạng nhật kí hàng ngày, nhật kí chiến sự, ảnh các địa phương Việt Nam, đề xuất ứng xử của sĩ quan quân đội Pháp trước năm 1954. Riêng bản đồ được in và vẽ tay về các hoạt động thuộc lãnh thổ của Pháp chiếm đóng đã có tới hàng vạn. Quan trọng hơn, chỉ trong vài phút, ai đó cần một tài liệu gì, có thể truy cập được ngay. Càng ngạc nhiên hơn khi hàng triệu tài liệu này đã được số hóa hoàn toàn.
Ở Angiêri đoàn cũng được tiếp xúc với mô hình nhà xuất bản của bạn. Nhà xuất bản nhưng lại không in sách, chỉ in có 2 tờ tạp chí, một tờ in tiếng Ả Rập, một tờ in tiếng Pháp, một tờ có tên Bộ Quốc phòng, một tờ có tên Người lính, mỗi số ra trên 50.000 bản, nội dung phản ánh toàn bộ hoạt động quân sự của Quân đội Angiêri . Nhưng cái họ gọi là nhà xuất bản có phần giống Tạp chí Quốc phòng toàn dân, có phần giống Báo Quân đội nhân dân và Tạp chí Văn nghệ Quân đội của ta.
Còn Trung tâm sản xuất lưu trữ băng, đĩa hình ở Angiêri lại là cơ sở sản xuất các tác phẩm nghe nhìn. Cơ quan này cũng thuộc Cục Tuyên truyền và định hướng của quân đội Angiêri. Họ có bộ phận biên soạn kịch bản, các bộ phận hỗ trợ sản xuất, phục chế ảnh, phát hành và lưu trữ sản phẩm. Đặc biệt có những máy móc chuyên dụng, có tính năng kỹ thuật cao như máy ảnh, máy quay phim dưới nước. Trung tâm còn có cả một bộ phận làm phim phóng sự, tài liệu, một bộ phận làm ảnh như các phân xã thông tấn ở Việt Nam. Quy trình và công nghệ của họ khá hiện đại. Số phim và ảnh sản xuất ra được sử dụng cho kênh truyền hình của nhà nước, và trên các tờ báo, tạp chí lớn của bạn. Như vậy trung tâm này của quân đội bạn thực ra là phép cộng của ba cơ quan: điện ảnh, thông tấn, truyền hình. Trong sự phát triển của Angiêri, đang có một dự án lớn để nâng cấp nhà xuất bản này với những chức năng và nhiệm vụ mới.
Tôi nhớ có một nhà thơ đã viết một câu nổi tiếng: Con đi ra để học lấy những điều dại. Thực chất câu thơ đã nhắn nhủ ta xem người khôn làm việc để sửa cho chính bản thân mình. Qua việc xem, nghiên cứu các bảo tàng của Pháp và Angiêri cũng như tham quan trung tâm lưu trữ thư viện Pháp, nhà xuất bản và thư viện Angiêri, thấy rõ hai nước đặc biệt quan tâm đến đời sống tinh thần của quân đội qua kênh văn hóa. Họ đã và đang không ngừng cải tiến, cập nhật công nghệ mới, nâng cao hiệu quả của công tác bảo tàng, thư viện và ở nghệ thuật trưng bày, những hiện vật gốc mới chỉ đóng vai trò chất liệu, như nếp để ta nấu xôi làm bánh chứ chưa thể là món ăn khi chưa qua bàn tay của người nấu nướng.
Ở ta, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam và các bảo tàng khác đã có nhiều cố gắng trong tổ chức hoạt động, ngoài các triển lãm chuyên đề, triển lãm lưu động, công tác sưu tầm, in ấn các tập sách và trưng bày cũng có nhiều tiến bộ. Tuy nhiên sự tiến bộ đó mới chỉ dừng lại ở công thức: từ ý tưởng ra chủ đề, từ chủ đề ra nội dung trưng bày. Trong trưng bày mới dừng lại ở việc có người giới thiệu, có ánh sáng cho hiện vật, có phim tài liệu chiếu trên màn hình bổ sung cho sự kiện, có sa bàn, hộp hình. Trong lưu trữ, trưng bày, vì nhiều lí do chúng ta chưa có công nghệ mới. Đó là một thiệt thòi lớn trong việc chuyển tải những giá trị văn hóa tốt đẹp của lịch sử dân tộc, quân đội đến với công chúng. Sau những ngày nghiên cứu trên đất bạn, Trung tướng Nguyễn Tuấn Dũng, trưởng đoàn công tác nhắc nhiều đến sự phát triển của công tác bảo tàng. Theo ông, công tác bảo tàng là một nghệ thuật tổng hợp. Trong đó nổi lên công nghệ mới về trưng bày là yếu tố quyết định cho hiệu quả xã hội của nó. Ở nghệ thuật trưng bày, kỹ thuật 3D sẽ là công cụ chuyển tải một cách sinh động toàn bộ diễn biến của sự kiện.
Còn về xây dựng, nội dung trưng bày mới là yếu tố quyết định. Hình hài to nhỏ thế nào, biểu tượng gì đều do nội dung quyết định. Nói một cách dễ hiểu là toàn bộ phần xây dựng quan trọng đấy, nhưng chỉ là cái áo khoác ngoài cho một cơ thể nào đó. Làm sao để chiếc áo khoác đó phù hợp, vừa vặn và tôn vinh thêm cho phần nội dung trưng bày. Như thế có nghĩa nếu Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam được xây dựng ở vị trí mới, phải bắt đầu từ ý tưởng; ý tưởng phải bắt đầu từ nội dung, và chính nội dung ấy là đề bài để các nhà tư vấn tìm lời giải trong kiến trúc, xây dựng và thiết kế nội thất
PHẠM HOA