Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa cho ra mắt Tổng tập truyện ngắn Văn nghệ Quân đội 1957-2007, tập một có tên Ba bức thư, các tập tiếp theo sẽ được in trong những năm tới. Đây là việc làm có ý nghĩa thiết thực vừa giúp bạn đọc cũng như giới nghiên cứu có một bộ tư liệu tin cậy về truyện ngắn Việt Nam hiện đại, dưới góc nhìn lịch sử văn học nó góp phần dựng lại chân dung của một thể loại văn học quan trọng từ đó mà có cái nhìn đối sánh trước sau để kế thừa tiếp thu, để hướng tới những chân trời thi pháp mới. Riêng tôi, từ tập Ba bức thư này đã được nhận những bài học quý.
Tập sách có 17 truyện được viết trong hai năm 1956, 1957 của những cây bút văn xuôi hàng đầu nước ta lúc bấy giờ. Đã đọc đi đọc lại nhiều lần thể loại văn học giai đoạn mang tính bản lề này, đã tiếp xúc nhiều truyện ngắn Á, Âu, Phi, Mỹ, có khi là trực tiếp với bản phiên âm, có khi là gián tiếp qua bản dịch, nhưng khi đọc hết tập sách tôi vẫn không hết ngạc nhiên bởi tính mẫu mực của truyện ngắn giai đoạn này. Thì ra truyện ngắn xứ ta thời nào cũng có đỉnh cao, xứng đáng hoà nhập với truyện ngắn thế giới. Không nói tới trước đó, chỉ nói từ đầu thế kỷ 20 đến nay ta thấy lừng lững những Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Trần Đăng, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Đỗ Chu, Nguyễn Huy Thiệp… Thi pháp học hiện đại dùng khái niệm quan niệm nghệ thuật làm công cụ để tìm hiểu cái nhìn, cách cắt nghĩa về con người của nhà văn. Giản dị hơn, tôi xem tác phẩm nói gì về con người. Nổi lên đặc điểm đầu tiên ở tập truyện hấp dẫn bạn đọc là tính lý tưởng. Tôi không nói chính trị mà chỉ nói về tính người, ngẫm ra đã là người thì ai cũng có lý tưởng, thể hiện trong tập này là một lý tưởng cao cả, nhân văn, hướng thiện, một lý tưởng trong suốt, trong vắt. Con người thời đó thật sự là con người của lý tưởng. Không thế sao có những em bé tuổi còn ngây thơ mà chí thì đã lớn, lập mưu giết giặc, cướp vũ khí giặc (Hai em bé miền Nam). Không thế sao có những người lính trong Trận phố Ràng (Trần Đăng) lăn xả vào đồn thù lấy thân mình ngăn lửa đạn cho đồng chí mình xông lên. Không thế sao có thể có những chiến sỹ làm đường, trời rét như cắt mà bụng đói lả, mồ hôi túa ra như tắm, có người sốt rét mệt đến ngất đi, nhưng tất cả đều đồng lòng chung sức nghiến răng xúc đất chuyển đá trong lúc mưa dầm gió bấc… (Làm đường)… Ngẫm về hôm nay tôi càng thấy chúng ta phải tăng cường hơn nữa giáo dục lý tưởng cho lớp trẻ. Cần lắm một lý tưởng vì cộng đồng, vì Tổ quốc. Dĩ nhiên mỗi thời mỗi khác nhưng đối với Tổ quốc, với Nhân dân thì thời nào cũng thế, rất cần sự phục vụ vô tư của mỗi con người.
Hình như là hệ quả của con người lý tưởng mà ở cái thời ấy con người sống với nhau nhân ái lắm, cao thượng theo đúng nghĩa . Một anh bộ đội (Lấm) đi đánh giặc để lại người vợ trẻ (Liên) nơi hậu phương, người vợ trót dại có con hoang. Anh bộ đội ấy trở về. Mọi người cứ nghĩ sẽ là “cắt đất”, nhưng anh ấy nói với mẹ đẻ mình thế này: “ - U ạ, con mà lấy vợ khác thì được một người vợ trẻ, nết na như u nói, nhưng con lại đành vô tâm bỏ mất một người đang ngã xuống vực sâu và một đứa trẻ vô tội”. Liệu thanh niên thời nay có được tấm lòng vị tha như thế không? Những con người như thế hẳn nhiên sẽ có một tình đồng chí đồng đội thiêng liêng. Chúng ta hãy đọc truyện Giữa rừng Bình - Phú - Hải để thấy tình yêu thương những người lính sâu sắc cảm động đến nhường nào. Anh bộ đội Đào giành sự hy sinh về mình để đồng chí (Hoa) được sống. Hoa một mình cõng xác bạn vượt vòng vây, vượt bao núi cao vực sâu về nơi an toàn để chôn cất. Kẻ dương người âm giờ nghìn trùng xa cách, họ nói với nhau: “ -Đào ơi, cháo Đào nấu Hoa ăn chưa hết, kẹo Đào cho Hoa ăn chưa kịp, lấy gì bù vào lòng Đào thương Hoa bây giờ”. Cũng dễ hiểu thôi, thời ấy tình quê hương dạt dào sâu nặng lắm. Một người lính (Vân) ngay lúc còn nhỏ đã mồ côi, mẹ chết đói, cha chết bệnh vì bị nhà giàu hành hạ, bơ vơ đi ở, may mà Cách mạng đến, anh vào bộ đội. Giải phóng nhưng anh không có quê để về. Rồi mỗi ngày nỗi nhớ về nguồn cội cứ ngày càng thúc giục, dựa vào trí nhớ thời non nớt của mình anh tìm về nơi chôn nhau cắt rốn. Và anh đã tìm được quê mình trong nước mắt của tình yêu thương.
Tôi vẫn quan niệm rằng dù có đổi mới, dù có cách tân đến đâu chăng nữa thì thi pháp bao trùm, cơ bản, chủ đạo vẫn là thi pháp của cuộc sống, xuất phát từ cuộc sống và đích đến vẫn là cuộc sống. Ở tập truyện này cái mẫu mực về thi pháp là các nhà văn đã bám sát vào cuộc sống để nảy ra từ đó những chi tiết mới mẻ, tươi nguyên, đắt giá. Đây là bài học về việc nhà văn nhập thân vào đời sống, nhà văn phải sống cuộc sống trong tác phẩm để quan sát miêu tả suy ngẫm, phải đau cùng nỗi đau, vui cùng nỗi vui của nhân vật. Trần Đăng đã là người như vậy, vừa là người lính chiến thực thụ, vừa là người cầm bút. Ông đã sống hai cuộc sống đồng thời để có được một Trận phố Ràng sinh động. Hữu Mai chắc cũng như vậy mới viết được Đồi 75 cứ như một cuốn phim hay.
Một tập truyện là cả một thế giới nhân vật: người lính, người mẹ, trẻ em, phụ nữ, anh dân công…, một thế giới ứng xử: mẹ chồng nàng dâu, con chung con riêng, xung đột cũ mới, bảo thủ lạc hậu với tân tiến… thậm chí có cả ứng xử ý thức hệ, ví dụ truyện Nằm vạ là cách ứng xử giữa tôn giáo và không tôn giáo, giữa chính quyền, bộ đội với đồng bào nhẹ dạ nghe theo lời xúi giục của bọn xấu… Một tập truyện đa dạng về lối viết, tâm lý có, độc thoại nội tâm có, tình cảm có, cốt truyện có, phi cốt truyện có… Đặc biệt là ngôn ngữ, một thứ ngôn ngữ cất lên từ đời sống, trong trẻo, thuần phác, ngôn ngữ nào là của đúng nhân vật ấy, không lên gân, lên giọng. Đấy là những bài học từ hôm qua cho hôm nay
L.N