| Tin nổi bật: |
| Người tướng sĩ- anh hùng trong các bài tế trận vong |
|
|
| Thứ sáu, 23 Tháng 7 2010 15:07 | |
|
Trong “thập loại chúng sinh”, cái chết của những tướng sĩ chết trận bao giờ cũng gây ra ấn tượng rất mạnh. Ấn tượng không chỉ vì tính bi kịch của số lượng cái chết mà còn vì âm hưởng anh hùng được phả vào trong hình tượng những con người vô danh. Vào thời điểm tuyên đọc bài văn tế, ấn tượng này tạo cộng hưởng rât lớn từ người đứng tế làm nhiệm vụ đọc bài văn tế cho đến người nghe tham dự lễ tế, khiến ai nấy đều chung một mối xót thương, ai oán.
Văn tế không chỉ là công cụ để giãi bày nỗi đau thương của người sống đối với tướng sĩ trận vong mà còn là một công cụ để vĩnh viễn hóa cái chết cũng như hình ảnh của họ, và vĩnh viễn hóa bằng cách trao cho họ kích thước cái chết của những người anh hùng.Anh hùng thì có cả tướng lẫn binh. Sự khác biệt và tương đồng của thân phận họ khiến bài văn tế đi theo hai hướng vừa chung vừa riêng khi mô tả về hình tượng người anh hùng, chung trên nền tảng mĩ học trung đại quan niệm về anh hùng và riêng trong xuất thân binh nghiệp của họ. Các bài tế tướng lĩnh bao giờ cũng chú trọng thổi phồng tài năng cá nhân, công lao cá nhân, nêu bật được đóng góp cá nhân của người được tế đối với quốc gia, triều đình (“Văn tế Trương Định” của Nguyễn Đình Chiểu, “Văn tế Cao Thắng” của Võ Phát, “Văn tế Hầu Tạo”-khuyết danh). Vì chú trọng vào chỉ một con người nên hình ảnh tướng lĩnh luôn luôn được kích lên hoành tráng, lớn lao, hào hùng, với thế đứng của một người trên muôn người. Những nét cụ thể về cuộc đời riêng tư đan với những mô thức miêu tả nhằm khái quát hóa cái chung, cái lớn, siêu phàm, hay nói cách khác là tính hữu danh của một vị thủ lĩnh. Trong khi đó những bài tế trận vong tướng sĩ vì đối tượng là một tập thể vô danh chiến đấu vì một mệnh lệnh hay một lý tưởng chung nào đấy nên không có chi tiết riêng dành cho một ai cả; người anh hùng ở đây vừa xông pha, hào hùng, quyết chí vừa cam chịu, nhẫn nhục, đáng thương, tội nghiệp. Cái chết của người anh hùng hữu danh gây xót thương lẫn cảm phục, ngưỡng mộ còn người anh hùng vô danh chủ yếu chỉ khiến người nghe đau xót, ngậm ngùi. Phần lớn các bài văn tế tướng sĩ chết trận đều có những đoạn xót thương cho oan hồn lang thang, lạnh lẽo cô độc chốn âm giới hoặc miêu tả cảnh chết chóc tang thương của chiến trường, điều mà ở văn tế tướng lĩnh chết trận ít thấy hơn. Thân phận nhỏ nhoi của họ, đặc biệt là cái chết hàng loạt của họ khiến cho những bài tế tướng sĩ có một âm hưởng oan khốc, tang thương rõ nét. Phải là qua hình ảnh người lính bình thường bỏ mình ở chiến trận người ta mới thấy hết được cái nghiệt ngã của chiến tranh, mới thấy được mạng sống của con người trở nên mong manh và dễ mất đến như thế nào. Người anh hùng có thể hùng hồn thề hẹn lập chiến công, giết giặc, coi thường cái chết không đoái đến thân mình, nhưng rốt cuộc điều mà họ nhận được chỉ là cái chết oan uổng, vùi thân miền biên viễn xa xôi, tan xác với cát bụi. Thân xác của họ, như một tứ thơ của Trần Đào đời Đường, chỉ là nấm xương tàn trong giấc mơ đoàn tụ của người thiếu phụ mong chồng trở về. Bởi vậy, phần lớn các bài tế tướng sĩ thường gây ấn tượng cảm xúc mạnh hơn các bài tế tướng lĩnh. Người ta dễ mủi lòng hơn với những gì nhỏ nhoi, tan nát, bé mọn. Người anh hùng lúc này không gây ấn tượng bởi sự khảng khái quên thân nữa mà trở thành người anh hùng tội nghiệp với thân phận bạc bẽo của kiếp người: “Ngậm ngùi lúc tên bay đạn lạc, ngàn cỏ xanh đầy dẫy nấm chinh phu; Băn khoăn cơn gió lộng sóng khơi, đáy nước biếc ù ù hồn dũng sĩ.” (“Văn tế các tướng sĩ trận vong”-Phan Huy Ích) Cũng giống như các bài tế tướng lĩnh, ở các bài tế tướng sĩ những mô thức, ngữ cố định để đặc trưng hóa hình tượng người anh hùng trở nên quen thuộc. Người anh hùng cần một mục đích lớn để theo đuổi, đó là nghĩa, là lòng trung, là sự đền ơn, và đối tượng quy về mục đích ấy không ai khác chính là minh chủ, nhà vua, là “tấc đất ngọn rau ơn chúa”. Người anh hùng phải có hành xử của trượng phu: coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, ngang dọc chí nam nhi, liều thân cho nghĩa lớn…Mĩ học trung đại xây dựng hình tượng người anh hùng bao giờ cũng đặt họ trong các tương quan trái ngược để nhấn mạnh sự lựa chọn và nhất là để vĩnh viễn hóa họ: sinh và tử, khinh và trọng, vinh và nhục, mất và còn, thủy và chung, kim và cổ, một và nghìn…Trong cách hình dung ấy, hình tượng người anh hùng vô danh chết trận sẽ nổi bật với hai phẩm chất chủ đạo: một là bản lĩnh, sự dấn thân (khảng khái, bất khuất), hai là sự bất tử (chiến công và cái chết của họ trường tồn cùng sông núi, trời đất). Hai phẩm chất này tương hỗ, bổ sung cho nhau, có khi đứng thành những đoạn riêng, có khi nhập với nhau trong cùng một đoạn, thậm chí một câu. Khi người anh hùng lập nên chiến công và trở thành bất tử thì hình ảnh của họ sẽ không còn được truyền tải trong những mô tả cụ thể nữa mà trở nên bao quát, lớn lao: Ôi! Cùng lòng trung nghĩa, khác số đoản tu. Nửa cuộc công danh, chia phần kim cổ. Đoái là tiếc xương đồng da sắt, thanh bảo kiếm đã chăm rèn mới có, nợ áo cơm phải trả đến hình hài; Những là khen dạ đá gan vàng, bóng bạch câu xem nửa phút như không, ơn dày đội cũng cam trong phế phủ. Phận dù không gác khói đài mây; Danh đã dậy ngàn dâu nội cỏ. (….) Đã biết anh hùng thì chẳng quản, trăm trận một trường oanh liệt, cái sinh không cái tử cũng là không; Nhưng tiếc cho Tạo hóa khéo vô tình, ngàn năm một hội tao phùng, phận thủy có phận chung sao chẳng có” (“Tế trận vong tướng sĩ”-Nguyễn Văn Thành) Người nghĩa sĩ từ thân phận cụ thể được đẩy lên thành anh hùng, đặt bên cạnh các phạm trù thời gian khái quát như kim cổ, nghìn năm. Điều đó khiến cho cái chết của họ tuy vẫn tàn khốc, đau thương nhưng trở nên đẹp, đáng ngợi ca. Đẩy họ lên bình diện khái quát cũng là một cách thức để giảm đi tính chất bi lụy, tang tóc của cái chết, đó là nén hương an ủi mà người đứng tế muốn vỗ về, cảm thông đối với linh hồn của người mất. Trong các bài tế tướng sĩ trận vong thời trung đại thì xuất sắc nhất phải kể đến là bài “Tế trận vong tướng sĩ” của Nguyễn Văn Thành và “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu. Hình tượng người lính anh hùng của cả hai bài đều được dựng lên rất hùng hồn khiến cho âm hưởng bi thương không trở thành một âm hưởng chủ đạo. Thạch Trung Giả nhận xét về bài tế Nguyễn Văn Thành với hai đặc điểm chính là “hùng hồn và thống thiết”; trước đấy Phạm Quỳnh cũng ngợi khen đầy ưu ái về bài tế xuất sắc này “lời đáng ghi vào vàng đá truyền đến muôn đời, khi gióng giả như nhịp trống trong quân, khi tơi bời như ngọn cờ dưới nguyệt, khi mịt mù như cơn gió lốc thổi dấu kẻ tha hương, khi lập lòe như đám lửa trời soi chừng chốn cổ độ, khi hùng tráng như tiếng gươm tuốt giữa trận, khi lâm li như vượn khóc trên ngàn”. So với bài tế của Nguyễn Đình Chiểu thì bài tế của Nguyễn Văn Thành đặt người anh hùng chết trận nhiều hơn vào các cặp khái niệm chung như danh/phận, sinh/tử, khinh/trọng…và các cụm từ cố định như “bóng bạch câu”, “bậc cân thường”, “hội tao phùng”, “nắm lông hồng”, “bèo trôi sóng vỗ”, “vũ pháo vân thê”, “tuyết sương mấy độ”…khiến cho giọng điệu bài tế trang nghiêm, cổ kính hơn. Ngược lại bài tế của Nguyễn Đình Chiểu ngôn từ mộc mạc, cụ thể hơn. Nguyễn Đình Chiểu tế những người lính nghĩa dân, phác họa phẩm chất anh hùng của họ không phải với tư cách là một đội quân chính quy mà là những người lính nghiệp dư chỉ quen nghề cày quốc, những người lính nông dân “mến nghĩa làm quân chiêu mộ”. Lời tế của ông ít dùng điển, ít dùng từ Hán Việt. Người anh hùng nghĩa dân hiện lên cụ thể, chi tiết trong hành động yêu nước giết giặc, cả quyết mạnh mẽ trong lựa chọn dấn thân. Điều khác biệt nữa so với bài tế Nguyễn Văn Thành là hình ảnh anh hùng ở đây vừa là hình ảnh những người anh hùng trung đại quen thuộc (“sống thờ vua thác cũng thờ vua”, “tấc đất ngọn rau ơn chúa”) vừa là hình ảnh người anh hùng của nhân dân. Nỗi tang tóc vì cái chết những người lính không chỉ là nỗi tang tóc của gia đình (mẹ già khóc trẻ, vợ yếu tìm chồng), mà còn là nỗi đau của quê hương và nhân dân (“Đoái sông Cần Giuộc cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn chợ Trường Bình già trẻ hai hàng lụy nhỏ”). Hình tượng người anh hùng không hề có chất bi lụy, ai oán, cái chết của họ không đi kèm với hình ảnh chiến trường nặng nề, ám khí như thường thấy ở các bài tế trận vong. Cái chết của họ bi tráng, bi hùng, xốc người ta đứng dậy chiến đấu tiếp. Bước sang thời hiện đại các bài tế trận vong xuất hiện ngày càng nhiều kèm theo những biến đổi về ngôn ngữ, hình tượng. Cảm quan về người anh hùng chết trận cũng dần dần thay đổi, không còn lệ thuộc vào những mô thức cũ nữa. Tuy nhiên, những bài tế trước 1945 như “Văn truy điệu các liệt sĩ bị tàn sát ở chợ Cầu, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh”, “Văn tế truy điệu chiến sĩ cách mạng”, “Bài văn truy điệu các liệt sĩ đã bỏ mình trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh”...(Được sưu tập tương đối nhiều trong Văn tế cổ và kim của Phong Châu, Nguyễn Văn Phú) ta vẫn bắt gặp không ít các cụm từ cố định, những phạm trù quen thuộc của nền Hán học cũ sống lại trong bài tế thời hiện đại. Đó là điều dễ hiểu khi các mô thức văn học không bao giờ bị gián đoạn hẳn mà có “trí nhớ” của mình, vẫn tái sinh trong môi trường mới. Các bài văn tế cũng vậy, với cái chết đôi khi chất liệu cũ vẫn gây xúc động, thương cảm cho người nghe trong thời khắc trang nghiêm, đau xót của lễ tang. Triêu Vũ |
Bình luận
CÁC TIN BÀI KHÁC
|
»
Phim Việt gặp khó với tỷ lệ quy định 30% ( Thứ hai, 19 Tháng 7 2010 ) » Nhìn từ năm 2009, một số “căn bệnh” văn chương ( Thứ hai, 12 Tháng 7 2010 ) » Lớp tập huấn cho nhà báo tuyên truyền về Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội ( Thứ năm, 15 Tháng 7 2010 ) » Một cảm nhận về trường ca ( Thứ hai, 05 Tháng 7 2010 ) » Hội thảo khoa học toàn quốc "Văn học, nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay" ( Thứ tư, 14 Tháng 7 2010 ) |

