Chi tiết tin tức

Chủ nghĩa duy mỹ trong truyện ngắn của Akutagawa và Nguyễn Tuân

27/12/2011
Akutagawa Ryunosuke (1892 - 1927) là một trong những người trụ cột có công mở ra cánh cửa văn học Nhật Bản hiện đại và là một trong ba nhà văn của đất nước này được thế giới biết đến nhiều nhất. Ở Việt Nam, Nguyễn Tuân (1910 - 1987) cũng được xem là một trong những tác gia lớn nhất của nền văn học hiện đại, người cầm trịch trong thể loại tùy bút mà đến nay chưa ai vượt ngưỡng. Những sáng tác của Akutagawa và Nguyễn Tuân thực sự là những di sản được công nhận không chỉ bằng những giải thưởng mà hơn hết là của thời gian.

Bên cạnh đó, còn có một lối chung đưa hai nhà văn của hai đất nước xích lại gần nhau và gần gũi trong lòng độc giả là con đường văn chương với hành trình đi tìm cái đẹp nghệ thuật. Đi vào tác phẩm có thể nhặt ra được khá nhiều điểm tương đồng thú vị giữa hai tác giả được đánh giá là những nhà văn “duy mỹ” này. Song, đằng sau đó là những cá tính riêng, thể hiện sự chiêm nghiệm của bản thân mỗi cá nhân về cái đẹp, nghệ thuật, và cuộc sống.

 
1. Truyền thống yêu cái đẹp trong văn học Nhật Bản và Việt Nam

Ít nhiều trong bản thân mỗi người đều có tình yêu với cái đẹp bởi tính chất đặc biệt của nó. Có thể nói không nơi đâu mà cái đẹp được ví như một thứ tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống và tâm tư con người như ở xứ Phù Tang. Lòng mến mộ cái đẹp ấy được chuẩn hóa thành những nguyên lí thẩm mỹ mà theo thời gian ngày càng phong phú thêm.

Và có lẽ cũng không nơi đâu mà một thời đại lịch sử được mang tên thời của cái đẹp lên ngôi - thời Heian - như ở Nhật Bản. Cảm thức thẩm mỹ được đưa lên hàng đầu, mà theo Ivan Morris thì đây có thể là “phần cống hiến vĩ đại nhất của xứ sở đối với nhân loại” [1:66] . Đây là thời đại ra đời của cảm thức aware (đầy đủ là mono no awere), là niềm bi cảm, nỗi lòng xao xuyến trước vẻ đẹp vô thường của con người và tạo vật, một cảm thức thẩm mĩ mang màu sắc Phật giáo. Tiếp nối và phát triển truyền thống thẩm mĩ aware, thời trung đại mang đến cảm thức yugen, wabi, sabi. Và thời đại thị dân tràn đầy tinh thần tự do, phóng khoáng Tokugawa cho biết thế nào là iki. Ngay cả ngày nay tất cả những giá trị thẩm mỹ đó vẫn còn là tiêu chí căn bản của các loại hình nghệ thuật như văn học, thơ ca, tuồng Nô, trà đạo, cắm hoa …

Văn chương Nhật Bản từ lúc khởi sinh đến nay đã hẳn nhiên mang trong mình mạch nguồn thẩm mỹ tốt đẹp đó. Ngay từ buổi đầu của tiểu thuyết đã có một chàng Genji sống trọn cuộc đời cho cái đẹp lí tưởng mà mình tôn sùng, và có lẽ, là chàng đã sống thật hơn cả con người thật. Con đường văn chương sau ấy cũng lưu dấu bao bước chân lữ khách tìm kiếm, tôn vinh vẻ đẹp Nhật Bản và đưa vẻ đẹp ấy vượt ra khỏi biên giới quốc gia mà người ta không thể không nhắc đến như Matsuo Basho, Kawabata Yasunari…

Không chuẩn hóa thành những nguyên lí thẩm mỹ như ở xứ sở bên kia đại dương nhưng văn học Việt Nam cũng là nơi kí thác của rất nhiều vẻ đẹp. Đó là suối nguồn trong trẻo của văn học dân gian. Đó là Nguyễn Trãi đưa con người trở về với tự nhiên, với vẻ đẹp ban sơ, suối nguồn bất tận của cuộc sống. Là Nguyễn Du cho ta những rung động sâu sắc với tâm sự con người, và vẻ đẹp trong tâm hồn muôn kiếp sống. Đó còn là một lớp nhà nho tài hoa tài tử đại diện cho tinh thần, khí chất của thời trung đại. Chúng ta còn có hẳn một phong trào Thơ mới, một thời kì văn học lãng mạn, nơi cái đẹp nghệ thuật là chuẩn tắc tối quan trọng hơn bất kì điều gì khác.

Một thực tế là, cái đẹp, bởi tính phổ quát của nó, thuộc về mọi thời đại và mọi quốc gia. Và ở mỗi thời đại, mỗi quốc gia lại có những sắc màu thẩm mỹ của riêng mình. Vì thế, chúng ta còn có thể tìm thấy trong các nền văn hóa, văn học khác những điểm tương đồng và dị biệt khi đề cập đến cái đẹp.

Duy mỹ là tình yêu cái đẹp ở trạng thái cao nhất. Đối với các nhà văn nói riêng và nghệ sĩ nói chung, duy mỹ không gì khác hơn là lòng sùng tín cái đẹp nghệ thuật. Con đường đi của họ là một hành trình tìm kiếm, khám phá, sáng tạo và tôn vinh cái đẹp nghệ thuật. Và có thể nói, con đường đó vốn dĩ rất quen thuộc trong lịch sử nhưng những bước chân thật lắm sắc màu.

2. Chủ nghĩa duy mỹ - điểm gặp gỡ giữa Akutagawa và Nguyễn Tuân

Là thành viên tích cực của tạp chí Tân tư trào (Shinshicho), Akutagawa được nhiều người đánh giá là nhà văn duy mỹ, còn “nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp” cũng là danh hiệu gắn liền với cuộc đời cầm bút của Nguyễn Tuân. Với cái đẹp nghệ thuật, có thể điểm ra vài nét tương phùng thú vị giữa Akutagawa và Nguyễn Tuân (chủ yếu trước Cách mạng).

2.1. Cảm hứng từ các đề tài truyền thống và khuynh hướng thoát li thực tế

Điều đầu tiên dễ dàng nhận thấy là các đề tài truyền thống gợi cảm hứng sáng tác mạnh mẽ cho cả Akutagawa và Nguyễn Tuân.

Phần lớn các sáng tác của Akutagawa chủ yếu lấy đề tài từ kho tàng văn hóa cổ điển. Các truyện cổ và thời đại lịch sử đã qua được ông khai thác và lấy làm cảm hứng, bối cảnh chính cho hàng loạt sáng tác của mình.

Truyện Cổng Rashomon (Rashomon), Cháo khoai (Imogayu), Bọn đạo tặc (Chuto), Bốn bề bờ bụi (Yabu no naka)... vay mượn đề tài từ các truyện cổ trong Konjaku monogatari (Truyện giờ đã xưa) và Uji Shui monogatari (Truyện xưa do quan Uji Dainagon góp nhặt) của thời trung đại Nhật Bản. Truyện Cái mũi (Hana) lấy cảm hứng từ truyện cổ Hana no hanashi (Câu chuyện cái mũi), hay Lòng đã trót yêu (Kesa to Morito) phỏng theo sự tích trong Genpei Seisui-ki (kể về chuyện thịnh suy của hai dòng họ Minamoto và Taira), Địa ngục trước mắt (Jigokuhen) liên quan đến bức bình phong địa ngục trong Kokon Chomonju (Cổ kim trứ văn tập) .

Các truyện Hứng sáng tác (Gesaku zammai), Cánh đồng khô (Karenosho) lấy bối cảnh thời Edo; Cái chết của một con chiên (Hyokyojin no shi), Truyện thánh Christopher (Kirishitohoro shoninden) viết về thời ngoại quốc đến truyền giáo; Tiệc khiêu vũ (Butokai), Mấy hình nộm (Hina) viết về sự tiếp thu văn minh phương Tây dưới thời Minh Trị. Đặc biệt, vốn am hiểu về văn hóa phương Đông truyền thống cho phép ông viết Sợi tơ nhện (Kumo no ito), Niềm tin (Bisei no shin), Cậu bé Đỗ Tử Xuân (Toshishun), Bức họa núi thu (Shuzanzu).

Còn với Nguyễn Tuân, mỗi một truyện ngắn trong Vang bóng một thời ít nhiều đều làm sống lại những truyền thống dân tộc, những thú chơi tao nhã và cầu kì của những ông nghè, ông cử tuy đã tàn danh song vẫn giữ thói xưa nếp cũ. Đó là cái thú thưởng trà của ông cụ Sáu mê trà tầu, mà nước pha trà phải lấy ở tận cái giếng trên chùa Đồi Mai trong Những chiếc ấm đất hay ông cụ Ấm của Chén trà trong sương sớm thưởng trà ầu kỳ như kính một nghi lễ tôn quý. Hương cuội lại cho thấy một cụ Kép dành thời gian còn lại của mình để phụng sự hoa thơm cỏ quý, để được trở về với cái thiên nhiên ban sơ và thánh thiện. Hay như cặp đôi tài tử Phó sứ Lăng và cô Mộng Liên ngao du sơn thủy với túi thơ và hồn phiêu lãng trong Đánh thơ. Có khi là thái độ ngưỡng mộ với một tay thư pháp tài hoa ở Chữ người tử tù…

Pha trà, thưởng ngoạn, ngâm thơ, ủ rượu, thư pháp, chơi hoa… là những phong tục cổ truyền chứa đựng cả một nghệ thuật sống để tận hưởng tinh túy, ý vị sâu sắc và thâm trầm của cuộc sống mà Nguyễn Tuân đã nhắc nhớ cho chúng ta. Một thời vàng son đẹp đẽ đã trôi qua trong nỗi ngậm ngùi, luyến tiếc của người yêu và hiểu các giá trị đó.

Không chỉ thế, Nguyễn còn đề cao “xê dịch”, đề cao cái Tôi cá nhân, kiên quyết chối bỏ thực tại, thờ ơ với các đề tài thời sự, sáng tác theo "đơn đặt hàng của trái tim" chứ không phải của xã hội. Ngay cả nhân vật của Akutagawa cũng thế, chán ngán và muốn trốn tránh thực tại. Ngoài biểu hiện bằng lịch biểu nó còn được thể hiện bằng sự trốn chạy trong tâm hồn. Cuộc sống hiện thực đối với Heikichi trong Mặt nạ Hottoko (Hottoko) chỉ là một chuỗi ngày chán chường vô vị với tâm trạng cô đơn thường trực. Anh không thể đối diện với cuộc sống bằng khuôn mặt thực, con người thực và chiếc mặt nạ mang nhiều ý nghĩa biểu tượng đã mang đến cho anh một "gương mặt mới", một sinh lực mới. Một nhân vật khác là bệnh nhân tâm thần mang số hiệu 23 (Xã hội thuỷ quái Kappa - Kappa), cũng luôn mang xu hướng hồi khứ. Câu chuyện về "mùa hè ba năm về trước" khi vô tình lạc vào thế giới của loài thuỷ quái là hồi ức đẹp đẽ và li kì nhất mà anh có trong suốt cuộc đời. Akutagawa để cho nhân vật "điên" và bị ám ảnh bởi câu chuyện kì quái cũng là một hình thức giải thoát cho nhân vật khỏi những ràng buộc của cuộc sống hiện tại, một cách thoát li hợp lí.

Như vậy, có thể nhận thấy rằng chính quá khứ chứ không phải cuộc sống hiện tại mang đến nguồn cảm hứng sáng tạo cho cả Akutagawa lẫn Nguyễn Tuân. Và, vẻ đẹp không thuộc về thế giới thực tại đang diễn ra này.

2.2. Cái đẹp phải ở trạng thái cao nhất và độc nhất

Điều thú vị là cả hai nhà văn đều có cảm hứng mãnh liệt gợi lên từ những vẻ đẹp độc đáo, phi thường, gây ấn tượng sâu đậm, có khi là tàn bạo, tức là cái đẹp đó phải ở trạng thái cao nhất có thể. Đó có thể là cái phi thường của cảnh, cái tài hoa và khác thường của con người, cái thần diệu của một tác phẩm… mà không dễ gì có được phiên bản thứ hai trên đời.

Những con người làm nên cái đẹp nhất thiết phải có tài. Đó phải là những nghệ sĩ tài hoa bậc nhất trong lĩnh vực của mình. Tính chất đặc biệt đó khiến họ trở nên khác thường.

Yoshihide (Địa ngục trước mắt) là một họa sư có tài mà không ai có thể phủ nhận, cả giới cầm cọ cũng không ai qua mặt được. Cả cuộc đời hoạ sĩ Yoshihide này chỉ đi tìm duy nhất một điều, và cũng chỉ tôn thờ duy nhất điều ấy thôi, đó là cái Đẹp tuyệt đối. Không phải vô duyên cớ mà Akutagawa khắc họa nhân vật hoạ sĩ có những nét khác thường từ nhân dạng đến nhân tính, tất cả đều toát lên một vẻ dị biệt. Trong giới hội họa, Yoshihide đứng hẳn ra một phía riêng, từ nét cọ đến cách chọn màu, nhất nhất đều khác xa phong cách những họa sư đương thời. Đặc biệt là khả năng cảm nhận những vẻ đẹp khác thường như chính ông tự nhận: là kẻ chuyên tìm vẻ đẹp trong những cái xấu xa, tàn bạo. Thế nên chẳng có gì là ngạc nhiên khi ông lại tìm thấy chất thơ, chất mộng ở những cái thây thối rữa bên đường - một vẻ đẹp mà theo ông, không dễ có ai khác cảm nhận được. Và dù tất thảy những người khác có đả kích ông về mặt đạo đức như thế nào chăng nữa thì cũng đều bị tài năng và các bức họa vi diệu của ông thu phục.

Với số lượng đông đảo hơn, trải trong nhiều tác phẩm của Nguyễn Tuân là cả một thế giới những con người tài hoa, tài tử. Với Nguyễn Tuân, cái đẹp thường đi đôi với cái tài, với chất nghệ sỹ. Điều này cũng thống nhất với nét tài hoa, nghệ sỹ trong con người ông.

Trong Vang bóng một thời, mỗi câu chuyện kể về một cái đẹp gắn với một nghệ sĩ tài hoa. Ở những nhân vậy này, nhà văn chẳng những khai thác khía cạnh tài hoa tài tử mà còn chú ý cả những điểm khác người, thậm chí đến mức lập dị, cầu kỳ của họ. Đó là cụ Hồ Viễn (Ngôi mả cũ) một thời là tướng Cờ Đen oai phong lẫm liệt, võ nghệ cao cường, đồng thời lại có tài viết chữ rất đẹp và phong thái chẳng khác các bậc hiền nhân. Đó là một Huấn Cao khí phách, thiên lương trong sáng cùng tài viết chữ nhanh và đẹp nức tiếng cả vùng tỉnh Sơn trong Chữ người tử tù. Đó là ông Cử Hai có hoa tay lại thêm tâm hồn lãng tử, sống cuộc đời như một cuộc chơi (Một cảnh thu muộn). Và vô số những thú thưởng trà, ướp hương rượu, ngâm thơ, gảy đàn công phu hết sức mà nếu không có tâm và tài, thì người ta khó lòng theo đuổi được. Không chỉ vậy, kể cả đao phủ, phường cướp bóc cũng có cái tài chém treo ngành hay ném bút chì không ai sánh kịp.

Chất tài hoa tài tử ấy vẫn là tiêu chí đánh giá khi Nguyễn Tuân hòa mình vào cuộc kháng chiến của dân tộc, đi tìm cái đẹp trong cuộc đời thực. Lúc này ông tìm thấy và tôn vinh vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ trong những con người lao động bình dị và không giấu diếm sự thán phục của mình. Sẽ chẳng thể nào quên một ông lái đò ngược xuôi bao lần trên Đà giang hung bạo mà trữ tình trong Người lái đò sông Đà. Đó vừa là một tay lái ra hoa hết sức nghệ sĩ, lại vừa như một viên tướng nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, bao lần vượt qua trò bày binh bố trận hiểm ác của sông Đà. Trên ngực ông là cái dấu bầm tụ như một khoanh củ nâu mà theo Nguyễn Tuân, cái vết đầu sào tì vào qua bao năm tháng lái đò vượt thác ghềnh đó là một tấm huân chương siêu hạng!

          Với những nghệ sĩ tài hoa bậc nhất ấy thì cái đẹp mà họ tạo tác cũng được sinh ra trong những thời khắc và hoàn cảnh khác thường.

Đó có thể là một sớm trong lành giản dị ngồi ngâm thơ, bình văn và uống trà để vận động thần khí, tiết cái nặng nề ra và đón nhận cái khí thần đầu tiên của trời đất. Nhưng cũng có thể là một buổi chiều rớm máu với cơn lốc cuốn dữ dội trên pháp trường. Cũng có khi cái đẹp được khai sinh và thăng hoa trong một tình huống oái oăm, khác thường như ở Chữ người tử tù. Đây là ảnh tượng độc đáo xưa nay chưa từng có cũng bởi tính chất đảo lộn mọi trật tự cố hữu để nhường lại trật tự của cái đẹp khi nó được sinh ra.

Akutagawa cũng cho độc giả chứng kiến những thời khắc khác thường khi cái đẹp ra đời. Cảnh tượng hãi hùng trong cái đêm định mệnh khiến người ta hồn xiêu phách lạc trong Địa ngục trước mắt có lẽ xưa nay chưa từng có và đời sau cũng không còn tái diễn. Riêng với họa sĩ Yoshihide, đó cũng là lần duy nhất trong đời ông chứng kiến vẻ đẹp tuyệt đỉnh mà ông khao khát bấy lâu: cảnh một vị công nương diễm lệ tuyệt trần với mái tóc sổ tung, khuôn ngực trắng ngà đang khô héo khắc khoải giữa ngọn lửa hung bạo. Ánh sáng mạnh mẽ của giàn hỏa thiêu ấy chọc thủng tấm màn đêm dày đặc và soi sáng mồn một cái thần thái những người xung quanh.

          Có lẽ, chính cái hoàn cảnh khác thường dễ khiến cảm xúc của con người được khơi gợi, cũng như một người đàn ông họ Dương chỉ nhận ra vẻ đẹp của cơ thể vợ mình khi hóa thân thành một con rận mà Akutagawa đã kể trong Thân thể đàn bà.

Hoàn cảnh đặc biệt, được chiêm nghiệm hay khai sinh bởi những nghệ sĩ tài hoa, cái đẹp được hai lần tái sinh khiến nó càng độc đáo, vi diệu và có sức lay động khôn cùng.

 Tranh của Yoshihide được so sánh với họa phẩm của các bậc tổ sư đời xưa như Kawanari hay Kanaoka về mặt thần diệu. Tuy nhiên, cái cảm xúc mà tranh Yoshihide mang đến lại ở một phương diện khác. Vì họa sư này chỉ độc tấu mỗi một thể tài: tranh luân hồi địa ngục nên nó khiến người xem là kinh ngạc, rùng mình sợ hãi vì tâm lí, cảm xúc bị đẩy đến trạng thái tột cùng. Ví như người ta nghe thấy từ năm cảnh luân hồi trên cửa chùa Ryugaiji mà họa sư này vẽ “những tiếng quỷ thần đang rên siết”, thậm chí có kẻ còn bảo “ngửi được cả mùi thây chết thối rữa” [6:190] từ bức tranh nữa.

Nhưng thần diệu nhất phải kể đến kiệt tác để đời của họa sư là Bức bình phong tả cảnh thống khổ địa ngục. Bức họa với mười phần bút lực khiến người ta kinh ngạc xiết bao. Cảnh tượng ngọn lửa rừng rực thiêu cháy tấm thân mảnh dẻ, chiếc cổ trắng ngần và khuôn mặt nhỏ xinh buồn bã của cô gái là vô cùng tàn bạo trong mắt người khác nhưng đối với Yoshihide nó lại mang một vẻ đẹp kiêu hùng, phi thường, "vẻ đẹp của ngọn lửa đỏ hồng và thân hình người đàn bà quằn quại trong lửa đã làm trái tim ông thán phục vô hạn và như nuốt chửng lấy ông ta không còn dấu vết" [7:93], là "một mẫu mực không bao giờ lặp lại" [6:89]. Trước mắt Yoshihide chỉ còn lại một vẻ đẹp tuyệt đỉnh mà ông khao khát kiếm tìm trong suốt cuộc đời.

Và khi cái đẹp đó được sống lại một lẫn nữa qua tài năng của hoạ sĩ thật khiến người ta kinh ngạc. Ngay cả tăng quan chùa Yokawa vốn khinh khỉnh với Yoshihide thì vừa xem một lượt bức bình phong, đã “kinh hoàng trước cảnh một cõi đất trời đang chìm đắm trong trận bão lửa (…), bỗng như không nén nổi lời tán thưởng, vỗ đùi đánh đét, thốt lên một tiếng: "Thần diệu!"" [6:223]. Thậm chí những kẻ ngày thường vẫn mang ác cảm với họa sĩ thì khi xem bức bình phong "đều không khỏi xúc động đến lặng người, làm như họ sống thực được với muôn vàn khổ ải của hoả ngục thể hiện trên mặt tranh" [6:224]. Tất cả đã bị cái vi diệu của bức họa cuốn hút. Kể từ đó, câu chuyện bức họa trở thành một giai thoại và con cháu đức ông lưu truyền tấm bình phong địa ngục này như một báu vật. Do đó, được sở hữu một họa phẩm quý báu, tinh vi là sở nguyện của không ít người yêu cái đẹp.

Điều này cũng đúng với nhân vật Yên Khách Ông trong Bức họa núi thu của Akutagawa. Cũng là một họa sĩ yêu mến cái đẹp, Yên Khách Ông không khỏi ước ao được ngắm bức hoạ Thu sơn đồ - một kiệt tác của Hoàng Nhất Phong. Ông bồn chồn bứt rứt không yên, chỉ mong nhanh chóng tìm đến nơi diện kiến bức danh họa, chỉ lo sợ nếu không tìm xem ngay e rằng nó biến thành sương thành khói mất. Bức họa quả thật không phụ lòng mong ngóng, nó khiến Yên Khách Ông mới nhìn một lượt đã bất giác thốt lên kinh ngạc mà ngôn ngữ e rằng không thể nào diễn tả hết. Bức tranh họa cảnh như thần, khiến tâm hồn khách bay bổng như lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh, mắt mải mê không rời. Càng nhìn càng ngắm càng khám phá hết chỗ ảo diệu này đến chỗ vi diệu khác. Ngay cả chủ nhân họ Trương cũng phải thú nhận là bức tranh đó quá đẹp để có thực trên đời, thậm chí khiến ông đâm ra ngờ vực. Từ sau lần gặp gỡ đó, bức họa Thu sơn đồ luôn ám ảnh khiến ông thèm thuồng và sẵn sàng từ bỏ mọi thứ miễn sao bức họa hi hữu ấy lọt vào tay mình.

Một nhân vật khác của Nguyễn Tuân là viên quản ngục (Chữ người tử tù) cũng mang sở nguyện tốt đẹp đó. Yêu mến cái tài và cái đẹp nên từ thuở đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền, viên quản ngục đã ao ước có được chữ của Huấn Cao treo trong nhà là như có báu vật ở đời. Sở nguyện ấy cuối cùng cũng thành. Những con chữ cuối cùng của một nghệ sĩ tài năng đặt trong một bức lụa trắng, mùi mực thơm với những nét chữ vuông tươi tắn nói lên cái hoài bão tung hoành ngang dọc của một đời người khí phách kiên cường quả là một tặng phẩm hiếm hoi mà viên quản ngục may mắn được lĩnh nhận. Với bức thư pháp, Huấn Cao không chỉ truyền lại cái đẹp, tài hoa cho hậu thế mà còn chuyển giao cả một nhân cách sống.

Như vậy, cái đẹp mà Akutagawa và Nguyễn Tuân kiếm tìm và trân trọng thật đặc biệt, độc đáo, vượt lên trên những giới hạn của cái tầm thường, ở trên tột cùng của cảm xúc. Nó thể hiện sự nhiệt thành, đam mê với những cảm xúc mãnh liệt trong người nghệ sĩ trước cái đẹp.

2.3. Vị thế tối cao của cái đẹp và nghệ thuật

Suốt cuộc đời cầm bút của mình, Nguyễn Tuân chỉ khát khao và tôn thờ cái đẹp. Đặc biệt, trong thời kì trước cách mạng, trang viết của ông thể hiện chất duy mỹ tuyệt đối. Ở đó, cái đẹp đứng trên tất thẩy mọi thứ. Mọi trật tự đều sụp đổ trước trật tự của cái đẹp.

Ông là người duy mĩ trên cả hai phương diện nghệ thuật và đời sống cá nhân. Trước Cách mạng, ông thỏa mãn cái tính nghệ sĩ, cái khoái cảm thẩm mỹ trong những chuyến đi, những thú chơi ngông. Ở lại trần gian này, xem cuộc sống như một cuộc chơi, và đã chơi hết mình. Chơi mà đầy tính bác học, đầy tính tài hoa.

 Cái đẹp vị nghệ thuật của ông tạm thời không phán xét trên bình diện đạo đức. Chính lẽ đó mà có khi cái đẹp được xét trên mức độ thuần thục, điêu luyện của người thực hiện hơn là các khía cạnh luân lí. Đó là một đao phủ tên Bát Lê có cái món nghề “chém treo ngành” rất ngọt, chỉ một nhát là những cái đầu đổ gục nhưng vẫn còn dính một làn da mỏng (Bữa rượu máu). Hay môn võ nghệ cao cường “ném bút chì” của tên trùm băng cướp Lý Văn trong Một đám bất đắc chí. Hắn có thể phóng cây mai cắt đứt hai chân con gà nhưng còn chừa lại một làn da y như chém treo nghành của Bát Lê vậy. Hay cụ Sáu “đam mê cái phong vị trà tàu, đam mê đến nhiều khi lầm lỗi” [5:40] trong Những chiếc ấm đất. Nguyễn Tuân cũng chẳng câu nệ người sáng tạo đang ở vị thế nào, là tên tử tù chờ ngày hành quyết nhưng có tài thư pháp nức tiếng cả vùng như Huấn Cao cũng được ông trân trọng (Chữ người tử tù).

Chùa Đàn lại có cái không khí rợn ngợp khác. Bá Nhỡ đàn, cô Tơ hát, Lãnh Út cầm chầu, họ trổ hết tài nghệ của mình trong buổi đàn hát chết người ghê rợn. Nói như Nguyễn Đăng Mạnh thì “anh kép đàn đầy tài hoa quyết đem mạng sống của mình để đánh đổi lấy mấy giây phút tuyệt vời thiêng liêng của cảm hứng nghệ thuật, mấy giây phút tuyệt vời của anh hoa phát tiết, mấy giây phút tuyệt vời của niềm giao cảm giữa những con người biết thờ phụng cái Đẹp” [4:309].

Dưới con mắt của một nghệ sĩ tài hoa độc đáo như Nguyễn Tuân, mọi sự vật đều được khai thác từ phương diện thẩm mỹ, đều được soi rọi dưới ánh sáng của nghệ thuật. Thế nên, nghệ thuật sinh ra, trước hết vì khoái cảm thẩm mỹ của cá nhân, của nghệ sĩ hơn là vì những điều khác.

Akutagawa cũng từng phát biểu trong bài tiểu luận Nghệ thuật và những điều khác (Geijutsu to sonota) rằng: "Để sáng tạo một tác phẩm không phải tầm thường, nhà nghệ sĩ không dừng lại ngay trước cả việc hiến tâm hồn mình cho quỷ. Tất nhiên tôi cũng sẽ không dừng lại trước điều đó" [7;9]. Nhân vật Yoshihide - mà nhiều nhà nghiên cứu cho là gần với con người nhà văn "vị nghệ thuật" trong Akutagawa nhất - là người tôn sùng nghệ thuật thuần tuý đã sống theo đúng lẽ này.

Cuộc đời ông không gì có sức chi phối mạnh mẽ hơn niềm đam mê nghệ thuật. Để phục vụ cho bức vẽ về những nỗi thống khổ của địa ngục, ông cần những nguyên mẫu có thực, sinh động. Với suy nghĩ nghệ thuật là trên hết, ông bất chấp những chuẩn mực đạo đức, những luân lí đời thường, dám sử dụng những phương pháp kì bí và tàn bạo như xiềng xích học trò cho rớm máu, thả mãnh thú tấn công đến suýt mất mạng…chỉ để say sưa nhìn ngắm vẻ đau đớn, sợ hãi tột cùng của nhân gian mà họa lại vào tranh.

Đỉnh điểm của quan niệm nghệ thuật tối cao là ngày ông diện kiến một mẫu mực về nỗi đau đớn khôn xiết của con người. Khi ngọn lửa dữ dội bùng lên như cơn bão đang liếm từng đường nét trên cơ thể cô gái, thì trước mắt Yoshihide không còn là hình ảnh cô con gái thân yêu đang bị chết cháy mà chỉ còn lại là hình ảnh một vẻ đẹp tuyệt đỉnh, một sự hoá thân vào lửa vừa kiêu hùng vừa bi tráng mà trước nay ông chưa từng tận mắt nhìn thấy. Trong ông không còn gì hơn ngoài niềm khoái cảm đến tột độ trước vẻ đẹp của nó. Yoshihide với tư cách một người cha đã bị Yoshihide với tư cách một họa sĩ, một nghệ sĩ tôn thờ nghệ thuật "đánh cho đo ván".

Yoshihide đã làm những điều tàn nhẫn mà một người có lương tri phải căm phẫn, đã hiến hồn mình cho quỷ dữ để phải sống trong nỗi sợ hãi mơ hồ về địa ngục ám ảnh trong tâm tưởng nhưng dẫu sao ông cũng đã sống hết mình cho niềm đam mê nghệ thuật đến cuồng dại. Và không phải là ông không được đền đáp. Chính thái độ trân trọng, ngưỡng mộ của những người xung quanh khi ngắm nhìn kiệt tác là đền đáp lớn lao nhất đối với ông. Nhưng điều đó có là đủ?

Cái đẹp và nghệ thuật không những tách khỏi mà còn đứng trên mọi lẽ thiện - ác và cảnh huống ở đời. Dưới ánh sáng của cái đẹp nghệ thuật, mọi ranh giới bị xóa nhòa, mọi tình cảm đều có thể giải thích được. Nó đứng ở vị trí độc tôn trong lòng những tín đồ.

2.4. Thưởng thức nghệ thuật

Nghệ thuật và cái đẹp chỉ thuộc về những người đồng cảm và yêu mến nó, tức phải có tính nghệ sĩ trong máu. Cái đẹp không sinh ra từ sự mua chuộc hay cưỡng bức, nên càng không thể thuộc về thế giới ô trọc của kim tiền và quyền lực. “Nghệ thuật là cái mà bọn con buôn cho là vô ích”, Nguyễn đã từng nói thế. Những kẻ giàu sang chỉ ra vẻ trưởng giả, ngồi xổm trên nghệ thuật mà cứ ra vẻ ta đây am hiểu là lớp người mà Nguyễn Tuân rất khinh bạc.

Có lẽ Akutagawa cũng tương đồng với Nguyễn Tuân ở điểm này. Ở Bức họa núi thu, cũng cùng một bức họa ấy thôi nhưng lại mang đến những ấn tượng hoàn toàn khác nhau. Có thể là do đổi chủ mà thành ra thế không? Lần đầu là trong tay một khách tài tử có cái phong thái của con nhà dòng dõi và am hiểu hội họa. Còn lần thứ hai, bức họa được trưng trong phủ đệ một phú hào thiếu tính nghệ sĩ.

Đồng thời tác phẩm này cũng khiến ta chú ý đến quan niệm thưởng thức cái đẹp mang tính chủ quan của Akutagawa. Ở lần đầu diện kiến nó khiến người thưởng ngoạn ngỡ ngàng, đắm mình trong cái vi diệu và không thôi mơ tưởng đến suốt năm mươi năm sau. Đến lần thứ hai, bức họa khiến cố nhân đâm ra thất vọng vô cùng. Những cảm xúc trái ngược nhau ấy có thể bắt nguồn từ sự mâu thuẫn giữa khát khao trong tâm tưởng với sự thực viên mãn ngoài đời. Đối với họ, vẻ đẹp tuyệt đối khắc sâu trong tâm trí mãi mãi là vẻ đẹp của bức tranh trong khát khao với những nét vẽ của trí tưởng tượng. Cũng giống như bức tượng Nữ thần Venus de Milo sở dĩ hoàn mĩ đến thế, khiến người ta ngưỡng mộ tôn sùng đến thế là bởi bức tượng bị thiếu hai cánh tay, nó khiến mỗi người khi nhìn ngắm đều khao khát vẽ lên trong trí tưởng tượng của mình hình ảnh của cánh tay hoàn thiện. Ta nhận thấy ở đây lí tưởng thẩm mĩ của các nhà lãng mạn, xem vẻ đẹp tuyệt đối chỉ tồn tại trong khao khát của tâm hồn tha nhân. Và toàn bộ câu chuyện cùng những điều kì lạ, bí ẩn xảy ra chung quy lại xuất phát từ "trò đùa của cảm giác".

Có lẽ Akutagawa và cả Nguyễn Tuân đều chịu ảnh hưởng của mỹ học duy tâm chủ quan (tiêu biểu là Hume, Lalo, Kant) "tuyệt đối hoá cái đẹp theo quan niệm chủ quan, tìm nguồn gốc của cái đẹp trong ý thức của chủ thể, trong cảm xúc chủ quan của cá nhân" [8:73]. Chẳng thế mà Trương Chính nhận xét rằng “Nguyễn Tuân là nhà văn chủ quan nhất trong các nhà văn của ta [4:32]. Vì là cái chủ quan nên không thể lấy thước đo thẩm mỹ của người này đem áp dụng cho người kia. Chính điều đó làm nên sắc màu độc đáo riêng cho các nhà nghệ thuật khi đi tìm vẻ đẹp của mình.

2.5 Những mâu thuẫn trong hành trình duy mỹ

Được đánh giá là những nhà văn vị nghệ thuật, và có vẻ xa lạ với thời cuộc, nhưng liệu có phải như vậy không? Akutagawa và Nguyễn Tuân có phải là những nhà duy mỹ chủ nghĩa hoàn toàn ko? Hay ẩn sau đó là điều gì khác chưa được nói hết? Có thể thấy trên hành trình kiếm tìm và tôn vinh vẻ đẹp tuyệt đối, cả hai nhà văn đều vấp phải những mâu thuẫn. Đó là khi cái Mỹ đụng độ cái Chân, cái Thiện, khi nghệ thuật và cuộc sống không thể song hành.

Cái đẹp không thể tìm thấy được trong cuộc sống hiện tại, đó là điều mà cả Akutagawa và Nguyễn Tuân đều nhận thấy từ khi bắt đầu sự nghiệp của mình. Do đó cái Mỹ trong tác phẩm của hai nhà văn này thường không đi cùng cái Chân. Nếu chân thực với đời sống, thì có lẽ cũng chỉ toàn thấy những cái xấu xa, những mặt phi đạo đức và phi thẩm mỹ mà thôi.

Nguyễn Tuân cũng không ít mâu thuẫn khi trình bày cái lí tưởng thẩm mỹ của mình, nhất là giai đoạn trước Cách mạng. Cũng là ca ngợi sự chiến thắng của cái đẹp nhưng ở ông có rất nhiều cách biểu hiện trái ngược nhau. Có khi ông đề cao cái đẹp mà không tính đến cái ích hay hại, không tính đến thiện hay ác, tức là cái đẹp sinh ra vì chính bản thân nó mà không cần quan tâm đến những vấn đề khác, nhưng cũng có khi ông cho rằng cái đẹp chỉ được sinh ra và thuộc về những thiên lương trong sáng. Có khi cái đẹp của ông chỉ đơn thuần mang tính hình thức, là cảm nhận hết sức chủ quan của cá nhân, nhưng cũng có khi ông yêu cầu nó phải gắn với một nội dung sâu sắc. Có khi cái đẹp không đơn thuần mang giá trị thẩm mỹ mà phải gắn với các giá trị chân chính khác. Cái đẹp có thể khiến người ta chết đi nhưng cũng có thể tái sinh một kiếp sống. Ông muốn đóng khung trong cái tôi nghệ sĩ đầy chất ngông, nhưng rồi cũng muốn phá bỏ hết, đốt hết để được hồi sinh và về với cuộc đời… Tất cả những trạng huống đối ngịch ấy là những mâu thuẫn trong một nghệ sĩ buộc ông phải tìm lời giải đáp.

Ở Akutagawa, ta thấy một nhà văn, một nhà nghệ sĩ yêu chuộng cái đẹp và nghệ thuật, mong muốn tác phẩm của mình trước hết phải là một tác phẩm nghệ thuật thuần tuý và thể hiện quan điểm này trong bài tiểu luận Nghệ thuật và những điều khác. Ông đã để cho nhân vật của mình là Yoshihide say sưa sáng tạo nghệ thuật trong niềm đam mê vô bờ bến của mình. Ông ta tôn thờ nghệ thuật mà sẵn sàng hi sinh tình thân. Nhưng rồi sau đó thì sao? Tuy thoả mãn về mặt nghệ thuật nhưng ông lại bị ám ảnh, dằn vặt đến nỗi phải tự vẫn. Vậy đâu là cái đích mà nghệ sĩ chân chính cần vươn tới? Làm thế nào để không đánh rơi nhân cách mà vẫn thỏa mãn được lí tưởng thẩm mỹ của mình, tức làm thế nào để dung hòa nghệ thuật với nhân sinh? Tìm đâu thấy sự song hành giữa Mỹ và Thiện trong cuộc đời đầy những bất trắc và xấu xa này? Và có nên không khi chỉ sống với thế giới nghệ thuật và tiêu chí thẩm mỹ của riêng mình?

Trước hàng loạt những câu hỏi đầy tính mâu thuẫn đó, mỗi nhà văn đã lựa chọn cho mình một cách giải quyết.

3. Và cá tính riêng

          Hội ngộ trên bước đường đi tìm cái đẹp nghệ thuật, nhưng tính duy mỹ ở mỗi tác giả lại có những nét riêng, tạo nên cá tính độc đáo không lẫn vào đâu được.

3.1. Khai thác “quá khứ”

Cùng chọn khuynh hướng thoát li thực tại, quay về quá khứ tìm cảm hứng và đề tài sáng tác, nhưng dụng ý của Akutagawa lại khác Nguyễn Tuân.

Có thể thấy các truyện cổ trong Kojaku monogatari hay Uji Shui monogarari có sức hút mạnh mẽ đối với Akutagawa. Tuy nhiên, việc cảm thụ các tác phẩm cổ điển không dừng lại ở việc hiểu thấu về nó mà hơn hết - cũng chính là thành công của ông - là đã mang đến một sức sống mới, một nét nghĩa mới, một cách lí giải mới của môt lí trí hiện đại cho các câu chuyện vốn dĩ đã quen thuộc. Có thể thấy ở ông sự trân trọng, đồng thời tinh thần sáng tạo và tự làm mới khi tiếp xúc với văn hoá truyền thống.

Cũng thất vọng với hiện tại, Nguyễn Tuân quay về với một thời vang bóng. Nhưng ở Nguyễn là thái độ trân trọng các giá trị truyền thống, ông quay về để tìm kiếm vẻ đẹp và ca ngợi cái dĩ vãng đẹp đẽ với bao thú tiêu dao thanh nhàn, cầu kì. Quay về để thỏa mãn cái chất ngông và duy mỹ của mình khi mà hiện thực xã hội không cho phép.

3.2. Nỗi đau đời của một nhà duy mỹ

Ở Akutagawa cái đẹp của nghệ thuật thường được trình bày trong sự gắn kết với vấn đề đạo đức và các vấn đề xã hội. Ẩn sau những trang văn đầy tính duy mỹ và trốn tránh thực tại ấy là cả một nỗi đau đời.

Dù làm ra vẻ xa lạ, bay trên đầu thời đại với cái nhìn giễu cợt, nhưng kì thực, những tác phẩm của ông đều đã trực tiếp hay gián tiếp thể hiện những mối ưu tư thời thế. Với kiểu truyện cố sự tân biên, ông đưa vào những câu truyện cổ quen thuộc một cách nhìn mới, lí giải những vận động tâm lý bằng một lí trí tỉnh táo. Ta thấy ở ông một con người thiết tha với cuộc đời, ông mong muốn kiếm tìm những tình cảm chân chính nơi con người. Nhưng nào có thấy khi càng đi sâu, càng lí giải, ông càng thấy những thói hư tật xấu, chỉ thấy những nhân hình lẫn nhân tính đầy rẫy méo mó. Mặc dù đó có là những tính cách tượng trưng cho tính phổ quát thuộc mọi thời đại chăng nữa thì cũng không thể phủ nhận rằng cái mảng màu xám buồn trong tác phẩm của ông không có liên hệ với tình hình Nhật Bản đương thời. Hình ảnh Xã hội thủy quái Kappa phi lý, phản tự nhiên chính là mặt trái của xã hội - như nhiều nhận xét.

Giữa cái xã hội không vun xới những tâm tính tốt đẹp, không nuôi dưỡng cái đẹp mà thậm chí còn hủy hoại nó ông không thể nào dung hòa được vẻ đẹp nghệ thuật và cuộc sống. Cái vòng luẩn quẩn của của mối quan hệ nghệ thuật - nghệ sĩ - cuộc sống cứ mãi quấn lấy ông. Nghệ sĩ sẽ chọn gì, nghệ thuật hay cuộc sống? Chọn gì giữa Mỹ và Thiện?

Trong Địa ngục trước mắt, khi để cho cái Mỹ chiến thắng cái Thiện, tức là hi sinh cuộc sống cho nghệ thuật thì Akutagawa cũng đồng thời nhận ra rằng nghệ sĩ sẽ phải chết vì điều đó. Nghệ thuật là điều cốt tử đối với nghệ sĩ, nhưng liệu nghệ sĩ có thể sống, có thể tận hưởng và tận hiến cuộc đời cho nghệ thuật được nữa không khi bỏ rơi cuộc sống, khi đánh đắm cái Thiện. Đó là những dằn vặt, mâu thuẫn giữa tính nghệ sĩ với sự tự vấn lương tâm, khi hi sinh cái Thiện cho cái Mỹ, thì ngay bản thân nghệ sĩ sẽ phải tự xử mình trên phương diện đạo đức. Đặt dấu chấm hết cho những khổ sở, dằn vặt đó, với ông, là cái chết.

Do đó có thể nói nỗi đau đời lớn nhất của Akutagawa với tư cách một nghệ sĩ là làm thế nào dung hòa vẻ đẹp nghệ thuật với cuộc sống, khi cuộc sống này quá nhiều những ung nhọt. Ta nhìn thấy nỗi khổ tâm của một nhà văn muốn hết mình cho nghệ thuật nhưng vì trót giàu lòng nhân bản mà không thể thờ ơ với các vấn đề nhân sinh.

3.3. Chuyển hướng nghệ thuật ở Nguyễn Tuân

Cách mạng tháng tháng 8 là một cột mốc lịch sử, điều này đúng cho cả Nguyễn Tuân. Lý tưởng thẩm mỹ ở Nguyễn từ Vang bóng một thời, Một chuyến đi, Tóc chị Hoài… đến Tình chiến dịch, Sông Đà, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi… vừa thống nhất vừa tiếp biến.

Vẫn là Nguyễn Tuân duy mỹ, tiếp cận thế giới, tiếp cận con người bằng phương diện văn hóa nghệ thuật, tài hoa nghệ sĩ. Ông có cái tiêu chí phân loại nhân vật thật đặc biệt - tiêu chí thẩm mĩ - để phân ra thành người tài hoa và kẻ thô thiển. Ngay cả thái độ phản ứng lại xã hội hay nhắm vào kẻ thù cũng trên phương diện thẩm mỹ. Và những trang viết về cảnh sắc đất nước trên đường xê dịch vẫn đẹp đẽ vô cùng.

          Cuộc hành trình dài với cái đẹp của của ông may mắn được lột xác sang một hình hài mới nhờ công cuộc Cách mạng vĩ đại của dân tộc. Ông ngỡ ngàng nhận ra: “cái có thật bây giờ đẹp, và cái đẹp bây giờ có thật trong cuộc đời” [4:607]. Từ đó quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn có nhiều đổi mới. Trước Cách mạng, Nguyễn Tuân nhặt nhạnh trong dĩ vãng cái đẹp hoài nhớ, tiếc thương thì sau Cách mạng, ông cảm nhận cái đẹp trong hiện tại sôi động của cuộc kháng chiến và cái nhìn tin tưởng vào tương lai. Quan niệm con người tài hoa nghệ sĩ trước Cách mạng là con người phi thường, hiếm hoi và lạc lõng giữa thế giới ô trọc xung quanh thì sau Cách mạng, ông thấy chất tài hoa nghệ sĩ trong người lao động bình dị, trong quảng đại chúng nhân dân. Cái Tôi đầy tính ngông trước đó đã hòa vào cái Ta chung của dân tộc, từ nhà nghệ sĩ đơn thuần đến một nghệ sĩ - chiến sĩ, và đã thôi buồn bã để nở nụ cười mới. Giọng điệu cũng bớt vẻ khinh bạc mà trở nên đôn hậu.

          Đặc biệt, dù ở giai đoạn nào, và mức độ đậm nhạt khác nhau, vẫn thấy chứa đựng trong những trang văn đẹp đẽ của Nguyễn Tuân là tấm lòng của một người con với mẹ Việt Nam. Đó là lòng yêu mến những phong tục truyền thống của cha ông, là cảnh sắc đất nước dọc bước đường qua, là thái độ trân trọng tiếng Việt, mà trên hết là tình cảm tự hào dân tộc sâu sắc.

4. Một vài kiến giải

Điều gì làm nên điểm gặp gỡ cũng như cá tính riêng giữa Akutagawa và Nguyễn Tuân khi cùng là những nghệ sĩ của chủ nghĩa duy mỹ?

- Truyền thống yêu mến cái đẹp trong văn hóa và văn chương Á Đông như đã trình bày ở trên.

- Sự khá tương đồng về mặt thời đại và hoàn cảnh đất nước. Đó là một Nhật Bản đang chuyển mình mạnh mẽ từ thời Minh Trị sang Đại Chính, với sự tăng trưởng chóng mặt và rất nhiều va chạm, hụt hẫng về văn hóa và nhân sinh. Những giá trị đạo đức truyền thống vốn được trọng dụng và xem như chuẩn mực đang đứng trước nguy cơ bị "chủ nghĩa cá nhân" nuốt chửng khiến Akutagawa mang nặng nỗi thất vọng về thực tại. Còn Nguyễn Tuân gọi xã hội Việt Nam những năm tháng trước Cách mạng 1945 là “ối a ba phèng”, khi bủa vây xung quanh ông là những xấu xa, lừa lọc khiến các giá trị bị đảo lộn, cùng với đó là cái ngột ngạt, bất công của một xã hội nô lệ. Ở đó, “cái đẹp và cái thật hầu như chẳng bao giờ khớp được với nhau mà thường trái lại” [4:607]. Quay lại tìm kiếm vẻ đẹp và cảm hứng sáng tạo ở quá khứ là một cách phản ứng thể hiện sự bất mãn, quay lưng lại với thực tại. Có lẽ đó cũng là ý thức quay về với vẻ đẹp truyền thống của những nhà văn vốn sinh trưởng trong gia đình còn lưu giữ được những nề nếp gia phong cũ, xa lạ với xu thế chung của xã hội đương thời.

- Sở học uyên bác, am hiểu vốn cổ dân tộc và những ảnh hưởng từ văn học phương Tây. Ngay từ nhỏ Akutagawa đã tỏ rõ sự yêu thích văn chương Nhật Bản cổ điển, cận đại và các tác phẩm cổ điển Trung Quốc. Những am hiểu sâu sắc về văn hóa cổ điển Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ là cơ sở cho những tác phẩm theo kiểu cố sự tân biên của ông. Dần dần sự quan tâm tìm hiểu văn chương cận đại của ông được mở rộng với việc tiếp cận các tác phẩm của những nhà văn cận đại như Mori Ogai, Natsume Soseki và các tác giả phương tây như Auguste Strindberg, Anatole France, Henri Louis Bergson, Rudolf Eucken [6:11]. Còn những trang viết của Nguyễn Tuân chứng tỏ ông có “vốn sống phong phú và kiến thức uyên bác về các mặt lịch sử, địa lý, văn hóa học đồ sộ, đủ Đông Tây cổ kim” [4:229]. Nguyễn Tuân yêu Việt Nam với những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc. Ông yêu tha thiết tiếng Việt, những kiệt tác văn chương của Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Tú Xương, Tản Đà....Thời kỳ 1930 - 1945 cũng là giai đoạn văn học Việt Nam tiếp nhận một cách mạnh mẽ nhiều trường phái, trào lưu văn học và các tư tưởng triết - mỹ của các nhà văn phương tây, để lại dấu ấn trong nhiều tác phẩm, không ngoại trừ trường hợp của Nguyễn Tuân. Và nhiều ý kiến cho rằng Nguyễn Tuân chịu ảnh hưởng khá rõ cái tôi chủ nghĩa cá nhân kiếm tìm vẻ đẹp hình thức của André Gide. [4:233].

- Một điểm tương đồng khá thú vị khác là sự nghiệp của cả Akutagawa lẫn Nguyễn Tuân đều nằm trong thời kỳ mà nền văn học ở mỗi nước có những chuyển biến lớn với nhiều dòng văn học khác nhau cùng hoạt động. Đó là các phái theo chủ nghĩa tự nhiên (naturalism), phái duy mỹ (aestheticism), phái cao sang (yoyuha), phái Shirakaba (Bạch Hoa) cuối thời Minh Trị. Bước sang Đại Chính là sự nổi lên của trào lưu tự thuật (shi shosetsu) và phái tân hiện thực (neo - realism) trong đó có Akutagawa. Văn học Việt Nam cũng hết sức sôi động với ba dòng văn học chính là lãng mạn, hiện thực và cách mạng, gặt hái được nhiều thành công về chất lẫn lượng. Quả là một môi trường sôi động và đầy thử thách cho các nhà văn tạo lập phong cách riêng cho mình.

Đặc biệt cả hai ông đều có dịp chứng kiến cái khí thế lớn mạnh không ngừng của dòng văn học vô sản. Vấn đề bức bách đặt ra lúc này chính là chọn đường. Cách mạng mang đến cho Nguyễn Tuân cách nhìn mới về con người và cuộc sống. Ông tự nguyện hòa mình vào dòng chảy của đất nước và khoác lên lý tưởng thẩm mỹ của mình chiếc áo sắc màu mới. Còn Akutagawa, thật đáng tiếc là ông đã tự kết thúc cuộc đời mình quá sớm ở tuổi 36, nên chúng ta không biết nếu được ông sẽ như thế nào. Có nhiều ý kiến cho rằng, mặc dù thái độ của ông không tỏ ra chống đối song cũng “không có thiện cảm với văn học vô sản” [2;218]. Cái chết của ông là kết quả tự nhiên của nhiều sức ép mà nhà văn phải chịu trong thời gian dài, trong đó có các trào lưu mới mà văn học vô sản làm đại diện.

 

Lý tưởng thẩm mỹ đưa hai nghệ sĩ ở hai đất nước xích lại gần nhau trong hành trình kiếm tìm và tôn vinh cái đẹp. Tuy nhiên, đó không phải là cuộc hành trình dễ dàng. Và dù mỗi nghệ sĩ đã lựa chọn cách khác nhau để giải quyết mâu thuẫn mà mình vấp phải thì những trang văn ấy vẫn tiếp tục gây được nhiều đồng cảm và ngưỡng mộ. Bởi lẽ, mỗi nghệ sĩ, mỗi cách viết mang đến cho chúng ta một cách đối diện với cuộc đời và một cách sống cho lý tưởng.


Đỗ Thị Mỹ Lợi

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.     Nhật Chiêu, 2007, Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868, NXB. Giáo dục.

2.     Khương Việt Hà, 2005, "Các khuynh hướng phản tự nhiên chủ nghĩa trong văn học Nhật Bản đầu thế kỉ XX", Tạp chí nghiên cứu văn học, số 8.


3.     Nguyễn Tuấn Khanh (biên soạn và giới thiệu), 2011, Những cây bút kiệt xuất trong văn học Nhật Bản hiện đại, NXB. Khoa học xã hội, HN.


4.      Tôn Thảo Miên (tuyển chọn và giới thiệu), 2007, Nguyễn Tuân về tác gia và tác phẩm, NXB. Giáo dục.


5.     Tôn Thảo Miên (tuyển chọn và giới thiệu), 2009, Nguyễn Tuân tác phẩm chọn lọc, NXB. Giáo dục Việt Nam.


6.     Đinh Văn Phước chủ biên, 2006, Trinh tiết - Tuyển tập truyện ngắn Akutagawa, NXB. Văn học, HN.


7.     Phong Vũ dịch, Tuyển tập truyện ngắn - Tập truyện của Akutagawa, NXB. Hội nhà văn, 2000.



8.     Trường ĐH KHXH&NV - Khoa Triết học, 2004, Giáo trình Mỹ học đại cương, NXB. Chính trị quốc gia, HN.


Nguồn: ĐHQGHCM