Báo chí với đề tài chiến tranh: Từ góc nhìn chính trị và văn hóa

Thứ bảy - 25/04/2015 13:52
.PGS,TS. NGUYỄN VĂN DỮNG
 
1.  Đặt vấn đề
Chiến tranh và hòa bình là một trong những vấn đề  cơ bản  và thách thức toàn cầu mà nhân loại đang  phải đối mặt, và chính vấn đề này đã và đang khiến các dân tộc đang phải đánh đổi biết bao tiền của và xương máu để rồi nhận lại – nhiều khi chỉ là những chết chóc và sự tàn phá đang ngày càng khóc liệt và hiện hữu, trong khi hòa bình vẫn đang còn là những thứ ngày càng xa vời vợi. Cuộc chiến ở Trung Đông, Bắc Phi và Ukraina đang minh chứng điều đó.
Những người dân Việt Nam khoảng ngoài 45-50 tuổi trở ra đều có thể cảm nhận được những bất hạnh mà hậu quả cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra hơn 20 năm, từ những năm 1950 đến 1975, thậm chí hàng thế hệ nữa vẫn chưa khắc phục hết hậu quả của nó. Những nhà báo Việt Nam tầm tuổi đến hôm nay đã nhận số hưu càng thấm thía hơn về sự tàn khóc của cuộc chiến, và hơn hết là những kinh nghiệm và trải nghiệm có một không hai về vấn đề báo chí với chiến tranh.
Tôi hiểu rằng, các nhà khoa học, nhà văn hóa, các nhà chính trị và nhà báo đang rất quan tâm bàn thảo về chủ đề báo chí thông tin, phản ánh chiến tranh như thế nào để bảo đảm hàm lượng văn hóa và tính nhân văn; trong khi báo chí trong nhiều trường hợp được dùng như là công cụ chính trị phục vụ cuộc chiến xâm lược và can thiệp của những kẻ đi “chinh phạt” dưới mọi cấp độ  và hình thức. Cuối cùng, làm thế nào để báo chí  -  truyền thông đóng góp tích cực vào việc giải quyết có h iệu quả sự nghiệp vì hòa bình, tiến bộ và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc cũng như trên phạm vi toàn thế giới.
Bài viết này góp thêm vấn đề báo chí về đề tài chiến tranh dưới góc nhìn chính trị và văn hóa - tính nhân văn.
tranh

2.  Báo chí với chiến tranh- nhìn từ góc độ chính trị
Có  thể  nói  rằng  mỗi  chúng  ta,  mỗi  con  người  dù  ở  cương  vị  nào trong xã hội đều không muốn chiến tranh nổ ra; nhưng điều oái oăm  vẫn hiện hữu  -  con quái vật chiến tranh vẫn chưa bao giờ  bị  diệt chủng; trên hành tinh này,  hòa bình vẫn chỉ  như khoảng lặng tạm thời giữa các cuộc chiến.  Và chiến tranh bắt nguồn từ  đâu và làm thế  nào để  tránh cho chiến tranh xẩy ra là câu hỏi “xưa như trái đất”. Nhưng khi chiến tranh nổ ra, báo chí-truyền thông thông tin như thế nào, cũng là vấn đề không đơn giản.
·  Theo chúng tôi, chiến tranh trước hết bắt nguồn từ sự khác biệt và sự phân biệt. Sự khác biệt về nhận thức, sự phân biệt về lợi ích và cùng với nó là lòng tham vọng bành trướng, can thiệp và thâu tóm vì lợi ích ích kỷ của các nước lớn.  Sự khác biệt về nhận thức dẫn đến những khác biệt về thái độ và hành vi. Báo chí  -  truyền thông trong trường hợp này hoàn toàn có thể cung cấp thông tin, kiến thức, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm để có thể  góp phần  làm  tăng  sự tương  đồng  và  giảm  dần sự k hác biệt  về nhận thức, tiến tới tránh xung đột trong hành vi. Nhưng, vấn đề lại ở chỗ, những ham muốn về lợi ích không gì cưỡng nổi của các nước lớn và các nước lớn đã  không  biến  báo  chí  -  truyền  thông  thành  công  cụ  kích  thích  hay  kích động chiến tranh.
Chúng ta biết rằng, an ninh, chính sách nhà nước và dư luận xã hội là ba hiện tượng đặc biệt tác động lẫn nhau. Các nước sử dụng dư luận xã hội và cố gắng hình thành nó thông qua các phương tiện truyền thông. Trong đó, các nước phát triển sử  dụng  các phương  tiện  truyền thông  đại chúng như những công cụ, đôi khi chúng trở thành ông chủ, và đôi khi trở thành kẻ tôi tớ hay làm công cụ thúc đẩy cuộc chiến tranh. Những công nghệ tiên tiến  nhất  –  công  nghệ  truyền  thông  số  đang  làm  biến  đổi  về  chất  truyền thông đại  chúng, trước hết làm thay đổi tính chất tác động của chúng đối với tâm lý và tâm trạng xã hội. Những cảnh quay đạn pháo sáng trên bầu trời Tripoli cách đây không lâu lại một lần nữa cho thấy vấn đề này có tính thời sự như thế nào?
Kỷ  nguyên  mới  của  truyền  thông  có  thể  bắt  đầu  vào  ngày 17/01/1991,  vào  lúc  2giờ  40  phút  giờ  địa  phương,  khi  cuộc  chiến  tranh Vịnh  Péc-xích  lần  thứ  nhất  được  bắt  đầu  bằng  cuộc  không  kích  của  lực lượng không quân của Mỹ vào  Baghdad. Hãng truyền hình CNN hiện diện cùng với sự ra đời kỷ nguyên truyền hình số. Từ ban công phòng của mình ở khách sạn Mansoor phóng viên Peter Arnett đã truyền hình trực tiếp cảnh các máy bay của Mỹ bắn tên lửa như thế nào, những đám cháy sáng rực xé tan bầu trời đen nghịt, đánh bại các mục tiêu. Các ăngten  và đĩa vệ tinh đã thực hiện công việc của mình, bất cứ người nào ở trên Trái Đất, vào thời điểm đó mở tivi, lần đầu tiên, có thể cảm nhận được như mình đang thực sự tham gia cuộc chiến này.
Kể từ đó tính đồng thời của những sự kiện xảy ra và được tiếp nhận đồng thời bởi người tiêu dùng tin tức đã nâng cao đáng kể tính hấp dẫn của thông  tin.  Sự  phổ  biến  nhanh  chóng  những  video  nghiệp  dư  được  quay bằng điện thoại di động đang làm cho khuynh hướng này ngày càng phát triển.  Yêu  cầu  hiệu  quả  và  áp  lực  cạnh  tranh   kết  hợp  với  các  khả  năng truyền thông truyền thống mà hiện báo in đang có, đang làm thay đổi nội dung và trọng lượng của tin tức. Liên tục chạy đua với thời gian và yêu cầu ngắn tối đa thời lượng phản ánh đang giết chết sự phản ánh mang tính phân tích theo chiều sâu. Trước đây, nhà báo có một chức năng rõ ràng. Nhà báo có mặt nơi xảy ra sự kiện và sử dụng toàn bộ các phương tiện truyền tin, hợp pháp hoá quan điểm của mình. Có thể, nhà báo chỉ mới đến trước đó một giờ đồng hồ, lần đầu tiên có mặt ở nước này, không nắm vững ngôn ngữ, không quen biết bất cứ ai và chỉ có khái niệm mờ hồ về lịch sử chính trị và xã hội. Nhà báo miêu tả những gì đang xảy ra, hoặc có khả năng nhìn thấy hoặc nhận biết từ những gì đang diễn ra. Nếu như phóng viên gặp may thì ngay  lập  tức gặp  được những  người đứng đắn nếu anh có nhiều kinh nghiệm công tác và có linh cảm và khả năng cảm nhận tâm trạng và nắm bắt được những ấn tượng, hoàn toàn có thể là chúng ta sẽ có được những bài phản ánh và phân tích có chất lượng. Nhưng việc miêu tả  chi tiết và đánh  giá  chúng  phức  tạp  hơn  nhiều  so  với  miêu  tả  sự  kiện.  Trong  đó, những chi tiết không thể so sánh được có tầm quan trọng hơn, đặc biệt nếu
chính những chi tiết này trở thành nguyên nhân của cơn chấn động. Cho tới lúc khi mà những chi tiết chưa được khảo cứu thì những ấn tượng nhất thời của  thực  tế  đã  làm  thay  đổi  tâm  trí  công  chúng.  Nhưng  những  ấn  tượng nhất thời, đôi khi và hoàn toàn thoáng qua nhưng lại hình thành những ấn tượng chắc chắn của hàng triệu người. Còn, các chính trị gia dựa vào tâm trạng của hàng triệu người này, định kiến và đánh giá của họ. Dựa trên cơ sở này các chính trị gia đưa ra quyết định, đôi khi có những quyết định sai lầm.
Mặt khác, trong cuộc chiến Vùng Vịnh lần thứ ba bắt đầu vào ngày 20/3/2003 do Mỹ và liên quân tiến hành xâm lược Iraq. Tại sao Iraq là đất nước có chủ quyền lại bị xâm lược bởi những nước tự coi mình là dân chủ bậc cao? Tại sao quốc hội và nhân dân các nước Mỹ, Anh và liên quân lại đồng tình, ủng hộ cuộc chiến tranh xâm lược này, mà cho đến bây giờ  kết quả thu được  sau cái gọi là “dân chủ, nhân quyền”  với đất nước  này cũng chỉ là cảnh giết chóc, tàn phá, đói rách và tội ác hoành hành?
Vấn đề là ở chỗ, theo Rudolph Kimelli, nhà báo, nhà văn người Đức, phóng  viên  của  tờ  Suddeutsche  Zeitung  có  trụ  sở  tại  Paris,  từng  có  thời gian dài tác nghiệp ở  Trung  Đông  thì  các  phương  tiện  truyền  thông  Mỹ, Anh và liên quân liên tục nhận được những tin tức ngụy tạo từ tình báo Mỹ và Anh rằng, Saddam  Hussein đang sở hữu vũ khí giết người hàng loạt, vũ khí  sinh  hóa  học  và  có  mối  liên  hệ  chặt  chẽ  với  tổ  chức  khủng  bố  AlQaeda. Hàng tháng trời hầu hết báo chí Mỹ-Anh đã rền rã ném cho công chúng Mỹ những tin tức giả tạo như thế, làm cho công chúng ngộ nhận và do đó đã tạo tiền đề ủng hộ để chính phủ Mỹ thực hiện cuộc chiến  xâm lược này. Nhưng sau khi tàn phá đất nước Iraq, giết hại saddam Hussein, Mỹ và liên quân không thể tìm thấy bằng chứng cáo buộc ban đầu. Và ở Iraq lúc đó, ngoài cuộc chiến tranh tổng lực bởi vũ khí hiện đại, cuộc tranh thông tin-tâm lý có vai trò cực kỳ lợi hại. 
Ở đây có thể chỉ ra một số chỉ báo cho thấy báo chí dù vô tình hay cố ý đã vào hùa và kích động chiến tranh ra sao.
Ø  Thứ  nhất, là  công cụ  tuyên  truyền phục vụ  mưu  đồ  chiến tranh của  kẻ  “đi  chinh  phạt”;  trường  hợp  báo  chí  Mỹ,  Anh  phục  vụ  cuộc  xâm lược Iraq năm 2003 là ví dụ tiêu biểu. Hiện nay, các nước lớn tham gia can thiệp vào cuộc khủng hoảng Ukraina cũng đang đổ tiền thuế của người dân nước họ vào việc tuyên truyền gây ảnh hưởng, gây tâm lý hoang mang lo ngại cho đông đảo nhân dân.
Ø  Thứ hai, báo chí dù vô tình hay cố ý phô diễn lực lương quân sự của  “kẻ  chinh phạt” như  một  chiêu  PR nhằm  có  thể  gây  ảnh hưởng  tinh thần cho những “người yếu thế”. Và khi cuộc chiến nổ ra, báo chí chỉ thông tin sức mạnh của nước lớn đè bẹp nước nhỏ và coi đó là chiến   thắng, trong khi lại lờ đi những tổn thất, đau khổ và sự tàn phá do bom đạn của kẻ đi “chinh  phạt”  gây  ra.  Trường  hợp  tiêu  biểu  có  thể  dẫn  ra  qua  cuộc  chiến tranh Kossovo năm 1999 do Mỹ và liên quân gây ra.
Ø  Thứ ba, chỉ đưa tin một chiều từ trung tâm chỉ huy và tận dụng công nghệ số để miêu tả cuộc chiến thỏa  mãn chí tò mò và phục vụ “kẻ chinh phạt”, như trường hợp đã dẫn trên đây. Ví dụ có thể dẫn ra là những cuộc họp báo ở trung tâm chỉ huy cuộc chiến Iraq năm 2003 tại Qatar và những  sản phẩm  thông tin sau đó  được phát đi  của những nhà báo  được mời tham dự.
Ø  Thứ tư, kẻ đi “chinh phạt” sử dụng báo chí-truyền thông như một công cụ để xuyên tạc sự thật chiến tranh dưới nhiều hình thức.
Ø  Thứ  năm,  hầu  như  rất  ít  –  nếu  không  nói  là  thiếu  vắng  những thông tin tư vấn, thông tin chỉ dẫn được phát đi từ các hãng truyền thông lớn để giúp nhân dân trong vùng chiến sự có them lựa chọn có thể để bảo toàn mạng sống hoặc cải thiện cuộc sống; trong khi đó là những thông tin mà họ rất cần.
Hiện nay, các bên tham gia cuộc chiến tranh ở Trung Đông  –  Bắc Phi cũng như cuộc xung đột ở Ukraina đã và đang sử dụng báo chí-truyền thông như một công cụ lợi hại nhằm đạt mục đích chính trị của mình.  
·  Thực tế cho thấy, báo chí-truyền thông khi tham gia cuộc chiến, trong tay kẻ xâm lược, kẻ  mạnh hơn bao giờ cũng tạo dựng bức tranh hiện thức méo mó, thậm chí ngụy tạo, tô vẽ sai lệch vì mục đích chính trị   của những kẻ đi “chinh phạt” dưới vỏ bọc vì dân chủ, nhân quyền. Bởi vì, ở các nước đi “chinh phạt”,  báo chí-truyền thường nằm trong tay các  ông chủ và do đó chính phủ càng dễ bề thao túng; trong khi nó là phương tiện thông tin và lan tỏa ảnh hưởng nhanh chóng và kịp thời nhất, rộng khắp và thường xuyên liên tục nhất, tác động đến đông đảo công chúng xã hội nhất, bới các dạng thức thông tin sự kiện phong phú, sinh động và đa dạng nhất.
·  Cho nên, dưới góc nhìn chính trị, báo chí – truyền thông là vũ khí lợi hại của cuộc chiến tranh; trong nhiều trường hợp như đã dẫn trên đây, là phương tiện và phương thức can thiệp trực tiếp hay gián tiếp như mộ t bên tham  gia  cuộc  chiến.  Trong  những  trường  hợp  như  thế,  báo  chí -truyền thông không thể đứng ngoài cuộc và không liên quan đến tội ác xâm lược, dù ở cách gián tiếp.
3. Báo chí với chiến tranh-nhìn từ góc độ văn hóa và tính nhân văn
·  Cuộc  chiến  tranh  chống  Mỹ  cứu  nước,  giải  phóng  dân  tộc  và thống nhất đất nước của Việt Nam giai đoạn 1954 -`975 đã lưu lại nhiều bài học lịch sử sâu sắc, có ý nghĩa to lớn tầm vóc thế kỷ. Một trong số những bài học đó là vai trò của báo chí trong việc tham gia truyền thông vận động xã hội, huy động sức mạnh tinh thần và ý chí toàn dân tộc, cũng như kêu gọi  nhân  dân  yêu  chuộng  hòa  bình  trên  toàn  thế  giới, dốc  sức  cho  chiến thắng. Đó là thành tựu và bài học của nền báo chí cách mạng Việt Nam giàu bản sắc văn hóa và đậm tính nhân văn.
·  Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, chúng tôi cũng hết sức cảm động và biết ơn nhiều đồng nghiệp báo chí Mỹ cũng như các đồng nghiệp đến từ nhiều nước khác, không quản ngại khó khăn, không sợ cái chết, đã đến tận chiến trường khét mùi khói bom đạn,  đưa tin trung thực về cuộc chiến tranh, đem lại cho nhân dân Mỹ và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên hành tinh bức tranh tội ác ghê rợn nhất lịch sử loài người do Mỹ gây ra cho nhân dân Việt Nam; do đó đã khơi dậy phong trào đấu tranh, hàng triệu người xuống đường trên khắp nước Mỹ, trên khắp thế giới, biểu tình đòi nhà cầm quyền Mỹ chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Như vậy, báo chí-truyền thông đã như phương tiện và phương thức góp phần kết nối sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; đồng thời BCTT như phương  tiện và phương thức can thiệp hiệu quả vấn đề cuộc chiến đặt ra.
Thiết nghĩ, đó là một góc nhìn khai sáng mang đậm giá trị  văn hóa và tính nhân văn của báo chí-truyền thông trong thông tin về  đề  tài chiến tranh. Bởi báo chí đã bằng sự  kiện nóng hổi từ  chiến trường, lên án tội ác, kêu gọi tẩy chay cái ác, bảo vệ  cái thiện và làm cho cái thiện, cái nhân văn chiến thắng và lan tỏa.
Bởi trong một cuộc chiến, thông thường bao giờ  cũng có mâu thuẫn giữa cái ác và  cái thiện, giữa cái phi nhân tính và  cái nhân văn,  giữa cái chính nghĩa và cái phi nghĩa, ...Và đòi hỏi nhà báo cần phải tỉnh táo đứng về  phía cái nhân văn, cái chính nghĩa, bảo vệ  chân lý và lẽ  phải.  Ở  góc độ này, báo chí  -  truyền thông có nhiều phương thức thể  hiện phong phú và sinh động.
·  Ở đây có vấn đề nữa, là vấn đề văn hóa tái hiện chiến tranh. Tức là khi chiến tranh qua đi, chiến tranh lùi xa hàng chục năm, báo chí -truyền thông đảm nhận vai trò tái hiện chiến tranh như thế nào để giúp nhân loại rút ra bài học để loại bỏ chiến tranh ra khỏi đời sống xã hội.
Mọi người đều nhớ rằng, năm 2005 một trong 10 sự kiện nổi bật tại Việt  Nam  được  bình  chọn  là  Chiến  dịch  truyền  thông  mãi  mãi  tuổi  hai mươi  bởi hàng loạt cơ quan báo chí, đi đầu và làm nồng cốt là báo Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh. Chiến dịch truyề n thông này bắt đầu từ hai cuốn nhật ký tuổi 20 của hai liệt sĩ  –chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam  được tìm thấy trong các hầm tác chiến hoặc lưu giữ tản mát ở các cựu binh Mỹ, là liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc và liệt sĩ Đặng Thùy Trâm. Giá trị nổi bật của chiến dịch truyền thông này không phải là tổng kết bài học chiến thắng của quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng,  không phải làm nổi bật chiến tích bên chiến thắng và khoét sâu làm đậm những thất bại của bên bại trận,  mà là chỉ khơi thức và đề cao giá trị nhân văn – sợi dây kết nối giữa những con người giữa hai chiến tuyến của cuộc chiến; và từ góc nhìn văn hóa và nhân văn, báo chí-truyền thông  trong chiến dịch truyền thông này  đã khơi dậy, làm sáng ngời lên chủ nghĩa anh hùng cách mạng của anh Bộ đội cụ Hồ, cũng như khơi thức, kết nối tính nhân văn, nhân loại của các cựu binh Mỹ (và đông đảo nhân Mỹ)  khi nhìn về cuộc chiến tranh này. Do đó, báo chítruyền thông góp phần xây dựng tinh thần hòa hiếu, hữu nghị giữa các dân tộc cũng như giữa hai đất nước vừa thoát khỏi cuộc chiến.
·  Như  vậy,  ở  đây  văn  hóa  tái  hiện  chiến  tranh  không  chủ  yếu nhằm tổng kết bài học chiến thắng, không phục hồi khắc họa bên thắng bên thua, không thể hiện sự hằn học hay cay cú, mà thông qua các sự kiện và dữ liệu bị chiến tranh vùi lấp bởi đất đá và cả xương thịt con người, thông qua các tư liệu tản mát được lưu giữ từ các bên tham gia cuộc chiến bởi các cựu chiến binh, báo chí-truyền thông soi rọi vào đó, vào bức tranh được tái hiện sinh động bởi những gì cũ rách và gần như mất dấu vết, một  tía sáng văn hóa, một góc nhìn nhân văn để nhận diện chân lý và tạo sức hút kết nối con người lại gần nhau hơn; và chính từ đó, phát đi thông điệp tốt lành cho hàng triệu người  trên hành tinh  rằng, chúng ta đều là con người, đều có số phận và đều được mưu  cầu hạnh phúc; hãy xích lại gần nhau và cùng sống trong hòa bình, hữu nghị.  Báo chí Việt Nam thông tin về cuộc chiến tranh giải  phóng  dân  tộc  cũng  như  về  hậu  chiến,  đặc  biệt  là  chiến  dịch  truyền thông “Mãi mãi tuổi hai mươi” là minh chứng tiêu biểu và sinh  động cho góc nhìn văn hóa – nhân văn trong vấn đề báo chí với đề tài chiến tranh.
Báo chí-truyền thông hày là phương tiện và phương thức thông tin giao tiếp góp phần gia tăng những tương đồng và giảm dần sự  khác biệt về nhận thức, thái độ  và hành vi  để  có thể góp phần giảm thiểu xung đột quân sự  hay tránh cho chiến tranh khỏi nổ ra bất kỳ ở đâu. Báo chí-truyền thông hãy là  phương  tiện và  phương thức  kết  nối  các  cộng  đồng, các  quốc gia xích lại gần nhau hơn và hãy là phương tiện và phương thức can thiệp xã hội theo hướng vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ  vì sự  tiến bộ  xã hội bễn vững, vì cuộc sống an lành của người dân.
N.V.D


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Người trong Ngôi nhà xưa bên suối

Tôi viết truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối trong khoảng thời gian gần một tháng, là thời gian kí ức thì gần cả cuộc đời. Không chỉ với ai theo nghiệp văn chương, khi có tuổi hình như con người ta hay sống với hoài niệm. Đời buồn, vui ai chẳng từng, nhưng dù thế nào cũng đều thành vốn sống, chắp cánh ước mơ, hay giúp an ủi lòng mỗi khi cô quạnh. (CAO DUY SƠN)

 
Cám ơn anh bán giày

Cám ơn anh bán giày

Thực tế, bọn bán sách tránh xa bọn bán giày, vì không cùng “phân khúc thị trường”. Nhưng hề gì? Làm nhà văn thật sướng, nhặt anh bán sách nhét vào cạnh anh bán giày, thế là thành truyện. Gì chứ nghề bán sách mình có đầy kinh nghiệm... (TÔ HẢI VÂN)

 
“Con mắt còn có đuôi” của “tình già” hư cấu hay sự thật?

“Con mắt còn có đuôi” của “tình...

Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. (PHAN NAM SINH)

 
Napoléon và tấn bi kịch của quyền lực

Napoléon và tấn bi kịch của quyền...

Mối tình đầu của Napoléon (nguyên tác tiếng Pháp Désirée) là một trong số tác phẩm bán chạy nhất của Annemarie Selinko (1914-1986), tiểu thuyết gia người Áo. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)