Khách mời quán văn: TS. Phan Tuấn Anh

Thứ bảy - 08/08/2015 20:02
Trực quán số này: Hoàng Đăng Khoa
Khách văn: TS. Phan Tuấn Anh

 
1332728021 thotre TS. PHAN TUẤN ANH
 
- Sinh năm 1985 tại Huế
- Hiện giảng dạy tại Khoa Ngữ văn – Đại học Khoa học Huế
- Đã in:
+ Người ngủ muộn (thơ), Nxb Thuận Hóa, 2008
+ Đoản khúc (thơ), Nxb Văn học, 2013
+ Gabriel García Márquez và nỗi cô đơn huyền thoại (chuyên luận),  Nxb Văn học, 2015
- Giải thưởng:
+ Giải Nhì Sinh viên nghiên cứu khoa học toàn quốc 2007
+ Giải Nhất Tài năng khoa học trẻ Việt Nam 2012
+ Giải Tác phẩm xuất sắc của Liên hiệp các Hội VHNT tỉnh Thừa Thiên Huế 2013.


 TS. Phan Tuấn Anh: Chỉ có sự yêu mến của bạn đọc mới gây tạo áp lực cho người viết
- Chúc mừng Phan Tuấn Anh vì sự ra mắt của cuốn sách Gabriel García Márquez và nỗi cô đơn huyền thoại. Thường cuốn sách đầu tiên mà các tác giả phê bình văn học công bố là cuốn tập hợp các bài viết “thập cẩm” của mình đã đăng trên các sách, báo, tạp chí. Phan Tuấn Anh chơi “lẩu độc món” như thế này, kể cũng... độc, nhỉ?

+ Tôi nghĩ việc đứa con đầu lòng của các nhà phê bình, nhất là những nhà phê bình trẻ, được công bố là những cuốn sách tập hợp các tiểu luận có tính “đa bội” hay nói nôm na là “lẩu thập cẩm” cũng là quy luật tự nhiên. Ai cũng khởi đi từ tiểu luận rồi sau đó mới hướng đến chuyên luận, hệt như tập đi từ bước ngắn mới nên bước dài. Cuốn sách nghiên cứu mà tôi lần đầu công bố này, theo một nghĩa nào đó cũng là tập hợp các tiểu luận đã từng đăng tải trên các tạp chí khoa học trước đó, có điều đây là sự lai ghép giữa tiểu luận với chuyên luận, vì có sự thống nhất của đối tượng (G.G.Márquez) và phương pháp tiếp cận đối tượng (lí thuyết văn học hậu hiện đại). Trong thời gian sắp đến, tôi sẽ công bố một chuyên luận khác hoàn chỉnh hơn về G.G.Márquez.

- Hai chuyên luận Quá trình giải phóng thiên tính nữ trong văn học nghệ thuật – từ góc nhìn mĩ học tính dục (Giải Nhất Tài năng khoa học trẻ Việt Nam 2012) và Truyện tranh – một thể loại văn học (Giải Nhì Sinh viên nghiên cứu khoa học toàn quốc 2007) của anh cũng rất xứng đáng để được in ấn, xuất bản như cuốn sách lần này đấy chứ?

+ Nhất định trong thời gian tới tôi sẽ lần lượt công bố chúng. Cuốn sách lần này tôi mất hơn bốn năm tập trung và chuyên chú để thai nghén. Những công trình kia rộng hơn, phức tạp hơn (tôi không nói khó hơn), nên tôi cần nhiều hơn thời gian để hoàn thiện bản thảo. Kinh phí xuất bản cũng là điều đáng lưu tâm vì chúng ta đều biết “cơm áo không đùa với khách thơ”...

- Hấp lực nào hút anh về phía G.G.Márquez?

+ Tôi chọn G.G.Márquez làm đối tượng nghiên cứu trong quyển sách này vừa như là sự ngẫu nhiên, lại vừa như là một định mệnh. Sự ngẫu nhiên ấy xuất phát từ chỗ khi muốn tìm kiếm đối tượng để ứng dụng lí thuyết văn học hậu hiện đại (postmodern) - một lí thuyết mà bản thân ít nhiều thông hiểu - nhằm nghiên cứu, tôi buộc phải bước ra khỏi những con đường quen thuộc, tức những tác giả mà người ta đã quá quan tâm, để đến với nẻo đường của “cái khác” (otherness), tìm kiếm một tác gia hậu hiện đại khác bên ngoài châu Âu, Trung Hoa hay Bắc Mĩ. Còn định mệnh khiến tôi lựa chọn ngay G.G.Márquez nhằm nghiên cứu trong vài năm qua là bởi những vấn đề mà nhà văn này quan tâm, ám ảnh xuyên suốt sự nghiệp của ông như nỗi cô đơn, những chấn thương tinh thần tộc loại, những cổ mẫu văn hóa, những quan niệm về tình yêu, thời gian, quyền lực, thế giới quan... cũng phù hợp một cách tự nhiên và tương thích không cần hàn nối với bản ngã của người nghiên cứu. Tôi nghĩ rằng, bất cứ sự lựa chọn quan trọng nào trong cuộc đời cũng đã bao gồm cả hai mặt ấy, tức mỗi sự kết hợp đều là những hiện tượng ngẫu nhiên, nhưng hình như, nó đã ôm chứa những duyên nghiệp tiền định nào đó khó lí giải.

- Theo anh, vì đâu quá trình tiếp nhận sáng tác của G.G.Márquez ở Việt Nam nhìn chung không gặp phải trở lực nào đáng kể?

+ Tôi nghĩ có cả lí do khách quan và chủ quan. Thứ nhất, về phía khách quan, do G.G.Márquez là một bậc thầy văn chương của nhân loại, một trưởng tràng của văn học hậu hiện đại nói chung và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo nói riêng. Trong khoảng gần 30 năm qua, hiếm có một giải Nobel văn chương nào có tầm ảnh hưởng và sức lan tỏa hơn giải Nobel 1982 của G.G.Márquez. Về phía chủ quan, đây là một nhà văn gần gũi với các phong trào cách mạng vô sản ở Mĩ Latin. Ông công khai ủng hộ phe xã hội chủ nghĩa và là người bạn thân thiết của Fidel Castro. Có lẽ vì vậy, G.G.Márquez dễ dàng vượt qua những tường lửa định kiến và kiểm duyệt, cho dù thực ra mà nói thì thế giới nghệ thuật của nhà văn này là không dễ tiếp nhận và có tính khiêu khích với những lối đọc cũ. Hơn nữa, những tác phẩm của ông được xuất bản ở Việt Nam đa phần là sau Đổi mới, chúng được hưởng không khí dân chủ và cởi mở. Nếu như dịch và ấn hành sớm hơn ở Việt Nam, tôi nghĩ kết cục những sáng tác của G.G.Márquez đã không được vẹn toàn như vậy.
GTS6 15 1 20051  
“Điều đáng nói hơn cả ở Phan Tuấn Anh là sự hăng say đọc, đọc nhiều biết rộng và quan trọng nhất là khát vọng kiếm tìm cái mới, cái khác. Bởi thế, khi nghiên cứu G.G.Márquez, anh không dừng lại ở cái nhìn hiện đại chủ nghĩa, mà tiến tới cái nhìn hậu hiện đại. Không phải như một mốt thời thượng, mà chủ yếu là sự nhạy bén, trực giác, thậm chí viễn kiến.
Tiểu thuyết Mĩ Latin, trong một cái nhìn nông, hoặc do bị đánh lừa bởi thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực (huyền ảo), rất dễ dẫn tới ý kiến cho rằng văn xuôi G.G.Márquez không phải là hậu hiện đại. Cuốn sách của Phan Tuấn Anh theo tôi đã trả lời rốt ráo và thuyết phục cho những ngộ nhận nói trên.”
 
                         PGS.TS. ĐỖ LAI THÚY
 

- Úp chụp lí thuyết hậu hiện đại - một lí thuyết khởi nguồn từ phương Tây - lên những sáng tác của G.G.Márquez - những sáng tác ra đời trên phông nền Mĩ Latin, ban đầu anh có tiên liệu và ngại ngần những tiếng nói kháng cự không?

+ Tôi luôn ý thức một cách sâu sắc sự tương thích giữa lí thuyết và đối tượng nghiên cứu. Không có một đối tượng nào có thể ăn khớp toàn diện và chi tiết với lí thuyết văn học. Khi nghiên cứu, chúng ta buộc phải điều chỉnh lí thuyết cho phù hợp với đối tượng, chú trọng tính bản địa riêng của nó. Cũng như, chính từ thực tiễn sinh động riêng của đối tượng mà lí thuyết được bổ sung, điều chỉnh và làm phong phú thêm. May mắn cho tôi, lí thuyết văn học hậu hiện đại được tôi lựa chọn lại chủ trương đề cao các tiểu tự sự (petit narrative), cái khác (otherness), cái bản địa, cái ngoại biên... nên khá “vừa khuôn” với trường hợp các sáng tác của G.G.Márquez. Kháng cự hay đồng tình là quyền của mỗi người, nhưng trước hết xin hãy đọc kĩ cuốn sách của tôi. Chẳng phải Kinh thánh nói “Khởi thủy là lời” hay sao?

- Từ trường hợp G.G.Márquez, theo anh, giá trị và tính nhân văn của văn học hậu hiện đại nằm ở đâu?

+ Giá trị và tính nhân văn của văn học hậu hiện đại nhìn từ trường hợp G.G.Marquez, theo tôi đó là nó đi tìm chỗ đứng nhân vị cho mỗi cá nhân trong dòng chảy của lịch sử và thời đại. Nó miêu tả vẻ đẹp, nỗi đau, bi kịch và cả sự sa đọa, khoái lạc - niềm ân sủng của thượng đế - một cách giản dị và chân thành nhất. Bằng cách đồng hiện, chồng lớp mỗi cá nhân vào trong cái khuôn diện của gia đình, dòng họ và tộc loại, văn học hậu hiện đại đã phát hiện ra con người với tư cách là những cá nhân độc lập, nhưng đồng thời cũng là sản phẩm tất yếu của sự di truyền huyết thống, của môi sinh môi trường mà họ thuộc về. Văn học hậu hiện đại miêu tả cái bi đát nhưng không làm cho con người tuyệt vọng, bởi vì, những dòng họ “trăm năm cô đơn” dẫu đã tuyệt diệt nhưng vẫn có cơ may thanh lọc giống nòi và làm lại từ đầu, một lần và mãi mãi để tái sinh trên mặt đất này.

- Bằng phổ quan sát của mình, anh có thể đưa ra một cách nhận diện về văn học hậu hiện đại Việt Nam?

+ Tôi nghĩ tương lai của văn học Việt Nam tất yếu chuyển mình theo hướng hậu hiện đại. Hậu hiện đại không đơn thuần là một trào lưu nghệ thuật, một hệ lí thuyết (theory) nữa, mà đã trở thành một hoàn cảnh/điều kiện (condition), một hệ hình (paradigm). Văn học hậu hiện đại Việt Nam đang dần dần vượt lên, bỏ qua những ồn ào thị phi nhằm thể hiện những suy tư nghệ thuật và kết tinh tư tưởng. 

- Sáng tác của G.G.Márquez đậm cảm hứng hư cấu lịch sử. Văn học Việt Nam đang xuất hiện ngày một nhiều tác phẩm mang cảm hứng này và đương nhiên gặp những làn sóng tiếp nhận trái chiều. Quan điểm của anh về hiện tượng này?

+ Trong một tiểu luận đã công bố trước đây, tôi từng luận bàn về xu hướng tất yếu trong văn học đề tài lịch sử nước ta đó là sự chuyển mình từ quan niệm lịch sử như là sự thật sang quan niệm lịch sử như là hư cấu. Thực ra, đây không phải là trò bày đặt, gây scadal của các nhà văn “xuyên tạc” lịch sử, mà là kết quả tổng phổ của một quá trình lâu dài vận động và phát triển của các ngành khoa học nhân văn. Từ triết học ngôn ngữ cho đến triết học về khoa học, từ các trường phái lí luận phê bình hậu hiện đại cho đến triết học lịch sử hiện đại... tất cả đã tạo ra những tiền đề quan trọng dẫn đến văn học chấp nhận lịch sử như là hư cấu. Những phê phán, hiểu lầm hiện nay, theo tôi chỉ là nhất thời. Dĩ nhiên, tôi nói đến hư cấu lịch sử chứ không bàn đến xuyên tạc hay phỉ báng lịch sử. Đó là những phạm trù rất khác nhau.

- Tôi thấy sáng tác của Phan Tuấn Anh cũng rất... hậu hiện đại. Thơ anh, đặc biệt là tập Đoản khúc, ắp đầy cảm thức cô đơn, chấn thương, hoang hoải và đặc biệt là chằng chịt mạng lưới liên văn bản đủ loại, nhiều nhất có lẽ là văn bản lí thuyết văn học. Đoản khúc của anh và trước đó là Những kỉ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung theo tôi là những “ca” thơ đặc biệt thú vị, ở đó, hai thái cực duy cảm (thơ) và duy lí (lí thuyết văn học) đã tương thông, tương thích, mang đến cho thơ một cách thế hiện diện mới/khác, buộc người đọc thơ phải tự trang bị một “tầm đón” mới/khác. Chẳng biết anh có đồng tình với cách đọc này của tôi?

+ Cám ơn anh đã nhìn thấy rõ được cội nguồn sáng tạo thi ca của tôi, đã đọc tôi theo cách mà tôi đón đợi. Thật ra, không có khoảng cách nào và cũng chẳng có mâu thuẫn gì giữa lí thuyết với sáng tạo văn học. Giữa tư cách nhà thơ với nhà lí luận cũng vậy. Nếu như có một nhà lí luận – phê bình nào đó làm thơ dở, thì đó là do anh ta kém tài tư duy sáng tạo, chứ không phải do tư duy lí luận làm hại. Trương Đăng Dung là một ví dụ sinh động và đáng trân trọng cho sự cộng sinh, kết tủa hai loại tư duy logic và tư duy hình tượng. Tôi nghĩ, làm lí luận – phê bình theo một nghĩa nào đó cũng là đang làm thơ. Bởi vì, anh đọc tức là đang viết lại tác phẩm theo chủ ý chủ quan của mình, tức là đang tái sáng tạo, là thừa nhận thân phận và thiên chức đồng tác giả của mình. Khi anh tự làm thơ, chỉ đơn giản rằng anh ý thức mình là người viết đầu tiên, thay vì là người viết thứ hai, người viết đồng hành như khi làm phê bình.

- Anh nhận diện thế nào về phê bình văn học trẻ ở ta hiện nay?

+ Phê bình văn học trẻ hiện nay ở nước ta đối với tôi là điểm sáng đáng ghi nhận và là niềm hi vọng trong khuôn viên văn học trẻ nói chung. Tôi thực sự ngưỡng mộ với các công trình, bài viết của các đồng nghiệp trẻ của mình như Nguyễn Mạnh Tiến, Trần Ngọc Hiếu, Mai Anh Tuấn, Đoàn Ánh Dương... Tôi học hỏi được rất nhiều điều từ họ. Họ đã xác lập tiếng nói khoa học và uy tín nghề nghiệp từ rất sớm, vượt qua những định kiến về tuổi tác. Tôi vẫn luôn nghĩ rằng tuổi trẻ là thời điểm của những cách tân và cách mạng, của sự sáng tạo và bứt phá. Quãng thời gian sau này, chúng ta chỉ làm dày lên thêm, bồi đắp tiếp phù sa cho những khởi hướng đã đặt ra từ tuổi trẻ. Do vậy, với sự nổi bật về tri thức và thái độ khoa học của những nhà phê bình trẻ ngày nay, tôi nghĩ văn học Việt Nam sẽ có hậu vận không đáng lo ngại.

- Các sinh viên khoa văn mà anh đang trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu khoa học có “khả úy” không? Anh có đề xuất gì với các nhà chiến lược giáo dục và đào tạo không?

+ Thực sự khi nhìn vào các sinh viên khoa văn mà tôi đang giảng dạy, hướng dẫn, tôi tin tưởng họ sẽ là lớp kế cận thay thế mình, khi lứa như tôi sẽ dần xơ cứng, bảo thủ và mất khả năng sáng tạo theo đúng quy luật của thời gian. Tuy vậy, tôi cũng thương họ, vì cơ hội để họ kiếm được việc làm để có thể sống đàng hoàng là hiếm hoi, cơ hội để họ tìm gặp được công việc đúng ngành nghề, chuyên môn và giúp theo đuổi niềm đam mê văn chương lại càng hiếm hoi hơn, nếu có thì quá “đắt đỏ”. Nhiều khi tôi cũng buồn bởi cảm giác bất lực. Về đề xuất, tôi chỉ mong chúng ta có một chiến lược tuyển sinh tinh gọn hơn, đừng chạy theo số lượng để rồi cầu vượt cung trong xã hội. Chương trình đào tạo phải sát với thực tế hơn, phải có tính thực tiễn và khoa học hơn, để sinh viên ra trường là có thể nghiên cứu độc lập được ngay, khỏi mất/tốn công xã hội đào tạo lại hoặc mỗi cá nhân tự đào tạo lại mình...

- Học vị tiến sĩ và những giải thưởng, hào quang có gây áp lực cho anh?

+ Khi viết, tôi quay trở về với cái tôi nguyên thủy, với cái mình bên trong và chỉ suy tưởng dựa trên ngôn ngữ. Chính vì vậy, tôi có xu hướng lấy bút danh, nhất là trong phê bình. Tôi không muốn người đọc bị định kiến về cái tên tác giả mà chỉ muốn họ chuyên chú vào con chữ. Học vị hay giải thưởng không khiến tôi bận tâm. Tôi nghĩ chỉ có sự yêu mến của bạn đọc, sự chú ý của họ mới gây tạo áp lực cho người viết. Có được sự yêu mến, quan tâm chú ý của bạn đọc, người viết phải luôn nỗ lực, cầu toàn để có được những phát kiến, ý tưởng độc đáo, mới mẻ và những câu chữ tài hoa.

- Tôi hình dung và cảm thấy... ngợp trước khối lượng sáng tác và nghiên cứu, phê bình văn học của Phan Tuấn Anh vài chục năm nữa...

+ Thời gian vốn hữu hạn và kiếp người thì ngắn ngủi. Biết đâu đấy... Tôi chỉ cố gắng làm tốt từng công trình, và sau khi hoàn thành công trình này tôi lại bắt tay ngay vào công trình khác. Rất may, với tôi, việc nghiên cứu văn học này là một niềm vui, một sự giãi bày và chia sẻ. Điều ấy giúp tôi cảm thấy mình đang tồn tại một cách hữu ích, và thời gian không phải là thời gian bị đánh mất.

- Cám ơn anh đã đến với Quán văn Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Chúc anh sớm hiện thực hóa những dự đồ văn chương của mình.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 3 trong 1 đánh giá
Xếp hạng: 3 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

 
Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Hành trình từ Cao Mật ra thế giới

Từ vùng đất Cao Mật nhỏ bé, nghèo khó và heo hút của tỉnh Sơn Đông, nhà văn Mạc Ngôn đã bước lên bục cao nhất của văn đàn thế giới với vị thế rất riêng của mình: người kể chuyện dân gian trong thế giới hiện đại. (NGUYỄN VĂN HÙNG)

 
Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự gặp gỡ thú vị giữa Victor Hugo và Honoré de Balzac

Hai nhân vật - một nguyên mẫu: Sự...

Hiện tượng thú vị này của tự nhiên dễ khiến người ta liên tưởng đến trường hợp hai nhân vật của hai nhà văn lừng danh nước Pháp là Victor Hugo và Honoré de Balzac. (NGUYÊN MINH)

 
Nhân vật Anna Karenina và sự soi chiếu từ nguyên mẫu đời thực

Nhân vật Anna Karenina và sự soi...

Lev Tolstoy - “con sư tử” của văn học Nga thế kỉ XIX - đã tạo ra những tác phẩm vĩ đại từ chất liệu tươi ròng của đời sống. Mỗi nhân vật được ông khắc họa luôn trở thành những điển hình nghệ thuật bất diệt, có tác động sâu đậm đến mọi tầng lớp xã hội. (NGUYỄN THỊ HỒNG​ HOA)

 
Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu thuyết của Gabriel García Márquez

Pablo Escobar từ đời thực đến tiểu...

Cuộc đời của Escobar là khối mâu thuẫn lớn, bởi sự đối lập giữa thiện - ác, thiên thần - ác quỷ, nhân từ - máu lạnh, do đó, hắn có sự hấp dẫn lớn đối với quần chúng hơn bất kì tên trùm tội phạm nào. (PHAN TUẤN ANH)

 
Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ - nguyên mẫu và nỗi oan của một con người

Tiểu thuyết Bến đò xưa lặng lẽ -...

Trong các tiểu thuyết của tôi, nhân vật chính hay phụ đều được xây dựng từ những chi tiết rất thực mà tôi tích lũy được. Thường thì, chỉ từ một chi tiết rất nhỏ, bất chợt gặp trong đời sống mà tôi hình dung ra tính cách của một con người. (XUÂN ĐỨC)

Quảng cáo